Trang chủ > Văn > Người bà con trong kiếp nào

Người bà con trong kiếp nào

Có một bài viết đăng trên tuoihoa.hatnang.com của tác giả Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh- một cây bút nữ của Tuổi Hoa ngày xưa. Xin mang về đây chia sẻ với các anh chị và các bạn, cách riêng dành tặng cho một tâm hồn rất Nhật Bản.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Pray for Japan!

Em nhìn tôi, đôi mắt tròn quá tròn. Tôi cũng tròn mắt nhìn em. Hơi sững sờ một chút. Em nói :

– Thanh- san!?? Có phải chị là Thanh?

– Dạ phải. Cô là…?

– Tên tôi là Aika. Tôi làm ở phòng bên cạnh ạ.

– Lab ELISA?

– Phải.

Em cúi đầu thật thấp để chào tôi, rồi em đưa ra một xấp hình:

– Nhân viên tiếp tân đưa những tấm hình này cho tôi, vì anh ấy tưởng người trong hình là tôi, nhưng may quá, tôi biết chị làm bên lab này, nên nhận luôn giùm cho chị.

– Cám ơn Aika.

Tôi cầm xấp hình, nhìn mình trong hình rồi nhìn Aika. Cả hai chúng tôi cùng cười. Mấy người nhân viên trong phòng đến xin xem hình, và nói sao chúng tôi giống nhau quá!

Đó là kỷ niệm nhỏ mà tôi mang theo suốt những năm tháng sau này, khi tôi không còn gặp lại Aika nữa. Tôi vẫn không tin vào cái điều làm thế nào lại có một cô gái Nhật Bản có nét mặt giống tôi như vậy. Nhưng quả tình là ai cũng công nhận chúng tôi rất giống nhau, như hai chị em. Sau ngày đầu tiên gặp nhau ấy, Aika và tôi đã làm việc bên nhau trong cùng khoa thí nghiệm. Khi tôi từ giã Tokyo, thì em cũng chuyển về Sendai trong tỉnh Miyagi để làm việc ở một chi nhánh của Hồng Thập Tự Nhật Bản, và sau đó… không có cơ hội biết được tin tức gì của nhau. Thời đó chúng tôi chưa dùng email, mà gọi điện thoại thì lại là một điều không dám nghĩ tới, vì… quá đắt.

Và em là một trong những người bạn Nhật Bản mà tôi quen biết trong hai tháng sống tại đất nước này, năm 1994.

Là Nhật Bản năm 1994! Lần đầu tiên tôi được “xuất ngoại”, sau nhiều lần bị “sang đoạt” học bổng, cuối cùng tôi thi đậu và được đi, mà lại được đến xứ sở của hoa Anh Đào, của mặt trời mọc. Phải, tháng Năm thì không còn hoa Anh Đào nữa, nhưng bù lại tôi biết vì sao mà xứ sở này được gọi là xứ mặt trời mọc. Tôi rất ngạc nhiên khi buổi sáng chỉ mới hơn 4 giờ thì trời đã sáng chói chang. Không thể “ngủ nướng” thêm một chút nào, mà phải dậy đọc sách thôi. Nhìn qua các cửa sổ của tòa nhà cạnh bên khách sạn tôi trú ngụ, có lẽ là một công ty thương mại, nơi mà đến khuya lắc tôi vẫn thấy đèn sáng choang, người đi qua đi lại hồ như làm việc suốt đêm, rồi 4 giờ sáng vẫn có người đi qua đi lại. Một thành phố không ngủ! Bởi vì trời đất như cũng không ngủ.

Là Tokyo lịch sự, trang trọng. Thành phố sạch sẽ. Cái tân tiến đứng cạnh cái cổ kính. Building cao ngất xen lẫn với đền đài có tự lâu đời. Chỉ trừ lúc phải về khách sạn vào chiều tối, ở trong căn phòng mà khi đóng cửa lại thì chỉ còn nghe “tiếng của sự im lặng” o… o… đến nhức tai, còn những khi có thể được tôi vẫn thích đi ra ngoài, để tản bộ ngắm cảnh đường sá, để mua thức ăn, có khi chỉ để nghe tiếng kêu của những con quạ trú ngụ trên những ngọn cây. Vâng, Tokyo đặc biệt có rất nhiều quạ. Loài chim này không xa lạ với những cư dân ở khắp nơi trong thủ đô. Và chẳng bao lâu cũng không còn xa lạ với tôi.

Là những đường tàu metro, xe lửa. Tokyo luôn rầm rập tiếng của xe lửa. Xe chạy trên cao. Xe chạy dưới hầm. Cảm giác của tôi khi sống tại đây là: người dân, và cả những người không phải cư dân của Tokyo nhưng từ các thành phố khác vào làm việc, hết phân nửa di chuyển dưới lòng đất, nếu không, chắc là sẽ không nhích bước nổi.

Là người Tokyo. Vội vã nhưng không chen lấn. Bận rộn nhưng rất đúng giờ. Họ đi như chạy, nhưng không đụng vào ai. Lên xe bus, xe lửa, metro, họ đứng san sát vì xe lúc nào cũng đông nghẹt người, đa số là người từ các vùng khác vào thành phố để làm việc. Vì thường phải mất ít nhất một, hai tiếng đồng hồ trên xe nên họ rất thích nhắm mắt. Ngồi cũng nhắm mắt, đứng cũng nhắm mắt. Tôi thì banh mắt ra và nơm nớp lo sợ mình bị lố trạm thì lạc đường. Nhưng họ, những người “ngủ đứng ngủ ngồi” trên xe ấy, hầu như mở mắt rất đúng lúc, khi tiếng loa trên xe báo đúng tên cái trạm mà họ cần xuống. Họ không bao giờ bị lố. Cũng là người Tokyo, khi chiếc xe lửa hay metro dừng lại ở một trạm, người đứng gần cửa kéo nhau đi xuống dù đó chưa phải là nơi họ muốn xuống, để lấy chỗ trống cho những người dưới bến lên xe hết, rồi họ lại trở vào. Có người không hiểu, cho rằng bày ra như vậy không cần thiết. Nhưng lát nữa, khi họ xuống đúng trạm của họ, sẽ không có cảnh chen chúc xảy ra trên xe.

Người Nhật nói rất nhanh, nhưng họ vẫn có đủ thời gian để chào nhau lịch sự, đủ thời gian để cúi đầu thật thấp, không chỉ để chào, mà để tỏ sự tôn trọng người đối diện trong suốt cuộc chuyện trò.

Và đó là họ, người Tokyo, người Nhật. Và như thế, mọi việc diễn ra hàng ngày, thật bình thường, thật đẹp.

Là Masayuki, người hướng dẫn, người có nhiệm vụ “take care” tôi trong thời gian tôi ở Tokyo, đưa tôi đến nơi ở mới, vì khách sạn chỉ là nơi tôi tạm trú trong một tuần đầu, giá phòng rất đắt. Nơi ở mới, người ta gọi là “mansion”, nhưng không phải “lâu đài”, mà là loại khách sạn nơi đó người cư ngụ có thể tự nấu ăn, và phải tự dọn dẹp trong phạm vi căn phòng của mình. Giá cả cũng rẻ hơn một chút. Masayuki nói:

– Khi nào phải dọn đi nơi khác, khách phải dọn dẹp sạch sẽ rồi mới trả phòng. Lúc đó xin chị cứ gọi tôi đến dọn dẹp giúp nhé!

Tôi hoảng hồn nói ngay:

– Không, không, sao lại thế? Cám ơn anh , tôi làm được ạ! Cám ơn anh!

Masayuki rất dễ mến, nhưng hút thuốc quá nhiều. Anh nói không bỏ thuốc lá nổi. Mà người Nhật cũng hút thuốc dữ lắm. Ở những máy tự động bán snack, tôi thường thấy nam, nữ, người già, thanh niên dừng lại mua thuốc lá. Tôi ở Việt Nam đã quen với cảnh người ta hút thuốc, nhưng nhìn người Nhật hút thuốc tôi có chút ngỡ ngàng. Cho đến hiện tại, tôi được biết tỷ lệ hút thuốc của người Nhật là 37% ở nam giới và 9% ở nữ giới, đã giảm rất nhiều so với ngày đó, nhưng Nhật Bản vẫn đứng trong số các nước có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất trong thế giới công nghiệp hóa.

Gần bước qua tuổi bốn mươi nhưng Masayuki chưa lập gia đình. Anh nói:

– Trước khi làm công việc này tôi đã ở Nepal và đi làm việc tại một làng nhỏ ở chân núi Himalaya. Chắc rồi tôi sẽ trở về đó để theo chân các vị sư, họa may mới bỏ được thuốc lá.

Tôi cười theo anh. Nhưng tôi không chắc là các vị sư ở đó có bị cấm hút thuốc lá hay không. Trong một cử chỉ tin cậy, Masayuki cho tôi xem hình của mẹ anh:

– Đây là mẹ tôi. Bà cụ đang sống trong viện dưỡng lão, với nhiều chứng bệnh chưa cần thiết cho một người ngoài tuổi sáu mươi. Những di chứng hậu quả của bom nguyên tử năm 1945 đấy! Nhưng bà vẫn còn sống. Ba tôi thì đã qua đời. Còn tôi thì thích lang thang.

Masayuki mỉm cười nhưng trông thật buồn. Tôi nghĩ nếu không phải đang ngồi trước mặt tôi, chắc chắn là anh sẽ châm một điếu thuốc. Tôi cũng mỉm cười, bất chợt lòng se lại khi nhớ đến những câu chuyện cha mẹ tôi thường kể về khoảng thời gian năm 1945, khi cha mẹ tôi mới cưới nhau chưa có con cái, khi nạn đói xảy ra tại Việt Nam làm cả triệu người chết, khi những người thuộc thế hệ cha ông của Masayuki đến đất nước của tôi bằng những bước chân chinh phục…

Người anh em, người bà con đang “take care” tôi trong thời gian tôi tu nghiệp tại Nhật, với tuổi đời khá đủ để hiểu đôi điều về lịch sử, cũng như tôi, chắc cũng đăm chiêu với ý nghĩ về những cuộc thăng trầm, dù lúc đó chúng tôi còn ở tận đâu đâu.

Chúng tôi cùng im lặng.

***

Là những người dễ thương của khoa xét nghiệm. Từ người trưởng phòng và cũng là người nhiều tuổi nhất trong khoa cho đến các nhân viên trẻ măng. Họ thật nhiệt tình và dễ mến. Ai cũng gọi ông trưởng phòng là “sensei” (thầy). Vậy mà chỉ trong ngày đầu tiên nhận tôi vào làm việc, ông đã hỏi tôi ngay:

– Thanh- san! (san là ông, bà, cô, anh, chị…, người Nhật hay gọi như vậy giống như người Việt thường đặt ông, bà, cô, anh, chị… trước cái tên). Chị có dạy học trò không?

– Dạ có, thưa sensei! Tôi không có danh hiệu giáo sư, tiến sĩ chi cả. Nhưng tôi có học trò, tôi có giảng bài ạ!

Ông nói ngay:

– Như vậy chị đã là sensei. Chúng tôi tôn trọng những người đứng lớp, truyền bá kiến thức cho người khác.

– Cám ơn sensei!

Tôi chạnh nhớ đến câu “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” của người mình.

Nhưng ông không nói giỏi tiếng Anh. Tôi lại không rành tiếng Nhật, mà cũng không bị bắt buộc phải học tiếng Nhật, vì tôi chỉ tu nghiệp 2 tháng với học bổng của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), có thể sử dụng tiếng Anh để làm việc. Vì vậy tôi luôn có người thông dịch trong sở nếu gặp người không thể nói tiếng Anh. Tôi rất khâm phục nền khoa học của nước Nhật vì họ tự lực cánh sinh rất nhiều, sách vở tài liệu toàn chữ Nhật, máy computer dùng toàn chữ Nhật, cần thiết lắm thì họ mới in tài liệu tiếng Anh dành cho khách ngoại quốc. Tôi rất may mắn có đầy đủ trong tay những văn bản tiếng Anh. Nhưng có một điều đáng nể nữa, là họ không chấp nhất bắt phải dịch tất cả ra chữ Nhật đối với những từ ngữ chuyên môn, cho nên tôi dễ dàng tìm thấy nguyên ngữ tiếng Anh như “antibiotics, vitamin, antigen, antibody v.v…” trong tài liệu tiếng Nhật của họ. Hai đặc điểm hầu như có vẻ mâu thuẫn này là câu trả lời cho thắc mắc tại sao đất nước Nhật Bản có thể tiến rất nhanh và rất xa sau khi hai quả bom nguyên tử trút xuống vào năm 1945 như vậy.

Là những con người cần cù trong các lab của khoa xét nghiệm về các bệnh lây truyền qua máu. Tôi ngạc nhiên nhưng cũng tự trả lời được vì sao một đất nước robot- hóa như Nhật Bản mà trong phòng thí nghiệm vẫn còn dùng những bộ “agitator” thủ công. Tôi, ngoài những lúc dùng micropipet tự động, còn phải tập “xoe” bộ “đồ nghề” dùng để pha loãng này, và mến phục những cô kỹ thuật viên khéo léo, thoăn thoắt bàn tay như thể đang múa những chiếc kim đan.

Là Trung tâm Truyền Máu Trung ương của Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, một cái tên rất dài, Japanese Red Cross Central Blood Center, nơi tôi đến học và làm việc. Là những chi nhánh Hồng Thập Tự ở lân cận thủ đô. Tôi cảm thấy mình nên làm một cái gì cho những nơi tiếp nhận mình, cho người Nhật, vì vậy tôi xin được hiến máu.

Ôi! Tôi không được như ý! Vì khi bước lên chiếc cân, tôi không đủ 40 ký lô! Một cô kỹ thuật viên chuyên lấy máu an ủi tôi:

– Nguyên tắc của chúng tôi là không lấy máu của người dưới 40 ký lô, xin chị đừng buồn. Chị còn nhiều cách để giúp chúng tôi mà!

Tôi đành phải dẹp ý tưởng hiến máu.

Những người đi hiến máu cho Hội Hồng Thập Tự nhận một cái móc khóa lưu niệm của Hội, thế thôi, và tươi cười ra về.

Tôi thấy mình còn nợ đất nước này một cái gì…

***

Là thầy tôi bên N.H.I., Viện Sức khỏe Quốc gia tại Tokyo. Tôi lại chuyển qua một “mansion” khác, để gần với N.I.H. cho đỡ mất thời gian đi và về. Nói là “gần” nhưng tổng cộng thời gian đi bus và metro rồi đi bộ thêm một khúc đường nữa cũng hơn cả tiếng đồng hồ. Tôi học được thói quen lên xe thì nhắm mắt lại, sau khi đã yên tâm là mình không sợ lạc nữa. Tôi học cách đi thật nhanh mà không mệt. Nhưng nói nhanh như người Nhật thì không. Mấy bạn Nhật hỏi tại sao người Việt Nam nói hơi chậm, tôi có dịp giải thích cho bạn là tuy có nói nhanh cách mấy cũng không thể nhanh quá, vì tiếng nước tôi là tiếng “đơn âm” (monosyllable), không phải “đa âm” (polysyllable) như tiếng Nhật hay tiếng Anh, tiếng Pháp… Các bạn thấy thú vị lắm. Các bạn cũng nể phục khi nhìn thấy chữ Việt, loại chữ dùng mẫu tự La-tinh. Tôi lại có cơ hội để nói một hơi về công lao của những vị học giả đã có công xây dựng loại chữ viết dễ học này, một sản phẩm có một không hai của Á châu.

Thầy dạy về HIV của tôi là một nữ giáo sư. Bà rất tận tụy, lại rất dịu dàng nên thầy trò tôi rất hợp nhau. Chính vì nể trọng bà quá nên khi bà đưa tôi đi ăn món “cá sống” và những loại hải sản sống khác, tôi phải luôn miệng khen ngon vì biết họ chỉ đãi khách quý những món ăn sống đó. Còn ở sở làm việc thì tôi vẫn thường ăn các món ăn nấu chín như thức ăn của người mình thôi. Ôi! Tôi còn nhớ cảm giác khi cho những thức ăn sống vào miệng, trợn mắt nuốt, miệng tươi cười, không dám tỏ vẻ gì làm thầy buồn. Tôi tự nhủ: “Ráng lên! Chỉ có vài dịp thôi mà!”

Thầy tôi đưa tôi đi Tokushima, nằm trên đảo Shikoku, rồi giao tôi cho những người ở đó “chăm lo” cho tôi trong thời gian tôi học tại một công ty dược phẩm tư nhân, công ty Otsuka. Đêm đầu tiên ở Tokushima, tôi về phòng, viết thư cho Ba tôi:

“Ba ơi, khi con nhìn thấy cây cầu treo Naruto hùng vĩ nối đất liền với hòn đảo nơi đây, một cây cầu dài, cao và diễm lệ, con không ngăn được nước mắt Ba ạ! Vì thấy cây cầu này con lại nghĩ đến những cây cầu xiêu vẹo và không an toàn ở xứ sở mình. Người ta xây dựng bao nhiêu nhà cao cửa rộng ở thành thị nhưng không bao giờ xây nổi một cây cầu xi măng cho dân ở thôn quê, để tồn tại biết bao nhiêu cầu tre lắc lẻo, thậm chí những cây cầu khỉ, những cây cầu bằng thân cây dừa trơn trợt…”

Khi đến nơi đây tôi lại làm quen với một chỗ ở mới. Là một “dorm” dành cho nhân viên và học viên của công ty Otsuka. Bây giờ thì không phải là khách sạn mà cũng không là “mansion”. Phòng ngủ rất đẹp, nơi giặt giũ cũng rộng rãi. Quần áo sáng chỉ cần giặt rồi cho qua máy sấy, chiều về đã thấy quần áo khô ráo để trên mặt máy sấy rồi, người khác đã đến dùng máy và thu xếp giùm cho mình mà không bao giờ sợ mất. Nấu ăn thì không lo vì tôi đã có thể ăn trong cafeteria của sở. Nhưng còn một phần “nguy hiểm” đối với tôi: đi tắm. Ồ! Đi tắm thì có gì mà nói? Nơi ở đã tuyệt vời thế kia thì tắm táp đâu có thành vấn đề! Nhưng không, với tôi, là cả một vấn đề. Vì tôi không tìm đâu ra một phòng tắm riêng. Các vị phụ nữ tắm chung trong một phòng tắm khổng lồ, với những vòi sen gắn dọc theo các bức tường, và rồi cùng xuống vẫy vùng trong một cái hồ thật lớn, Trời ạ!!!

Tôi không dám thổ lộ với ai về “nỗi đau khổ” này. Nhưng thầy tôi rất tinh ý, bà hỏi tôi có phải khó khăn lắm không, vì bà biết người Việt Nam không có tập quán đó. Tôi đành công nhận điều khó nói này. Thầy bảo sẽ nhờ công ty thu xếp cho tôi một chỗ ở khách sạn, nhưng tôi không chịu, tôi hứa sẽ “xoay sở” được. Thầy quay lưng đi, tôi lại đau khổ tiếp. Tôi không thể nào làm như họ được. Tôi vốn tính mắc cỡ mà! Làm sao đây? Trời thương xót tôi, tôi đã tìm ra, ngay trong phòng tắm khổng lồ ấy, một góc nhỏ có một tấm màn kéo lại, trong góc ấy có hẳn một vòi sen. Tôi thật như được cứu sống, sung sướng với cái “giang sơn” riêng biệt của mình.

Sau này, khi một người bạn mời tôi về nhà của chị ở chơi một ngày, tôi cũng có dịp thấy cái hồ tắm chung của gia đình người Nhật, vợ chồng con cái cùng tắm chung trong đó.

Là những em bé Nhật Bản má phinh phính hồng hồng, vô tư hồn nhiên thụ hưởng tất cả những gì mà cuộc sống ở đất nước thanh bình phồn thịnh này mang lại cho các em. Người còn sức trẻ thì miệt mài học hành, làm việc, chạy đua với cái đồng hồ. Nhưng tôi đã thấy, trên vầng trán và ánh mắt của những người già, chưa phai dư ảnh của những nhọc nhằn trong quá khứ. Bà cụ mẹ của người bạn tôi, khi theo chúng tôi đi chơi, dừng lại trước những tấm bảng trưng bày cảnh hoang tàn của Hiroshima và Nagasaki sau cuộc thả bom nguyên tử năm 1945, lặng lẽ lau nước mắt. Rồi như nuốt vội nỗi buồn vào trong, bà lẩm nhẩm hát một bản cổ nhạc. Vậy rồi cũng có một lúc bà kể hết cho tôi nghe thời thơ ấu của bà, khi chiến tranh xảy ra bà là cô bé lên mười, gia đình ở Hiroshima tan nát chia lìa, bà theo người bà con chạy qua Tokushima từ đó.

Là Tokushima, thanh bình, êm ả. Không vội vã như nếp sống ở Tokyo. Mọi người đi xe hơi riêng. Ít thấy người đi san sát, ít nghe tiếng xe cộ rập rình. Ngày nghỉ, mọi người đi cable lên vãn cảnh chùa trên núi cao đầy những cây cedar, hoặc đi tàu lớn ra thưởng thức whirlpools ở Naruto, hưởng hết cái cảm giác khi con tàu dừng lại ở một chỗ không chạy được mà cuốn tròn trong một xoáy nước. Ngoài nơi làm hàng mỹ nghệ với vải nhuộm Indigo độc đáo, còn một nơi nữa, nơi đã cho tôi cảm nghĩ về tính ưa chuộng hàng thủ công của người Nhật. Tất cả những gì được làm thủ công, “hand-made”, người Nhật rất quý. Đó là một nhà máy làm đường bằng phương pháp thủ công, nhưng cơ ngơi thì như một nhà máy tối tân vậy. Ở xứ mình, mọi người vẫn coi đường chỉ đơn giản là một loại thức ăn, một thứ gia vị, không có gì đặc biệt. Tôi dù sao cũng vẫn không quên những ngày tháng sau 30 tháng tư 1975, có những khi thèm ăn ngọt khủng khiếp, phần vì do mọi thứ đều khan hiếm, phần thì do thiếu ăn nên cơ thể lúc nào cũng thèm ngọt. Đường lúc đó là “nhu yếu phẩm”, thậm chí là “xa xí phẩm”. Đêm nào tôi cũng phải nấu một lon “ghi gô” chè để ăn thì mới thấy không tội lỗi với chính mình! Nhưng rồi, mọi người cũng dễ dàng quên đi cái thức ăn, cái gia vị đã một thời là nỗi ao ước. Thế mà, tôi không thể ngờ, khi tôi mua một hộp kẹo đường từ nhà máy làm đường ở Tokushima, giá rất đắt, về tặng các bạn ở công ty Otsuka, mọi người xúm lại, hân hoan thấy rõ. Mỗi người nâng niu một chiếc kẹo đường trong bàn tay, ngắm nghía, rồi từ từ bóc lớp giấy đẹp đẽ bọc ngoài, vừa thưởng thức vừa trầm trồ như thể những viên kẹo đường kia là cao lương mỹ vị. Sau này tôi mới nghiền ngẫm ra được rằng người Nhật Bản thích ăn đường không chỉ vì ái mộ hàng thủ công, lại càng không phải vì thiếu thốn…

Tôi trở lại Tokyo sau khi đã học xong về R.I.A., kỹ thuật miễn dịch phóng xạ. Cũng đã làm quen với cảnh “đếm” độ phóng xạ với một thiết bị nhỏ như cây bút mang trong túi áo mỗi khi đi vào phòng thí nghiệm. Trên đường về tôi còn được ghé cố đô Kyoto để dự lễ hội Gion nhân một ngàn hai trăm năm xây dựng cố đô, được hòa cùng dòng người cuồn cuộn chìm ngập trong rừng xe hoa trang trọng, được thấy những đền đài cổ kính và phố sá nhộn nhịp, được vào trú ngụ trong khách sạn “Ba chị em” (Three sisters’ Inn) hoàn toàn phong cách Nhật.

Ngày tôi rời Tokyo, vẫn là Masayuki đưa tôi ra phi trường. Không đơn giản xem anh như người có nhiệm vụ hướng dẫn đường đi nước bước cho mình, tôi xem anh như một người bà con, có duyên tôi đã gặp.

– Thanh- san! Hẹn gặp lại chị. Sayonara!

– Masayuki- san! Tạm biệt. Bao giờ anh qua Nepal, nhớ cho tôi biết.

– Vâng.

– Bao giờ anh bỏ thuốc lá được, cũng nhớ cho tôi biết.

– Chắc chắn.

Ôi! Tôi không thể nào quên được đất nước này. Trong nhiều năm sau nữa, tôi vẫn thấy như mình còn nợ nơi đó một cái gì. Bởi tôi còn nhớ, nhiều lúc đang đi trên đường phố tại Nhật Bản, tôi nghe một tràng tiếng Nhật, mà thật đáng tội là tôi đâu có hiểu tiếng Nhật nhiều, tôi phải trả lời bằng tiếng Anh rằng tôi không phải là người Nhật. Nếu may người kia hiểu tiếng Anh, họ sẽ bảo rằng tôi trông giống người Nhật lắm. Ai cũng nói như vậy cả. Tôi đã là người Nhật trong một kiếp nào chăng?

***

Trong nhiều năm sau nữa, một ngày kia tôi tình cờ xem một DVD phim hoạt họa “Grave Of The Fireflies”, tôi đã khóc ròng khi trông cảnh hai anh em mồ côi sống trong những ngày tháng cuối cùng của Thế chiến thứ Hai ở đất nước Nhật Bản, lúc thành phố Kobe đang bị quân đội Đồng Minh dội bom. Là Seita và Setsuko. Đứa anh và đứa em gái. Áo quần tả tơi, đói khát, lang thang trong những hầm trú bom, hai anh em sống lây lất nhờ những thức ăn thừa. Gia tài còn lại cuối cùng của chúng là một cái lon đựng kẹo, loại kẹo đường có mùi trái cây, kẹo Sakuma, và chúng đã bắt những con đom đóm bỏ vào đầy cái lon không. Ngọn đèn đom đóm ấy có thể chiếu sáng căn hầm mà hai anh em trú ngụ. Nhưng qua hôm sau cô bé Setsuko hoảng sợ khi thấy những con đom đóm đều chết hết. Cô bé đào một cái huỵêt để chôn bầy đom đóm ấy. Và khi không còn thứ gì để ăn, anh Seita phải đi ăn trộm hoa màu ở những nhà của nông dân gần đó và ăn trộm cả đường nữa. Nhưng cuối cùng, ngay thời điểm Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, em Setsuko chết vì suy dinh dưỡng trầm trọng. Trong cơn hấp hối, em mút những viên bi đủ màu mà ngỡ đó là những viên kẹo trái cây. Em đưa cho anh những “nắm cơm” mà thật ra chỉ làm bằng đá. Em chết mà chưa kịp ăn bữa cơm do anh nấu vội. Một người nông dân cho anh vật liệu để anh thiêu xác em. Anh đặt một ít tro tàn của em vào chiếc lon kẹo trái cây và mang theo bên mình, cho đến khi anh cũng chết vì đói lạnh tại một nhà ga xe lửa. Chỉ có một chút vui ở cuối phim, là cảnh hai anh em họ, đúng ra là hai linh hồn, không còn rách rưới, không còn đói khát, ngồi bên nhau trên thiên đường và nhìn xuống quang cảnh một thành phố Kobe tráng lệ thời hiện đại.

Ôi! Người Nhật không bao giờ quên quá khứ, cho nên họ nâng niu trân trọng những viên kẹo đường.

***

Bây giờ đây, khi nước Nhật đang trải qua một tai họa khủng khiếp gồm cả động đất, sóng thần và hạt nhân, tôi nghe trái tim tôi đau đớn như đứng trước nỗi bất hạnh của người thân. Vâng, tôi yêu đất nước mặt trời mọc đó, đất nước của những con người siêng năng và giàu lòng tự trọng. Là đất nước chứa chan những bài hát hòa bình vì đã từng trải qua đau thương từ chiến tranh. Là đất nước hứng chịu thiên tai triền miên. Thật xót xa khi nghe một nhà khoa học đã nói: “Trái đất của chúng ta chịu một áp lực khủng khiếp từ trong lòng đất, nó phải bung ra ở một nơi nào đó. Và… nó đã bung ra tại Nhật Bản. Khi Nhật Bản gánh chịu đại nạn này, phần còn lại của thế giới đã được an toàn hơn!!!”

Tôi vẫn thấy mình còn nợ đất nước đó một cái gì! Một món nợ tình cảm thật thiêng liêng. Và cả thế giới cũng có món nợ đó. Thế giới đã học được ở người dân Nhật Bản tính can cường chống chọi với khó khăn trong tai họa, sự chịu đựng nghịch cảnh và tinh thần thượng tôn luật pháp. Trên cả những điều đó, là tấm lòng nhân ái, hy sinh. Họ nuốt nỗi đau của riêng mình vào tận trong sâu thẳm của tâm hồn để an ủi người khác, để cùng đối diện với hậu quả tang thương. Và nếu cần, họ cũng sẽ can đảm hy sinh để cho người khác được sống an toàn.

Trong những lúc dán mắt lên màn hình TV tìm kiếm, tôi như đã bắt gặp vô số những em gái Aika, em gái hao hao giống tôi như người chị em của kiếp nào. Em đang bước trên đống đổ nát, tìm kiếm người thân, tìm kiếm những vật dụng hay đồ kỷ niệm của gia đình. Đôi mắt em tròn quá tròn! Tôi cũng đã bắt gặp nhiều lắm, những Masayuki đang ra sức dọn dẹp những mảnh vỡ nhà cửa, những bùn đất di tích của làn sóng dữ để lại. Anh không phải đi Nepal. Nơi mảnh đất của tổ tiên anh, anh đã đắc đạo.

Cô giáo Taylor Anderson, cư dân của Virginia Hoa Kỳ, đến Nhật Bản dạy Anh văn trong ba năm tại các trường tiểu học của thành phố Ishinomaki, tỉnh Miyagi, một trong những khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất ở phía đông bắc Nhật Bản. Người ta nhìn thấy cô Taylor lần cuối ngay sau khi động đất ngày 11 tháng 3 năm 2011 xảy ra, cô đã nán lại để giao hết học sinh vào tay cha mẹ các em rồi mới yên tâm lên xe đạp chạy đi. Cô đã hy sinh trong trận sóng thần. Còn bao nhiêu người nữa đã đến Nhật Bản đóng góp và sẻ chia. Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ và những cơ quan từ thiện khác cũng sẽ làm nhiệm vụ nhân đạo, giúp đỡ cho người Nhật Bản. Dưới mái nhà chung, trên nền đất chung là trái đất này, số phận chúng ta gắn liền với nhau như trong một vòng tròn sinh tử. Nếu tin là con người có nhiều “kiếp”, tôi sẽ tưởng tượng trong một kiếp nào đó có thể tôi đã từng mang thân phận một người phụ nữ chưa hề được nhìn thấy trọn vẹn ánh ban mai vì từ đầu đến chân bị che kín, chưa hề được bước chân đến trường hay vào rạp hát. Cũng có thể ở một kiếp nào tôi sẽ là em bé Phi châu lem luốc sống trong một bộ tộc ít ai biết tới, ngày ngày chơi đùa với bầy thú trên sa mạc. Một kiếp nào nữa tôi và em Aika sẽ là hai chị em ruột trong một mái gia đình. Tôi cầu nguyện cho linh hồn của những người bị sóng thần cuốn trôi ra biển một ngày nào đó sẽ trở lại làm người dân sống trên mảnh đất xinh đẹp của họ, nhìn thấy một đất nước Nhật Bản rực rỡ tốt đẹp và an lành hơn nhiều. Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho một Nhật Bản luôn luôn mạnh mẽ, và cho tất cả những người trên thế giới này được có một trái đất bình yên.

(nguồn)

Advertisements
Chuyên mục:Văn Thẻ:
  1. ha linh
    07/05/2011 lúc 22:04

    Nàng Phay, thỉnh thoảng HL đi dạy nấu ăn cho các Community Hall ở đây, dạy có 2 tiếng thôi và dạy nấu ăn mà mọi người cũng gọi HL là sensei đó, nếu gặp ở đâu cũng gọi luôn HL là sensei!

  2. ha linh
    07/05/2011 lúc 22:06

    những con quạ trú ngụ trên những ngọn cây
    ——–
    đúng thế nàng Phay, đôi khi cũng khốn khổ vì quạ, ở những bãi tập kết rác buổi sáng khi xe chở rác chưa đến mà k có cái lưới ngăn thì thôi rồi, các bác quạ cứ là kéo đến hàng đàn..chim khác thì khỏi nói, ỡ town của HL có những nơi chim đỗ đen đặc cả cành cây, đi dưới đó thì khốn khổ, cứ là lãnh trọn bao nhiêu sản phẩm đầu ra của các bác chim

    • 07/05/2011 lúc 23:00

      Đất lành chim đậu. Như thế là còn giữ được cân bằng sinh thái của các loài. VN mình giờ có thấy nhiều loài chim như trước kia đâu. Nghĩ lại hồi chăn trâu, bắt chim, bắt ong… mà thấy nhớ tuổi thơ của mình quá HL à 😀

  3. ha linh
    07/05/2011 lúc 22:14

    người ta gọi là “mansion”, nhưng không phải “lâu đài”,

    Mansion là cách gọi các căn hộ chung cư.
    Loại mansion mà tác giả ở gọi là weekly mansion cũng được vì dành cho người thuê tuần, tháng, vài tháng mà không mấy deposit hay các khoản phưc tạp khác đó nàng Phay.

    • 08/05/2011 lúc 23:06

      Điều này thì đúng vì anh cũng được vài cô mời đi nghỉ trưa, nhưng họ bắt anh trả tiền nên anh byebye liền ! 😀

      • 09/05/2011 lúc 23:01

        Không đúng! ai lại đi bắt người lao động phải trả tiền. Vô lý ! 😀

    • 09/05/2011 lúc 11:58

      Các nhà nghỉ cho khách thuê theo giờ làm chi đó hè?

    • ha linh
      09/05/2011 lúc 14:23

      Ở Nhật có các love hotel là thuê theo giờ hay nửa ngày, một ngày nàng Phay ạ. Bởi vì quy định giá thuê và mục đích sử dụng rất chặt chẽ nên ” cái gì ra cái nấy” chứ không nhộn nhạo như mình.
      Weekly mansion như tác giả bài viết ở là dành cho những người ở ngắn hạn, tiền thuê rẻ( vì nếu thuê căn hộ thật sự thì phải trả thêm tương đương với chừng 4 tháng tiền thuê nhà, thủ tục nhiêu khê), có các tiện nghi cần thiết.

  4. 07/05/2011 lúc 23:04

    Đúng là có những người rất giống nhau, tuy rằng không cùng máu mủ ruột rà em nhỉ?

    • 09/05/2011 lúc 23:23

      Vậy em mau qua nhà chị kẻo nhỡ ra đường không nhận ra nhau, uýnh nhau biêu đầu mẻ trán thì nguy.Mà em cũng cho chị được xem cận cảnh hình của em đi chứ, ai lại cứ cho nhìn xa xa thế thì làm sao mà nhận ra được.

  5. 08/05/2011 lúc 07:57

    Những hồi ức của một người đã từng sống ở Nhật Bản thật đẹp. Cách viết tình cảm giống như họ đã coi NB chính là quê hương của họ…
    Chúc chị Phay cuối tuần vui nhé! 😀

  6. nguyen thi nha trang
    08/05/2011 lúc 12:54

    @ Phay Van & Hà Linh : ” …cách riêng dành tặng cho một tâm hồn rất Nhật Bản .”
    Chia vui và chúc mừng Hà Linh !
    Ha Linh chan , kimiga nihonjin mitai ne !

    • ha linh
      08/05/2011 lúc 19:38

      Dạ, em chào chị Nha Trang, chào nàng Phay!
      Cảm ơn nàng Phay nhiều?
      Chị Nha Trang hôm nay Chủ Nhật có đi chơi đâu không ạ?
      Mai lại tiếp tục nói chuyện với chị và nàng Phay!
      Chúc 2 người buổi tối an lành!

  7. nguyen thi nha trang
    08/05/2011 lúc 13:09

    @ Phay Van : Lúc ở entry : ” Họa sĩ ViVi và bìa báo Tuổi Hoa ” em có nhắc chị Tác Giả này trong 1 comment ; chị nhớ loáng thoáng là có đọc của chị ấy , hình như là 1 vài truyện ở BNS Tuổi Hoa – chị không chắc lắm tựa đề ? : – Khung kính vỡ và chiếc nhẫn …,- Nữ Chúa ,- Phiên khúc ngày mưa ….viết cho tuổi học trò , đúng không em ?
    Nếu còn lưu trữ và có thời gian em có thể đăng các truyện của Chị Ấy , để mọi người có dịp đọc !
    Được chứ Phay Van ?

  8. nguyen thi nha trang
    08/05/2011 lúc 13:46

    Chỉ trong 1 chuyến đi tập huấn chuyên môn ngắn của mình – 2 tháng – ở Xứ sở Hoa Anh Đào , Tác giả đã cho người đọc thán phục về sự Quan Sát tinh tế của mình :
    * Vì sao xứ sở này được gọi là xứ mặt trời mọc .
    * Người Tokyo , vội vã nhưng không chen lấn . Bận rộn nhưng rất đúng giờ . Họ đi như chạy nhưng không đụng vào ai .
    * Cái tân tiến đứng cạnh cổ kính .
    * Hai tiếng đồng hồ trên xe , nên họ rất thích nhắm mắt , ngồi cũng nhắm mắt , đứng cũng nhắm mắt .
    ….v..v….

    Điều ấy cho ta thấy Tác Giả là 1 người rất ham học hỏi , thích quan sát , tìm hiểu …trong phạm vi thời gian có thể trong chuyến tập huấn
    của mình , chứ không phải là người quan sát hời hợt kiểu ” cưỡi ngựa xem hoa ” của 1 số người không phải là ít , khi có dịp ra ngoại quốc , về rồi
    hay ” nổ văng lung tung miểng ” !

    • ha linh
      08/05/2011 lúc 19:39

      Chị Nha Trang nhận xét đúng đấy, mai em sẽ kể cho chị vài ba câu chuyện !

    • ha linh
      09/05/2011 lúc 14:35

      Chị Nha Trang, nàng Phay@ hàng năm Chính phủ NB bỏ ra rất nhiều tiền để mời các cán bộ các cấp của Việt Nam sang Nhật dự các lớp đào tạo về kỹ năng quản lý mọi mặt, khổ nỗi người Nhật thì họ làm thật mà VN mình thì xem đó là những cuộc du lịch không mất tiền!
      Em nghĩ những người ham học hỏi, thích quan sát, tìm hiểu như tác giả bài viết thì rất ít. Em thi thoảng có đi hướng dẫn cho những người sang công tác và dự các lớp huấn luyện như em nói ở trên. Thật sự nhiều khi em xấu hổ lắm, thay cho để ý và quan sát người bản xứ ứng xử ra sao để ” nhập gia, tùy tục” thì mọi người cứ bàn tán những chuyện đâu đâu, hoặc là người bản xứ ứng xử sao thì kệ , “việc mình, mình cứ làm”, ví dụ người Nhật lên tàu họ rất trật tự, có thể tranh thủ ngủ bù, đọc sách hay chuyện trò đủ nghe, người mình thì thôi rồi, kể cả ngồi 2 bên hàng ghế cũng vô tư trao đổi với nhau y như chốn không người!điện thoại di động bị cấm trên tàu nhưng mà thôi rồi, người nhà mình thì cần là cứ rút điện thoại ra, khuỳnh khoàng a lô, a lố! Nhiều khi nhắc hoài cũng ngại vì mọi người cũng lớn tuổi rồi.
      Các đoàn của mình sang hay được bố trí đi mua sắm lắm, em có lúc nghĩ hơi bực bội, tại sao người Nhật lại xem thường người thương nhân Việt vậy, sao không bố trí cho đi xem các bảo tàng, các di tích văn hóa, lịch sử nổi tiếng nhiều nhiều mà chủ yếu là shopping, không lẽ họ chỉ là cái máy tiêu tiền hay sao? nhưng quả thật sau mấy lần tiếp xúc thì em cũng thấy là mọi người không mấy mặn mà với việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa..Đi sang Nhật là chụp mấy kiểu ảnh ở mấy nơi nổi tiếng, mua sắm mấy thứ đồ hiệu để về khoe là đã đi Nhật rồi.Đi Nhật là để thêm vào số nước đã đặt chân đến cho oai.
      Duy nhất có một lần, một chị giáo viên tiêng Nhật gặp em thì hỏi đủ thứ về văn hóa, đời sống Nhật…em nhớ mãi..vì đặc biệt!

  9. 08/05/2011 lúc 15:39

    Chẳng bao lâu nữa, khi rừng VN không còn là rừng vàng mà là đồi trọc, các loại khoáng sản đã moi lên bán hết, lúc đó các loại ký sinh trùng không còn gì để ăn nữa, có lẽ là khi người VN sẽ bắt đầu học cách đứng lên từ đổ nát …

  10. ha linh
    09/05/2011 lúc 14:39

    Sáng nay HL đi ra ngoài về, từ xa nhìn thấy một bác già bị ngã xe đạp, ngay lập tức mọi người chạy lại đỡ bác ấy dậy, hỏi han và lập tức gọi xe cấp cứu khi thấy có máu chảy. Ai cũng đến làm việc gì đó cho người bị ngã, chẳng có ai ” đi xem” cả…
    Mấy lần Hl được chứng kiến có tai nạn bất ngờ xảy ra với ai đó là mọi người xúm lại giúp đỡ tận tình lắm nàng Phay…
    Cảm ơn nàng Phay với bài viết rất hay, nếu ai là người Việt mình khi ra nước ngoài cũng như tác giả bài viết này thì có lẽ nước Việt mình đã khác!

    • Tuyen Vo
      09/05/2011 lúc 16:38

      @ Ha Linh: Có một thời gian dài do công việc em cũng lang thang khá nhiều xứ và thấy đúng như chị nói. Tai nạn xãy ra, có người chạy tới làm sơ cứu, người thì gọi CS & Cấp cứu, người thì an ủi người bị thương, người khác thì tự nguyện chạy ra hai đầu hướng dẫn giao thông trong khi chờ CS & Cấp cứu. Tất cả đều tự nguyện & làm phần việc cần thiết một cách nhanh nhứt có thể! Khỏang 5 – 10 phút sau thì CS & cấp cứu tới. Chắc chắn là như vậy, 5-10 phút là họ tới!
      Nhiều lúc ngồi nhà nhìn hai đứa con chơi đùa, em nghĩ lẫn thẫn thôi thì ta bỏ hết mọi thứ ở đây rồi kiếm cái job vớ vẩn cho gia đình vừa đủ sống an bình ở một chổ như vậy & quên hết mọi chuyện ở đây! Mình đâu còn & cần một quê hương để nhớ hay có một đất nước để chết cho nó đâu? mình chỉ cần một nơi như vậy để gia đình sống an bình cho hết phần đời ngắn ngủi thôi & con cái sẽ sống một nơi nhân bản, cởi mở, công bằng, hướng thiện, chuyên nghiệp,… để nên người.
      Kính,

      • ha linh
        09/05/2011 lúc 18:30

        Tuyen Vo@: bạn của HL một lần đố HL là:” Theo bạn nghĩ nếu có một đất nước cho phép người mình đi qua họ hết thì bạn có nghĩ là mọi người sẽ đi không?”, HL chưa kịp trả lời thì bạn tiếp:” Tôi nghĩ nếu cái cột điện mà biết đi thì chắc nó cũng đi!”.
        HL nghĩ rằng nếu mà không có sự sắp xếp của số phận thì có khi HL cũng vẫn sẽ yên vị ở nơi mà Tuyen Vo cũng đang có mặt, chắc HL cũng phải tìm cách mà thích nghi thôi. Nhưng quả thật nếu đã có lúc ra đi rồi, nhìn thấy những điều hay rồi thì chắc không khỏi có lúc chạnh lòng.Nhiều khi HL cũng nghĩ là sống xa quê cũng có những thiệt thòi cho mình ( xa gia đình, xa bạn bè…), nhưng rồi nghĩ lại thì thấy vui vì ít ra cũng yên tâm cho con cái.
        Nếu có cơ hội thì cũng không nên bỏ lỡ Tuyen Vo à.
        HL mong và chúc Tuyen Vo cùng gia đình luôn được bình an!Nhất là trẻ con, mong các bé luôn khỏe và an vui khi tới trường!
        Cố lên nhé Tuyen Vo!

  11. nguyen thi nha trang
    09/05/2011 lúc 23:16

    @ Hà Linh : ” … thật sự nhiều khi em xấu hổ lắm …”
    Nghe Hà Linh trò chuyện , mà Chị và chắc nhiều người nữa cũng cảm thấy xấu hổ lây , cho hành vi ứng xử vô tình làm nhục quốc thể của 1 số người khi ra ngoại quốc ! Gần nhà chị cũng có 1 số người như vậy , họ oang oang khoe khoang – cái dốt – với mọi người xung quanh , nhưng không bao giờ dám ” láo toét ” với gia đình chị , vì sợ bị ” kê tủ đứng vào họng ” !
    Chợt nhớ đến tay Again literature Gingsen nhà ta , trong chuyến đi du lịch Châu Âu ( chị nhớ đã đọc ở đâu đó , không biết Hà Linh và Phay Van biết chuyện này không ? ) do 1 doanh nhân ” bị ép phải chi ” cho vợ chồng anh ta và vợ chồng tay phó vtv3 : Cô hướng dẫn viên – thạc sĩ ngôn ngữ học – thiếu điều xấu hổ muốn chui xuống đất ! vì những hành vi ứng xử vô văn hóa của vợ chồng tay sâm và vợ chồng tay phó vtv3 ! Ôi , cũng gọi là trí thức đấy , nhưng thật là nhục !

    • Doan Tran
      09/05/2011 lúc 23:44

      À, yeah. du quan tu say săm xinh mo?

    • Tuyen Vo
      10/05/2011 lúc 09:08

      @ chị Nha Trang: Again Literature Gingsen… hahahahah. Giờ em mới nghĩ ra 🙂 Bùn cừ wá.

    • ha linh
      10/05/2011 lúc 17:10

      Chị Nha Trang, em ở trong khu dân cư thuần túy người Nhật. Mỗi khu phố cũng phải cử người hàng năm phụ trách các việc của khu mình ví dụ: thu tiền lệ phí sinh hoạt khu phố, các khoản đóng góp nhân đạo, lưu thông bản tin …Các hộ dân cư luân phiên nhau làm, khi em mới chuyển về,họ biết em là người nước ngoài nên khi đến lượt em thì các hộ khác thảo luận với nhau và quyết định là họ làm trước, để bao giờ em quen thuộc ở đây thì mới yêu cầu em làm. Em nghĩ họ tinh tế đến chi tiết như vậy đó chị Nha Trang!
      Chuyện anh Gingsen thì em có đọc từ trước, chị ơi, ở bên Nhật cũng y vậy đó, ý em nói là các đoàn mình đi công tác, đi họp( thực chất là đi du lịch miễn phí thôi), em thấy có khi doanh nghiệp dùng những chuyến đi sang nước ngoài như là sự hối lộ công khai đó chị, ví dụ kí hợp đồng kinh doanh thì không liên quan gì đến một ông Chủ tịch Hội đồng nhân dân đi cùng làm gì, mà trong thời đại này, cần gì phải đi sang nước người ta liên tục để kí hợp đồng vậy đâu, cuối cùng thì người dân đóng thuế là chịu thiệt thòi mà thôi, vì tiền thuế thay cho sử dụng cho các mục tiêu an sinh xã hội thì đi vào các mục tiêu khác như vậy.

      • ha linh
        12/05/2011 lúc 05:23

        Ôi nàng Phay, cái đuôi mà nàng Phay dẫn ra HL cũng chứng kiến rồi!

  12. 10/05/2011 lúc 01:57

    Bưn khuưn, bưn khuưn: kiếp trước mình với Phayvan có bà con hông ta? Xong rồi lại bưn khuưn nữa: kiếp trước mình với Phayvan có phải… người dưng khác họ hông ta; mất ngủ là cái chắc, Ly ui!!!

  13. nguyen thi nha trang
    10/05/2011 lúc 10:43

    @ Tuyen Vo : ” Mỉa từ ” Again Literature Gingsen , bản quyền của Hà Linh đó em ! chị ” nhặt ” đựợc từ blog của Hà Linh ! lúc đầu tiên chị cũng ” Bùn cừ wá ” như em , nhưng không có kiểu hahahahah…! hết cỡ thợ mộc hở 10 cái răng như cậu đâu nha !
    Sao , Khỏe không Em ? Đọc cái comment của em @ Hà Linh , chị cũng thấy sao sao ấy ! Thôi Tuyen Vo , cuộc sống :
    ” Có thẳng căng như một sợi dây đờn ,
    Mới tạo được những âm thanh kỳ diệu ! ” vậy !
    Vui lên nha cậu ! Mến ,

    • ha linh
      10/05/2011 lúc 17:12

      ” Có thẳng căng như một sợi dây đờn ,
      Mới tạo được những âm thanh kỳ diệu
      ——–
      Đúng vậy, Tuyen Vo à, mong Tuyen Vo vui và khỏe mạnh!

      • Tuyen Vo
        11/05/2011 lúc 14:31

        @ bác chủ nhà: Trước tuổi 30, em vẫn nghĩ về những âm thanh kỳ diệu sẽ có một ngày bật ra. Giờ khi quá 35, em nghĩ là chẵng bao giờ có cái âm thanh đó có cơ hội bật ra trên mãnh đất này rồi. Em đã làm việc, giao du với người có background của cả hai phía Quốc Cộng, từ thấp đến trung, từ Nam chí Bắc, từ kẹt trong nước tới chạy ra ngọai quốc (của cả hai bên),…
        Phía Cộng thì no comment rùi. Cho dù những người phía VNCH/chống cộng sản có nắm quyền thì cũng chỉ đỡ hơn chút thui.
        Bắt đầu chuyện nhỏ thôi, chạy xe đúng luật, em cá bất cứ giá nào (kể cả mạng sống của em) là 20 năm nữa người Việt vẫn chạy xe theo kiểu rừng rú như hiện tại. bác nào thích cá cứ giơ tay lên.
        Các bác Việt kiều cứ chê ỏng chê eo, nhưng dịp gần Tết cứ tới các phi trường lân bang như Changi, Taoyuan, Incheon, Suvarnabhumi hay Donmuang trước kia,. nơi mà các bác transit về Vietnam coi các bác behave như thế nào! Em không vơ đũa hết nhưng hơn 50%.
        No way. No hope. Bye bye Vietnam

      • ha linh
        12/05/2011 lúc 05:10

        Tuyen Vo@ HL nghĩ chuyện các bác Việt Kiều ấy mà, thực ra chuyện chê cũng có thể có phần là vì yêu quý mà góp ý, một phần là một số bác Việt Kiều không hẳn đã là đại diện hết cho Việt Kiều hải ngoại. HL may mắn được quen biết của một số anh chị là Việt Kiều- họ rất tuyệt. HL hay quan niệm là nhìn vào cái tốt để học hỏi, cái chưa tốt thì mình biết để tránh.

  14. nguyen thi nha trang
    10/05/2011 lúc 20:51

    @ Hà Linh : Chào Hà Linh ! Nghe Em trò chuyện thật thú vị ! Thế cho chị tò mò thêm vài chi tiết nha , cụ thể là xung quanh khu vực em đang sinh sống thôi :
    * mọi người nơi em ở theo những tôn giáo nào ?
    * khu em ở có nhà thờ ? chùa ? hoặc….?
    * trình tự cơ cấu tổ chức và nhân sự ” cán bộ ” của khu vực em ở ?
    * Em thật sự thoải mái và hài lòng với khu vực mình đang sống ? và nếu có , thì điều gì mà cá nhân em không hài lòng ?
    Cảm ơn em trước nha Hà Linh ! Mến ,

    • ha linh
      12/05/2011 lúc 05:22

      Chị Nha Trang kính mến,

      Khu em ở có nhiều chùa lắm chị à, nói chung ở bên đây xóm làng nào, mỗi phố( làng xưa) đều có chùa hay đền thành hoàng đó chị. Và người ta cũng có niềm tin là đi chùa, đền để cầu may mắn..thư thái tâm hồn.
      Mỗi khu phố đều có được dành riêng một căn nhà rộng để khu phố sinh hoạt chị ạ, cư dân trong khu phố khi cần dùng chỗ đó ví dụ làm party hay sinh hoạt tập thể gì đó thì đều được cho mượn miễn phí. Khu phố có tổ chức tự trị của dân phố, người đại diện thường là các bác về hưu vì họ có thời gian, người trẻ bận rộn mà. Các bác lớn tuổi thường tổ chức các sự kiện cho khu phố. Hàng năm khu phố sẽ thu 1 khoản phí ( 24USD) để duy trì các hoạt động đó. Ngoài ra còn có Hội trẻ em do các phụ huynh khu phố chủ trì để hàng tháng có ít nhất là 01 event cho trẻ em, hội trẻ em này nhằm tăng cường ” khối đoàn kết” của trẻ em và phụ huynh trong khu phố. Thật đáng tiếc là không có chi bộ, ủy ban phường, công an phường..vv!!!
      Em quá hài lòng với khu phố mình sống chị à vì em chẳng có gì mà không hài lòng: mọi người thân thiện, con cái được an toàn, không có ai ” nhòm ngó” gì ai..Cuộc sống của ai người nấy lo, khi cần giúp đỡ thì mọi người giúp đỡ hết lòng!
      Mong rằng những thông tin này sẽ giúp chị hiểu phần nào về đời sống người dân Nhật.

      • ha linh
        12/05/2011 lúc 20:13

        Tội nghiệp dân tộc NB không được có đảng như dân tộc VN. Đảng lo lắng, quan tâm chăm sóc, vạch ra đường lối chính sách, dân ta cứ vậy mà tiến bước không sợ sai lầm, thụt hố
        ———-
        Phay ơi, đừng nói mà Linh sợ!

  15. 10/05/2011 lúc 23:11

    Em lại đi đâu vắng nhà rồi?

  16. nguyen thi nha trang
    12/05/2011 lúc 11:41

    @ Phay Van : “…chị hỏi như phóng viên ấy “.
    Cô ” ngắt ” hay ” kê tủ đứng ” chị đây , nói mau !

  17. nguyen thi nha trang
    12/05/2011 lúc 12:02

    @ Hà Linh : Chào em ! Cảm ơn em chu đáo cho chị biết 1 vài nét ” cơ cấu sinh họat ” nơi khu vực em ở ! Ừ , cũng như trước 1975 ở miền Nam , chị và gia đình , cũng như tất cả mọi người ở miền Nam , ai ai cũng đều thật sự hưởng thụ cái không khí Tự Do trong Đại Dương ! Còn bây giờ thì mọi người phải cố tự bơi trong cái giếng vậy !
    À Hà Linh , Em đã lần nào mặc Kimono chưa ? nếu đã , hãy diễn đạt cảm nhận thật của em cho chị nghe đi ! luôn tiện nếu có thể , hãy mô tả vài nét về Kimono , được chứ em ?
    Mến ,

    • ha linh
      13/05/2011 lúc 07:48

      vâng, em sẽ cố gắng chị à, đợi em tuần sau nha!

  18. nguyen thi nha trang
    12/05/2011 lúc 12:21

    @ Phay Van & Tuyen Vo : ” có thẳng căng như một sợi dây đờn
    mới tạo được những âm thanh kỳ diệu ! ”

    Đó là chị muốn diễn đạt cái bản lĩnh ứng và hành xử cũng như tâm thế của chính bản thân từng cá nhân trong cái xã hội rối như tơ vò này ! chứ không mong gì đến cái khá lên của cái ” Ao làng xhcn ” này !
    Cảm nhận được hàm ý của chị chưa ! Cô..Cậu..này thật..! Nghe cứ như là Đứt Dây Đàn Thật vậy !

  19. nguyen thi nha trang
    13/05/2011 lúc 10:00

    @ Hà Linh : Cảm ơn em Hà Linh , chị sẽ đón đợi trong sự háo hức vì chị cảm nhận được sự Mỹ Cảm trong Em !

  20. nguyen thi nha trang
    13/05/2011 lúc 10:35

    @ Phay Van : Cô gớm nhỉ ! không ” ngắt ” , không ” kê tủ đứng ” , nhưng lại cho Tôi ” leo ngồi đọt tre ” !… cũng là 1 kỹ năng có duyên đấy !
    Bây giờ ” thọọt léét nhẹẹ ” lại Cô đây : ” Dây đàn ” hay ” Giây đàn ” !
    Vui nha Em !
    À Phay Van và Hà Linh : Hôm trước Chị có ” nổ ” , là trước 1975 chị có học 1 khóa Tốc Ký , nay tình cờ thấy bạn Lãng Tử có giới thiệu 1 bài viết rất giá trị về đề tài Tốc Ký Tiếng Việt , thấy rất giống với những gì trước kia mình đã học , chị mạn phép bạn Lãng Tử chia sẻ thông tin này lại với 2 em tham khảo nha :
    * Hai em vào google gõ : Tốc Ký Chữ Việt của Trần Tư Bình .
    Có nhiều phát hiện thú vị lắm 2 em !

  21. Mai
    21/08/2011 lúc 08:14

    Phay Van: Mình tình cờ đi vào trang web này. Thấy các bạn thật dễ mến. Mình cũng là một fan của Tuổi Hoa và Tuổi Ngọc ngày xưa. Mình biết sau này chị Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh có những truyện ngắn rất hay. Để mình gởi cho bạn. Nếu bạn thấy hay thì bạn post lên cho các bạn khác cùng đọc nhé. Thân chúc các bạn luôn vui tươi,
    _____________________________________________________________________

    Thầy Dạy Công Dân

    Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh

    Thầy Văn bước vào lớp. Như một thông lệ, cả lớp đứng dậy. Thầy đứng thẳng, yên lặng một giây, mặc nhiên là một hành động chào lại. Thầy trò lớp này vẫn là như thế.
    Thầy ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống, rồi bước đến bên bàn của Thầy, đặt chiếc cặp da lên đó, và nhìn một lượt khắp lớp. Đôi mắt Thầy dừng lại ở bàn cuối. Bốn đứa con trai chột dạ, không dám ngó Thầy.
    Thầy bảo cả lớp mở vở ra chép bài. Mọi người nhìn nhau ngạc nhiên. Thường thì Thầy gọi học trò lên trả bài trước rồi mới cho chép bài mới sau. Ngạc nhiên, nhưng không ai dám hỏi Thầy một câu. Thầy đọc, giọng chậm rãi, rõ ràng. Thầy khác với cô Loan dạy Việt văn ở điểm là cô Loan thường nhờ một trò viết chữ đẹp lên bảng viết bài cho cả lớp chép theo. Còn Thầy, với giọng cứng rắn, sang sảng, Thầy như người thầy bậc tiểu học đọc chính tả. Đó, cái nề nếp của lớp này là vậy.
    Lớp Chín A. Cái lớp học “anh cả” trong một ngôi trường tư thục nhỏ chỉ dạy bậc trung học đệ nhất cấp. Còn có một lớp Chín nữa, lớp Chín B, buổi chiều. Nhưng hình như trong cả trường chỉ có lớp Chín A này là sinh động hơn cả, theo nhận xét của các thầy cô. Sinh động là bởi vì hầu hết các học sinh đều học khá, hăng hái tham gia các sinh hoạt do trường đề ra: làm bích báo, làm văn nghệ, đi công tác xã hội… Sinh động là bởi có vài trò rất giỏi được cử đi dự thi toán, thi vẽ, thi văn chương toàn thủ đô Sài Gòn. A! còn nữa, mặc dù môn Anh văn chưa có trò nào được vinh dự đi thi nhưng học trò lớp Chín A cũng đã lập nên một “English speaking club” để trau giồi tiếng Anh và được Thầy hướng dẫn là giáo sư Anh văn dìu dắt. Có một môn học, vâng, có một môn, chưa bao giờ nghe nói đến đi dự thi hay thành lập câu lạc bộ gì cả. Đó là môn Công dân giáo dục. Đối với học sinh, không riêng gì học sinh lớp này đâu, học môn Công dân là một điều hiển nhiên, bởi vì chương trình đã là như vậy từ thuở nào rồi. Và đi học là phải học đều tất cả các môn, là bổn phận của học sinh.
    Thế nhưng tuần rồi đã có một điều bất thường đối với Thầy: đó là sự vắng mặt của bốn nam sinh ngồi ở bàn cuối lớp. Họ là những học sinh học rất khá nhưng đã tình nguyện xin ngồi ở bàn cuối để các thầy cô đỡ phải cực khổ. Nhưng giờ Công dân tuần rồi, họ đã “cúp cua”. “Cúp cua”! Nghỉ không có lý do ốm đau hay bận việc quan trọng được người nhà xin phép… thì gọi là “cúp cua”. Thầy định tuần này sẽ hỏi tội họ ngay khi vào lớp, nhưng rồi hôm nay Thầy không làm. Cả lớp như cũng chờ đợi chuyện đó xảy ra. Vài nữ sinh len lén nói chuyện thật nhỏ trong khi chép bài, Thầy nghe được nhưng lờ đi.
    Và rồi bài cũng đã được chép xong. Thầy giở sổ điểm ra. Học trò chờ đợi Thầy sẽ gọi một ai đó lên trả bài. Nhưng cũng không. Ôi! Nếu có điều gì khó chịu nhất đời thì chắc là đây rồi! Cái im lặng thật đáng nể!
    Bốn anh con trai ngồi ở bàn cuối lớp, dãy nam sinh, đưa mắt nhìn nhau. Và rồi một trò đứng dậy. Trò Bảo. Gương mặt sáng sủa, dáng người nhanh nhẹn, Bảo là nam sinh học giỏi nhất lớp. Bảo tiến đến bàn Thầy, đi ngang bao nhiêu dãy bàn trước sự ngạc nhiên dò xét của các bạn. Bảo nói với Thầy:
    – Thưa Thầy, em xin được trả bài ạ!
    Thầy hơi nghiêng đầu, nhìn Bảo, hỏi:
    – Em muốn trả bài? Bài nào?
    – Thưa Thầy, bài Công dân kỳ trước ạ!
    – Kỳ trước?
    – Dạ, bài ” Quốc kỳ và Quốc ca” ạ!
    – Em có bài đó sao?
    Bảo đỏ mặt, giọng hơi ấp úng:
    – Dạ, em đã mượn vở của bạn để chép ạ!
    Nét mặt của Thầy có hơi tươi lên một chút, nhưng Thầy vẫn nghiêm giọng:
    – Còn các em kia?
    Ba nam sinh còn lại của bàn cuối đồng đứng dậy, nói:
    – Thưa Thầy, chúng em cũng đã có chép bài rồi ạ!
    Có vài tiếng xì xào trong số nữ sinh. Thầy giơ tay lên:
    – Các em giữ im lặng. Thầy không có ý định gọi các em trả bài hôm nay.
    Như không hẹn mà cùng có chung phản ứng, ba anh con trai tiến lên phía Thầy. Bảo nói thay cho cả bọn:
    – Thưa Thầy, chúng em xin lỗi Thầy, tuần trước vì… ham coi “xi-nê” nên chúng em đã.. “cúp cua” giờ của Thầy. Chúng em đã biết lỗi. Xin Thầy …
    Thầy nói thật nhẹ:
    – Không phải giờ của Thầy đâu! Giờ của các em đó chứ! Học là học cho các em mà! Thầy chỉ là người dẫn dắt.
    Nhật, lớn tuổi nhất, nói khẽ:
    – Thưa Thầy, chúng em hiểu.
    – Các em về chỗ đi! Thầy không có ý định khảo bài các em. Hôm nay Thầy có một việc quan trọng để nói với cả lớp.
    Cả lớp thở phào trong khi bốn nam sinh về chỗ, nhưng rồi một sự chờ đợi khác lại đến.
    Thầy đứng trên bục giảng, nói như đang giảng bài:
    – Hôm nay là buổi dạy cuối của Thầy. Thầy muốn nói ngắn gọn rằng Thầy sẽ tạm xa mái trường để nhập ngũ. Chắc chắn các em sẽ có một thầy hay một cô giáo mới phụ trách môn này. Nói chung, sẽ không có gì khó khăn cho các em cả đâu! Điều mà Thầy muốn nhắn nhủ các em hôm nay…
    Đám học trò như nín thở. Thầy dừng lại một tích tắc vì nghe có tiếng than nho nhỏ từ dãy nữ sinh. Thầy nói tiếp:
    – … đó là hãy cố gắng học hành. Điều này nói ra có vẻ hơi thừa, nhất là đối với lớp này là một lớp khá ngoan, mà Thầy rất ưng ý. Thầy đã dạy ở nhiều trường công lập cũng như tư thục. Tính ý của học trò, Thầy đều hiểu hết. Học trò trường công phát triển đều nhau, không chênh lệch nhiều. Trái lại, học trò trường tư đa dạng hơn, do không có tuyển chọn qua những kỳ thi. Nhưng thú thật, Thầy quan tâm nhiều đến học trò trường tư. Tại sao vậy? Vì đó là bức tranh sống thật nhất của xã hội. Có những học sinh thật giỏi, thật ngoan, nhưng cũng có những trò thật kém, có những trò nổi loạn. Đúng không? Rất tiếc là Thầy phải rời bỏ cái khung đời này để bước vào một xã hội khác, sẽ rất khác: đó là quân ngũ. Thầy chỉ mong rằng, với những bài giảng về Công dân giáo dục mà Thầy đã gửi đến các em trong gần một niên học qua, các em sẽ không xem đó là những bài học bắt buộc, những bài chỉ nhớ để trả bài rồi sau đó quên đi, những câu chuyện qua loa không ăn nhập chút nào với cuộc sống. Mà các em hãy đem chúng vào đời như một hành trang quý báu. Thôi! Ý của Thầy chỉ có thế. Mai sau, mong rằng, có duyên, Thầy sẽ gặp lại các em.
    Lần đầu tiên học sinh nghe Thầy nói những câu có vẻ văn hoa khác với cách nói bình dị của Thầy thường ngày. Sự im lặng như đã đến hết sức của nó, khi Thầy ngưng câu nói. Bình thường, nếu người ta chịu khó để ý, sẽ thấy mỗi khi xung quanh mình quá im lặng, có một thứ “âm thanh” nghe muốn vỡ tai, đó là tiếng rít “o… o” rất khó chịu. Thế nhưng, lần này, thầy và trò đã nghe được tiếng của một con ve bên ngoài cửa lớp. Thật sự là tiếng ve! Tiếng ve đầu mùa hạ! Con ve đậu trên một cái cây to trong sân trường rợp bóng mát hay chăng? Con ve cất tiếng hát, một lúc sau đã có tiếng của cả một bầy ve. Không hẹn mà cả thầy và trò đều nghe dâng lên một niềm cảm động.

    *
    Như thế đó, buổi dạy cuối cùng của Thầy Văn, thầy dạy môn Công dân giáo dục của lớp Chín A! Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Vắng thầy Văn, học với một cô giáo mới, cả lớp rồi cũng quen dần. Đám học trò, sau mùa hạ đó, cùng lên lớp Mười, lớn thêm được một chút, vì đã vào trung học đệ nhị cấp. Bốn đứa con trai, Bảo, Đăng, Nhật, Vũ, vẫn chơi với nhau khắng khít như trước. Nhưng không bao giờ họ dám lập lại một việc, mà đối với họ là một lỗi lầm. Đó là “cúp cua”. Nhật, lớn nhất bọn vì gia cảnh nghèo phải bỏ học một năm, luôn tự nhận lỗi về mình vì đã “xúi dại” mấy đứa nhỏ hơn. Cả bọn bảo nhau nếu gặp lúc khác thì chắc chắn đã bị khiển trách và ăn mấy cái “trứng vịt” rồi!
    Thầy rời mái trường vào đầu mùa hạ. Trong tâm luôn có tiếng ve làm Thầy nghe luyến nhớ. Những lần về phép Thầy thường đi ngang ngôi trường tư thục mà Thầy đã rất yêu mến này, đứng lại một lúc lâu, nhưng không vào. Thầy đã đi qua một khung đời rất khác. Bên đó là đỏ lửa. Ở đây là xanh trời. Thầy không muốn làm xao động không gian bình yên này.
    Mấy mùa hạ đi qua. Học trò của lớp Chín A năm nào nay đã đến tuổi vào đại học. Lên đại học, không còn có môn Công dân giáo dục nữa. “Môn phụ” đã biến mất!
    Thầy không có dịp về lại trường cũ, vì chiến trận đã đến hồi khốc liệt. Một ngày nắng lửa trên đồng hoang, Thầy gặp lại Bảo, người học trò trắng trẻo khôi ngô học giỏi ngày nào. Bảo tình nguyện vào lính, đã đi đánh trận nhiều nơi và mới được thuyên chuyển về đơn vị của Thầy. Bây giờ thầy trò cùng chia xớt với nhau từng bịch gạo sấy, mời nhau từng điếu thuốc. Tâm tình cũng dễ dàng bộc lộ. Bảo chân thành nói:
    – Thầy ơi! Lúc em còn nhỏ, đi học tiểu học, nhìn người thầy như một người cha vì tuổi đời chênh lệch nhiều. Học bậc cao hơn thì khoảng cách tuổi tác giữa thầy và trò ngắn hơn; nhiều thầy mới ra trường, quá trẻ, chúng em có cảm giác như đó là người anh. Nhưng thái độ e dè đối với các thầy vẫn luôn có. Người thầy đứng trên bục giảng thật khác với người thầy trên chiến trường. Bây giờ, em mới thật sự học được bài học sống ở thầy. Thầy sống những gì thầy đã dạy.
    Thầy giật mình:
    – Em nghĩ như thế?
    – Vâng, đúng là như thế, thưa thầy. Bọn chúng em, bốn đứa chơi thân với nhau, vẫn thường nói với nhau rằng sao chúng em lại làm ra một điều khó tha thứ. Sao chúng em lại “cúp cua” giờ Công dân? Chúng em ỷ mình học giỏi ư?.. Thầy ơi! Thầy có buồn chúng em không? Thầy có tha thứ chúng em không?
    Thầy cười xòa:
    – Bỏ đi! Thầy chẳng giận chẳng buồn ai bao giờ. Nói cho thầy nghe, mấy anh cùng “cúp cua” đó, ra sao rồi?
    – Anh Nhật lớn nhất, đi lính trước em một năm. Sau đó đến em. Còn Vũ và Đăng đã vào đại học.
    – Tại sao em không vào đại học?
    – Thưa thầy, em muốn đi lính. Sau khi giải ngũ về em sẽ đi học tiếp ạ! Tuổi trẻ còn dài…
    – Bây giờ thầy trò gặp nhau ở đây cũng là một trường học lớn. Thầy trò ta cùng học môn Công dân giáo dục phải không?
    – Dạ.
    Hai thầy trò cùng im lặng, lắng nghe tiếng đại bác vọng về từ xa…
    Đêm đó, sau chuyến hành quân, Thầy bị thương nhẹ ở chân. Thầy ôm Bảo trong tay. Thầy vuốt mắt Bảo. Bảo đã làm được cái việc trả bài cho thầy. Một bài học sống.

    *
    Hết xuân đến hạ. Thu tàn, đông đến. Thầy đã trải cuộc đời trên chiến trường biết bao năm! Bị thương nặng, nhẹ cũng nhiều. Trong người của Thầy đầy những vết sẹo chiến tích. Nằm quân y viện to, nhỏ, hay dã chiến, cũng đã biết bao lần. Cả cái kinh nghiệm được đục khí quản để gắn ống thở tạm, hay đeo lủng lẳng một cái túi đi từ ruột ra ngoài, chờ chữa lành bên trong, Thầy cũng đã có nốt. Gia đình khuyên Thầy giải ngũ. Thầy không chịu. Thầy giã từ nghề dạy học luôn rồi! Gặp gỡ bạn bè, đồng nghiệp, học trò… đến, đi, nhìn họ thành công, thất bại, sống, chết. Nhìn thấy đời mình cũng đã già dặn đi theo ngày tháng. Thầy cũng thèm trở lại bục giảng lắm chứ! Nhưng cứ mỗi một câu, Thầy nói với mọi người: “Chờ khi đất nước thanh bình…”
    Và Thầy phải ngưng cầm súng. Thầy đi vào trại tù cải tạo, như hàng vạn quân nhân khác. Ước mộng của Thầy đã sụp đổ. Thôi thì cùng chia xớt với anh em đồng đội nỗi đau nhục này! Bài học Công dân giáo dục “Quốc kỳ và Quốc ca” nhức nhối trong lòng. Mỗi buổi sáng trước giờ đi lao động, Thầy và các bạn tù phải tập trung để chào cờ. Thầy nhắm mắt lại chặt đến nỗi nghe như dao đâm để thấy màu cờ vàng chan chứa. Thầy bấm vào tay mình bật máu để hát trong óc, hát không bằng lời: “Này công dân ơi!!!!…”
    Thầy ra trại. Thân thể lại mang thêm một số thương tích vì “lao động”. Cảnh sống đã thay đổi… Thầy tìm đến thăm một vài đồng nghiệp cũ, ngạc nhiên khi thấy họ đến trường dạy học trong những bộ quần áo quá dễ dãi. Ngày xưa các thầy cô đứng trên bục giảng ăn mặc nghiêm chỉnh, bây giờ các thầy đi giép hoặc “xăng-đan”, các cô thì mặc quần đen áo cộc. Thầy cô dạy học xong, ra về, trước xe lủng lẳng mấy bịch cá, thịt, rau đậu mắm muối “tiêu chuẩn”. Thầy lắc đầu ngao ngán. Thầy không thể làm gì hơn là chọn nghề mộc, một nghề có thể giúp kiếm sống qua ngày và không vướng bận tâm trí. Cái nghề của Chúa Giê-su khi còn nhỏ đây mà! Cái nghề Thầy đã học được ở trong trại tù. Cái nghề trong những nghề dạy cho con người ta tính kiên nhẫn và lương thiện.
    Hết thời “thắt lưng buộc bụng”, đến lúc “mở cửa”, thành thị chen chúc người và xe. Nhiều khi Thầy ngơ ngác đứng nơi ngả tư đường, mấy mươi phút chưa băng qua được. Không có ai tôn trọng luật lệ giao thông. Đèn xanh đèn đỏ mọi người lờ đi như không thấy. Có khi Thầy não lòng khi một đám tang đi qua, không có ai nhường đường, hiếm có người ngả mũ chào người chết. Những gì gọi là bài học Công dân giáo dục đâu cả rồi? Người ta sống với “văn hóa phong bì”, “thủ tục đầu tiên là tiền đâu”, “mạnh được yếu thua”…

    *
    Thầy ra khỏi nước, như hàng trăm ngàn người khác. Thầy vào trường, làm học trò. Thầy hân hoan thấy lại màu cờ vàng một thời rực rỡ trong tuổi trẻ của Thầy. Thầy được tự do hát bài Quốc ca “Này công dân ơi…” mà không phải mím môi. Nhưng một thời Thầy rơi vào sự trầm cảm tột độ vì nghĩ đến quê hương đã khuất bóng. Thầy mang tâm trạng như những thầy đồ của một thời mất nước. Thầy đã không còn chỗ để trở lại bục giảng. Thầy nhận nơi này làm quê hương thứ hai. Thầy luôn tự an ủi mình: “Quê hương không chỉ là mảnh đất, mà còn có cả tình người”. Và… như thế, Thầy đã sống được. Thầy chọn làm việc trong ngành truyền thông và đã đến gần được với tâm tình người Việt xa xứ.
    Vào một ngày, Memorial Day, Thầy cùng gia đình đi lên thủ đô. “Lên thủ đô!” Thầy nói rất tự nhiên như vậy rồi nghẹn lời vì nghĩ đến thủ đô của Thầy ngày nào. Thầy đứng bên bức tường trên đó ghi tên những người lính Hoa Kỳ bỏ mình trong chiến tranh Việt Nam, trong trí Thầy hiện lên tên của những người bạn bè đồng đội. Họ đã không có một bức tường để ghi tên! Thầy đặt một bó hoa xuống nơi chân tường. Một gương mặt rạng rỡ chợt sáng lên như được phát ra từ mặt đá hoa bóng loáng. Gương mặt của Bảo. Thầy lạnh người. Thầy muốn khóc.
    – Thưa Thầy!
    Thầy giật mình quay về hướng tiếng nói sau lưng. Thầy nhận ra ngay. Ôi! Là Vũ, cậu học trò liến thoắng, đã có lần “cúp cua” giờ Công dân.
    – Thưa Thầy, gặp lại Thầy, em mừng quá! Thầy có khỏe không ạ?
    – Thầy khỏe. Thầy cứ ngỡ… là trò Bảo.
    – Bảo đã mất rồi, thưa Thầy, Thầy là người ở bên cạnh Bảo lúc ấy…
    Thầy bùi ngùi:
    – Phải… Gặp lại em, Thầy càng nhớ Bảo. Thế những người bạn thân của em ra sao?
    – Anh Nhật ở lại trong nước. Anh ấy trở thành thương phế binh, hiện nay sống rất khổ cực. Đăng thì đi với gia đình sang Úc, cũng đã có việc làm tử tế.
    – Còn em, em làm nghề gì?
    – Dạ, em theo nghề giáo.
    Thầy nói như reo:
    – A! Vậy sao?
    Vũ vui vẻ:
    – Dạ, em dạy môn Civics.
    – Môn Civics?
    – Dạ, môn Công dân giáo dục, thưa Thầy!
    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (nguồn: Thư Quán Bản Thảo số 45 tháng 1 năm 2011)

  22. Mai
    21/08/2011 lúc 08:18

    Cây Bút Của Ba Tôi

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

    Nếu phải làm một bài luận văn với nhập đề lung khởi cho đề tài “Ba tôi”, tôi sẽ viết như sau:
    “Tôi nghĩ ai cũng có thể viết một chút về “cha tôi”, ngay cả những người con chưa hề thấy mặt cha mình. Một đứa bạn thân của tôi, không biết cha mình là ai, cũng đã tự nhìn vào gương và viết những cảm nghĩ về cha của nó thật cảm động. Riêng tôi, không cần tưởng tượng, tôi cũng thấy cha tôi mỗi ngày. Khi ở Việt Nam, tôi biết ba tôi là một nhà giáo…”
    Còn nếu phải nhập đề trực khởi, tôi sẽ vào đề ngay như thế này:
    Đó là vào năm 2003, khi cha con tôi được bác tôi bảo lãnh qua Mỹ.
    Vâng, đó là vào năm 2003.
    Chỉ “bị” ở không có một tháng mà cha con tôi đã cuồng chân cuồng tay lên rồi! Sau vài đợt được nhà bác tôi đưa đi chơi vài nơi trong và ngoài tiểu bang, ba tôi nhất quyết đi tìm việc làm. Với chiếc xe Honda Accord cũ kỹ bác tôi cho, ba tôi đã đi khắp các siêu thị để xin việc. Thật không may, cha con tôi qua Mỹ đúng vào thời điểm mà theo cách nói của mọi người lúc đó là “kinh tế xuống”. Ba tôi thường trở về nhà với gương mặt uể oải. Bác tôi khuyên ba đừng vội vàng làm chi, từ từ rồi kiếm việc, bác có sức bảo bọc hai cha con. Bác nói thì nói thế, chứ hai cha con tôi cũng nhìn thấy hoàn cảnh của nhà bác, đông người, khá chật vật trong hoàn cảnh kinh tế hiện tại. Tiền điện, tiền nước, tiền chợ búa, tiền bảo hiểm… cũng làm nhức đầu lên rồi! Đến lượt tôi cũng muốn đi làm. Tôi đâu có thể ở chơi không một năm trong khi chờ chính phủ trợ cấp cho đi học. Vâng, phải đến năm tới thì tôi mới được đi học miễn phí. Cho nên tôi quyết tìm việc làm để có tiền. Cũng đơn giản là để hai cha con có thể tự lập, ra thuê nhà ở riêng, khỏi làm bận lòng bác tôi.
    Và tôi cũng mang bộ mặt thất vọng về nhà sau những lần đi tìm việc. Đến đâu tôi cũng nhận được những cái lắc đầu kèm theo một nụ cười và tiếng “sorry”. Ôi! Nếu là thời gian cách nay năm mười năm thì, cũng theo lời của bác nói, cha con tôi qua là có thể xin đi làm hãng dễ dàng. “Làm hãng”, nói chung là làm tại các hãng điện tử, bây giờ cũng sa sút rồi! Cái thung lũng hoa vàng, “silicon valley” nơi chúng tôi cư ngụ, cũng như một miếng bọt biển đã no nước rồi!
    Đến một ngày tôi may mắn tìm được một chân bán hàng trong tiệm McDonald’s khá xa nhà một chút, tôi hoan hỉ đáp xe bus đi làm, để ba dùng chiếc xe cũ chạy việc. Cha con tôi có chút niềm vui là công việc bán thời gian của tôi đem lại một ít “tiền còm” để xài. Đêm đêm ba lái xe đi đón tôi, hai cha con về nhà khi gia đình bác đã ngủ say. Chúng tôi rón rén vào phòng đóng cửa lại và bàn bạc về những chuyện sắp tới. Ba cứ khuyên tôi đừng buồn, hãy cố gắng. Ba không biết rằng tôi cũng mong ba đừng buồn, hãy yên tâm. Ở bên nhà, ba đi dạy, còn tôi mới bước vào đại học. Ba chọn đi theo “diện” bảo lãnh do bác tôi lo. Trước khi đi, ba cũng đã “vận động” tôi nhiều lắm. Ba nói qua Mỹ không phải là đến xứ thiên đường, mà mọi việc đều phải bắt đầu lại hết. Tôi sẽ phải gián đoạn việc học hành một ít lâu. Ba sẽ không đi dạy, không làm thầy nữa. Tôi nghe hết. Và mọi việc đều xảy ra đúng như chúng tôi tiên liệu. Do đó chúng tôi không buồn hay thất vọng, chỉ là hơi sốt ruột một chút.

    *
    Có một hôm, tôi thấy ba ngồi miệt mài gõ chiếc máy computer cũ bác cho cha con tôi. Ba gõ cả buổi, quên mất đêm đã khuya. Tôi mắt nhắm mắt mở nhắc chừng, ba tôi mới nghỉ tay. Hôm sau ba cho tôi xem, đó là một truyện ngắn. Tôi đọc, rồi như có một sức hấp dẫn lạ kỳ, tôi đọc ngấu nghiến. Tôi hỏi ba:
    – Truyện này… của ba?
    – Phải.
    – Ba mới viết?
    – Không, ba viết lâu rồi, hồi… xửa xừa xưa.
    Tôi trợn tròn mắt:
    – Thật không ba?
    – Thật.
    – Hay quá! Sao con không hề biết?
    – Vì ba không nói.
    – Sao bây giờ ba mới gõ ra?
    – Ba nhớ lại, gõ ra, để… ba đăng báo.
    – A! Con hiểu rồi! Vậy khi xưa ba có đăng chưa?
    – Ba đăng rồi! Có nhiều người đã đọc.
    Tôi vỗ tay reo lên:
    – Hay quá! Ba là văn sĩ.
    – Văn sĩ cái gì! Chỉ là viết cho vui.
    – Không ba ơi! Con thấy hay lắm! Có ý nghĩa lắm! Vậy là ngày xưa ba viết bài đăng báo?
    – Ừ.
    – Ba có in sách không?
    – Có.
    – Vậy sao … con không nghe ba nói bao giờ?
    Ba ngập ngừng:
    – Vì ba đã ngưng viết trước khi con ra đời.
    Tôi trố mắt không hiểu. Nhưng ba như không muốn nói nhiều. Ba lảng qua chuyện khác.

    *
    Tôi trở thành “thầy cò” cho ba tôi. Thật vui, bởi vì tôi vừa được đọc truyện do ba tôi nhớ lại và gõ, vừa được tin tưởng giao cho nhiệm vụ này. Chữ nào ba tôi gõ nhanh quá bị sai thì tôi sửa lại. May quá, tôi cũng khá giỏi môn chánh tả khi còn ở bậc tiểu học. Nhưng tôi lại là đứa học trò dở môn văn khi lớn lên. Nói chính xác hơn, là tôi ghét môn văn. Mà học trò thì ai cũng biết rằng hễ mình ghét môn nào tất mình sẽ trở thành người học dở môn ấy.
    Ba tôi đăng báo. Mà là báo “ảo”, báo trên internet. Báo internet thì không có chút “tiền còm” nào hết. Ba nói khi “xửa xừa xưa”, ở Việt Nam ấy, cái thời chữ nghĩa còn được trân trọng ấy, tác giả có bài đăng báo sẽ nhận một số tiền gọi là “tiền nhuận bút”. Chà, chữ này đối với tôi nghe rất lạ đây! Nhưng ba giải thích với tôi tại sao ba say sưa “gõ” truyện của ba như vậy. Thứ nhất là vì ba còn đang thất nghiệp, thời gian trống chẳng để làm gì. Thứ hai là ba cảm thấy mừng khi một số người Việt ở đây muốn gầy dựng lại các nhóm văn học đã bị thất tán cùng với bài vở. Ba đồng lòng với ý hướng ấy nên ba làm. Thế thôi! Tôi thấy ba cũng có lý.
    Có một điều khiến tôi chạnh lòng lắm. Số là do một hôm tôi buột miệng hỏi ba:
    – Vậy má ngày xưa có biết ba đã viết văn không?
    – Có.
    – Má có đọc, có thưởng thức văn của ba không?
    – Không. Má không thưởng thức.
    Tôi hết hồn, nín khe luôn. Tôi biết ba má tôi cùng tuổi, học cùng lớp cùng trường, tức là sống cùng thời. Nhưng tôi tự an ủi ngay: “Không cùng tư tưởng, chịu thôi!”
    Tôi hãnh diện có cha là một người viết tiểu thuyết. Dù là đứa học trò dở văn, ghét môn văn, tôi vẫn cảm nhận được những gì ba tôi gửi gắm trong văn. Ba nói tôi đừng gọi ba là nhà văn hay văn sĩ hoặc tiểu thuyết gia gì hết, hãy cứ gọi là “người viết” đủ rồi. Tôi “dạ” và nghĩ rằng ba thật “ngộ!”. Văn của ba tôi không cầu kỳ, không bí hiểm, không dùng sáo ngữ. Ba không viết những chuyện xa xôi trên mây trên gió. Tôi đọc và hiểu hết cái tình ba tôi gửi vào những nhân vật tiêu biểu cho thời tuổi trẻ của ba. Tôi thấy nó sống động lắm, gần gũi lắm. Tôi đã hình dung được khung cảnh xã hội của ngày đó ra sao. Tôi cũng đã hình dung ra ba tôi thời đi học, thời đi dạy, thời đi lính là như thế nào rồi!
    Nhưng có một điều làm tôi chạnh lòng hơn nữa. Đó là ba đã ngưng viết đến gần ba mươi năm. Ba chỉ nói ra cái “sự kiện” đó mà không kèm lời giải thích. Tôi có hỏi “vì sao” thì ba chỉ nói:
    – Sau này ba sẽ nói cho con nghe. Bây giờ, lo đi làm McDonald’s đi, năm tới đi học. Con sẽ học để bước vào “dòng chính”. À mà ba cũng sẽ đi học vào năm tới chứ! Muốn bước vào “dòng chính” thì phải đi học. Chính phủ giúp mà! Cái chuyện viết lách của ba chỉ là cho vui, đừng để tâm đến nhiều. Nó đã thuộc về quá khứ.
    Tôi tạm yên tâm. Tôi thấy tôi đã hiểu được ba tôi nhiều hơn trước. Tôi, cái thằng con trai học giỏi nhưng hời hợt lắm!

    *
    Ba vẫn chưa có việc làm! Cái nghề nhà giáo dạy Toán của ba không dùng được. Ba muốn đi dạy lại thì năm tới ba sẽ bắt đầu đi học lại. Ngành nào cũng vậy mà! Hiện tại Ba vẫn muốn có một công việc nào đó, việc gì cũng được, để kiếm tiền. Hai cha con ước mơ có thể ra mướn nhà. Đi đâu ba cũng nghe câu “kinh tế xuống”. Ba thở dài ngao ngán.
    Ba lại gõ, say sưa gõ. Không biết ở đâu mà truyện của ba tôi nhiều thế. Rồi đến một ngày ba khoe tôi một bài viết mới. Tôi reo lên:
    – Ba đã viết lại!
    Tôi không thể tả được niềm vui của tôi, lẫn một ngạc nhiên thật lớn. Ô, tôi, cái thằng hời hợt đến thế, vẫn cảm nhận được cái vui của người cha. Rồi nghĩ đến má tôi, tôi lại nao lòng. Ba má đã không sống với nhau từ khi tôi tròn mười tuổi. Ba đã thiếu ít nhất một người không đồng cảm.
    Một ngày, có người bạn của bác tôi ghé chơi. Bác giới thiệu mọi người với nhau. Hóa ra không phải một cuộc ghé chơi tình cờ, mà là có chủ ý của ông khách. Bác tôi để cho ông bạn nói chuyện riêng với ba. Khi ông ấy về rồi, ba kể cho tôi nghe.
    – Con biết không, ông ấy tình cờ đọc và biết ba “còn sống”.
    – Ba “còn sống”?
    – Phải. Ông ấy nói có lần người ta đồn ba đã chết. Lâu rồi!
    – Hả??? Ông ấy đã quen ba sao?
    – Không, chỉ biết ba qua sách báo ngày xưa thôi! Nói ngắn gọn là ông ấy đọc trên inernet biết ba còn sống và đã viết lại, rồi tình cờ qua chuyện trò với bác con, ông ấy biết ba là em của bác, ông ấy đến để nhờ ba một việc.
    – Việc gì ba?
    – Ông ấy nói muốn giúp ba có công việc làm kiếm tiền.
    – A! Vậy ba có bằng lòng không? Việc gì?
    – Viết.
    – Vậy thì hợp với ba quá rồi! Có tiền nhuận bút không ba?
    – Có, mà lại rất nhiều nữa.
    – Vậy ba viết đi! Ông ấy làm báo nào?
    – Không, ông ấy không làm báo, mà ông ấy nhờ ba viết chuyện đời của ông ấy.
    – Vậy lại càng hợp với ba nữa! Ba đã nói với con là các nhân vật trong truyện của ba là có thật, ít nhất cũng thật vài mươi phần trăm.
    – Nhưng con à, ba có cái sự sáng tạo của riêng ba. Cuộc đời của ai đó chỉ là chất liệu cho ba viết mà thôi! Ba phải nhào nặn câu chuyện theo ý ba. Và trong mỗi câu chuyện, không chỉ hoàn toàn là chuyện của một người, mà là kết hợp nhiều cuộc đời, nhiều cảnh sống.
    – Thì ba cứ nói với ông ấy là ba sẽ kết hợp…
    – Ông ấy muốn ba viết và nói rõ đó là cuộc đời của chính ông ấy.
    – Con không hiểu ba ơi!
    – Đây này! Ông ấy nhờ ba viết một quyển hồi ký cho ông ấy, ghi tên tác giả là ông ấy, rồi ông ấy trả tiền “nhuận bút” cho ba. Nói tóm lại là… ông ấy “thuê” ba viết.
    – Nghĩa là ba phải ẩn danh?
    – Đúng.
    Tôi thộn mặt ra. Điều này tôi chưa bao giờ nghĩ đến. Ba im lặng. Chắc ba cũng chưa bao giờ nghĩ đến. Ba nếu có nghĩ thì chắc sẽ nghĩ đến một ngày nào ba viết hồi ký cho chính ba. Sóng êm biển lặng hay giông tố bão bùng cũng vẫn chỉ là cuộc đời của ba.

    Bác tôi cũng đã nghe ba kể lại cuộc nói chuyện giữa ba và ông bạn của bác. Khác với tôi, bác có ý kiến tích cực hơn. Bác nói:
    – Chú mầy biết không, ở đâu cũng vậy, có những người có khả năng viết văn giỏi và họ viết hồi ký giùm cho người khác. Nào phải ai cũng viết được cho hay, cho hấp dẫn đâu! Ngay đến các cựu tổng thống hay những người nổi tiếng, dù cuộc đời và sự nghiệp của họ lẫy lừng đến đâu mà nếu viết không hay thì cũng phải nhờ người sửa câu sửa chữ cho. Điều đó đâu có gì trái. Anh nghĩ chú mầy cứ làm đi! Giúp cho người ta và ít ra mình cũng sử dụng được cái văn tài của mình. Viết bài đăng internet khơi khơi làm gì có tiền!
    Ba lặng thinh suy nghĩ. Xem ra ba có vẻ xiêu lòng. Bác tôi còn nói thêm:
    – Cha mẹ mình đã dạy, làm việc gì bằng công sức của mình, kiếm tiền nuôi thân, đều không xấu. Chú giúp ông ấy viết hồi ký cũng như chú đi dạy Toán, khác gì đâu! Hoặc cũng giống như anh, đầu tiên qua đây đi cắt cỏ, đi rửa xe… anh không thấy gì là buồn cả. Mà công việc này lại nhàn nữa, chỉ mỏi cái bàn tay gõ, còn hơn đi làm lao động nặng nhọc. Chú nên nhận lời.
    – Vâng.
    – Anh hẹn cho ông ấy nói chuyện với chú để bàn về nội dung cuốn hồi ký nhé! Kệ, tội nghiệp người ta, có cuốn hồi ký để lại cho con cháu đọc để hiểu cái thời ngày xưa ra sao… cũng là xứng đáng lắm!

    *
    Khuya nay đón tôi về, ba kể:
    – Ông bạn của bác con hẹn ba ra tiệm phở “Âu”, ông bàn chuyện viết và hứa trả tiền cho ba rất khá, đủ để cha con mình thuê nhà nửa năm. Ông còn nói hễ sách càng dày thì tiền càng tăng.
    – A! Thật vậy hả ba? Rồi sao nữa? Ba đã biết được ý chính của cuốn sách ba sắp viết chưa?
    – Ông ấy kể hết cho ba nghe rồi.
    – Vậy ba phải viết đúng một trăm phần trăm cuộc đời của ổng há ba?
    – Không.
    – Ủa, sao vậy ba? Hồi ký mà!
    – Vì là hồi ký… nên ông ấy muốn ba thêu dệt càng nhiều chuyện hấp dẫn càng tốt.
    – Cái gì? Sao kỳ vậy ba?
    – Ông ấy kể cho ba nghe một số chi tiết có thật xảy ra trong cuộc đời của ông ấy, nói ba dựa vào đó mà viết ra cho lâm ly bi thiết, nói rằng ông ấy gặp hoạn nạn ghê gớm ra sao, rồi ông ấy chống chọi một cách anh dũng thế nào, rồi ông ấy trở nên một người hùng trong mắt mọi người… Chưa hết, chuyện tình cảm của ông cũng phải như tiểu thuyết, như phim, phải thơ mộng, phải đẫm lệ, sao cho người đọc thấy được những cuộc tình đi qua đời ông rất đẹp, rất lãng mạn. Nói chung, như là… Doctor Zhivago vậy.
    – Thì như vậy… là một cuốn tiểu thuyết!
    – Không, không phải tiểu thuyết. Là một quyển hồi ký, đời thật của một người.
    – Như vậy là không thật! Hồi ký thì phải hoàn toàn là sự thật. Thêu dệt là có tội. Tội đánh lừa người đọc. Ủa, mà ba ơi, sao ông ấy lại phải tốn nhiều tiền để làm như vậy?
    Ba thở dài, tiếng thở dài này tôi chưa từng nghe:
    – Ông ấy nói ông ấy kiếm tiền đã quá mệt mỏi. Bây giờ ông ấy đã có tiền. Ông ấy không cần tiền nữa. Ông ấy cần danh.

    *
    Ba tôi gặp ông bạn của bác tôi ở tiệm phở “Âu”. Lại tiệm phở “Âu”! Nhưng lần này là do ba hẹn. Ba bảo tôi có rảnh thì ra chơi luôn. Nhân buổi sáng là lúc tôi không có giờ làm việc ở McDonald’s nên tôi cũng ra đó. “Ông khách” của ba tôi đến. Ông vui vẻ kéo ghế, định gọi thức ăn thì ba ngăn lại, nói rằng ba đã gọi rồi. Người bồi bàn đem ra một tô phở. Ông khách ngạc nhiên thì ba nói ngay:
    – Xin mời anh. Anh cứ tự nhiên dùng. Hai cha con tôi đã ăn sáng rồi ạ!
    – Nhưng tôi sẽ trả tiền hết mà!
    – Dạ không sao đâu. Xin anh cứ dùng đi!
    – Thôi được. Nhưng tôi rất nôn nóng muốn biết chú cần thêm chi tiết gì nữa trước khi khởi sự viết giùm tôi cuốn hồi ký.
    – Dạ thưa anh, tôi sẽ không viết đâu ạ!
    Đôi mắt ông khách trợn tròn, ông lắp bắp:
    – Chú… chú nói sao? Tại sao?
    Ba đáp:
    – Thưa anh, tôi thấy tôi không hợp với việc này ạ! Xin anh tìm người khác.
    – Nhưng chú phải nói cho tôi biết lý do tại sao… Chú chê tiền à?
    Ba lắc đầu, thản nhiên nói trong khi đứng dậy:
    – Xin lỗi anh, tôi không giải thích được thêm gì nữa đâu!
    – Tôi không hiểu…
    – Vâng, anh sẽ không hiểu ạ!
    – Tôi… tôi…
    – Xin anh tự nhiên dùng. Tô này tôi đã trả tiền. Họ sẽ trừ vào tiền lương của tôi. Xin phép anh, tôi đi làm việc.
    Ba quay đi và nhận cái “tạp-dề” từ tay người quản lý tiệm phở, đeo vào. Ba nhìn tôi, nhoẻn miệng cười:
    – Thế con có muốn ăn phở không? Ba sẽ bưng cho con một tô…
    Tôi cười theo:
    – Dạ con muốn. Ba sẽ trừ vào tiền lương của ba chứ?
    – Đương nhiên.
    Thật tình là tôi muốn reo lên như người hâm mộ reo mừng chiến thắng của đội banh mà mình yêu mến. Tôi nén xúc động, ngồi đường hoàng nơi bàn như một thực khách chờ thức ăn. Và ba tôi kìa! Ba đang mang ra cho tôi một tô phở. Bước chân ba hơi khập khiểng một chút. Nhưng đó là những bước chân vững chắc nhất có thể dìu dắt tôi trong suốt cuộc đời này. Bước chân của một người đã gửi lại trong đất một phần thân thể. Người đó không muốn phản bội lại những gì mình đã hoài mộ. Tôi hiểu ra tại sao ba đã không viết trong một thời gian khá lâu, gần ba mươi năm. Bởi vì ba có một cây bút không thể bẻ cong. Ngày xưa cũng vậy, bây giờ cũng vậy. Người thầy giáo của tôi! Người lính của tôi! Ba yêu quý của tôi!

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (nguồn: vietbao online)

  23. Mai
    21/08/2011 lúc 08:23

    Lưng Đồi Ridgewood

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

    – “Lão ông” này!
    – Gì thế “lão bà”?
    – Ông xem, hoa dại đẹp không?
    – Đẹp lắm!
    Những câu đối đáp đơn sơ và ấm áp là thế! Hai người cười vui vẻ. Bà đem một bó hoa dại từ ngoài vườn vào. Bà thích cắm ở góc nhà một bình hoa dại, thú vui khó bỏ từ thuở niên thiếu. Trong khi đó, ông tỉa những chậu hoa trong cái “nhà kính” do ông xây đắp bấy lâu. Hoa của ông thì cầu kỳ lắm, bà cũng rất thích, và cùng ông chăm bón.
    – Tôi đi không lâu, có một tuần thôi, lão ông nhớ ăn uống ngủ nghê điều độ nhé!
    – Yên tâm đi, tôi vẫn quen cái cảnh bà qua bên đó với các con, đâu phải lần đầu.
    – Biết thế, nhưng không dặn dò ông thì tôi không thấy yên tâm.
    Đồ đạc đã chất hết vào “cốp” xe. Ông đưa bà ra phi trường. Chiếc xe không còn mới lắm nhưng như con ngựa già đi đâu cũng tới. Và không chỉ riêng bà, ông vẫn thường đưa đón những người thân, những người bạn từ xa đến. Thỉnh thoảng ông bà cùng đi thăm con ở tiểu bang xa, họ cùng đi xe ra gửi ở phi trường. Cuộc sống vẫn êm đềm như thế.
    Ông lái xe trở về nhà một mình. Con đường Ridgewood yên vắng, cây xanh rợp bóng. Ngôi nhà của ông bà nằm khuất sau những tàn cây. Ông lái xe xuống con dốc thoai thoải, vào đến sân. Tháng tư, tiết trời khá mát mẻ. Ngọn gió nhè nhẹ đưa đến cho ông sự sảng khoái. Ông tự nói với mình “Hãy đi bộ một chút!”. Ông đậu xe và bước thong thả ngược ra lại con đường. Ông đi bộ như mỗi ngày ông vẫn làm như thế. Nhưng không có bà cùng đi, ông cảm thấy thiếu vắng. Dù sao, như lời bà đã dặn “Không có tôi, ông cũng không được bỏ đi bộ, ăn ngủ phải điều hòa, và đừng quên một việc là lúc nào cũng phải “sạc” pin cell phone để tôi gọi về đấy!” Bà dĩ nhiên là không ghen bóng ghen gió, ở cái tuổi thất thập rồi mà! Ông nghĩ thế và bật cười, cảm thấy vui vẻ một mình.
    Ông vẫn thong dong, đi hơn một tiếng đồng hồ, lướt qua trường Emory, tới CDC rồi ngược trở về. Ông không còn cảm giác cô độc nữa. Bởi vì đi ngang Emory ông được mỉm cười nhớ đến thằng con trai đầu lòng đã tốt nghiệp từ đây, còn CDC làm ông nghĩ đến đứa con gái đang làm chương trình nghiên cứu bệnh truyền nhiễm với ông thầy – và hai thầy trò cùng các cộng sự đang làm việc ở Kenya. Ông bà thật không uổng công vất vả nuôi dưỡng các con.
    Về đến trước nhà, mở thùng thư lấy một xấp thư, rồi tra chìa khóa vào cửa, ông lẩm bẩm:
    – Còn phải đến trung tâm nữa!
    Ông không đi tắm vội, ông muốn tận dụng thời gian “chờ ráo mồ hôi” để mở thư ra xem. A! Hôm nay có thư của mấy người bạn già. Ông mỉm cười. Chà! Cái anh chàng Tuân này, sắp cưới vợ cho con trai, vui nhỉ! Cái “lão” Thái này, sắp đi thăm con bên Úc, cũng vui! Còn anh bạn Long này, sao đây??? Sao không phải nét chữ của anh? Thì ra là chữ của anh ấy đó chứ! Nhưng nét chữ nguệch ngoạc, run rẩy. Nhớ rồi! Anh ấy đã tập luyện một thời gian dài sau khi bị “stroke”, bây giờ cầm bút viết được thế này là quá hay! Ông chợt nghe lòng chùng xuống. Trong những người bạn còn liên lạc với nhau thời gian này, có lẽ ông là người ít đau ốm nhất. Bà vẫn thường nói lén ông với mấy bà bạn: “Lão ông nhà tôi chẳng bao giờ đến gặp bác sĩ của mình”.
    Thật ra, ông có đến nhưng rất ít, thường là những kỳ khám tổng quát, bác sĩ gia đình nhắc năm lần bảy lượt ông mới đến. Ông không đau ốm vặt. Ông cũng là bác sĩ mà! Bác sĩ thì biết lắng nghe cơ thể của mình lắm! Nhiều khi bà bảo ông gàn. Ông cứ cười xòa: “Bà ạ, bói ra ma quét nhà ra rác”, hoặc ông còn nói vui một câu mà ông không nhớ mình học được từ ai: “Bà ạ, tôi chỉ rảnh để chết, không rảnh để bệnh”. Và thế là ông cứ làm việc, dù đã về hưu mấy năm nay. Ông vẫn làm việc bán thời gian, làm cố vấn cho một trung tâm y tế ở quận hạt này.
    Ông đã để tâm trí của mình đi miên man quá lâu. Đã ráo mồ hôi rồi! Ông đi vào nhà tắm. Tắm xong, ông sửa soạn để đi đến trung tâm làm việc buổi chiều nay. Lúc nào ông cũng cẩn thận tuy không chải chuốt. Ông luôn muốn tạo cảm nghĩ đẹp nơi các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân nhỏ tuổi. Các bạn nhỏ thường nhìn vị bác sĩ khám bệnh cho mình bằng một sự thán phục, có hơi thần thánh hóa chút xíu. Ai cũng vậy thôi! Ông nhớ lúc ông còn nhỏ, ông cứ nghĩ đến những người thầy thuốc như là những ông bụt, bà tiên, những người không bao giờ bệnh hoạn. Có như vậy họ mới chữa bệnh cho người khác được chứ! Thật là đơn giản. Quãng đời phục vụ y khoa của ông khi còn ở quê nhà thì không thế. Ông khó có thời gian để lo lắng đến vẻ bề ngoài. Có khi ông rất lem luốc, râu ria rậm rạp. Người ông nhiều lúc đầy bụi đất, có khi lấm lem cả máu người. Ông đã từng là một bác sĩ quân y.
    Ông vuốt nhẹ bộ râu đã được tỉa thật khéo. Bộ râu rất được bọn trẻ nít khen ngợi. Có một bạn nhỏ gọi ông là “bác sĩ Ai-bô-lít”. Ông không biết nhân vật này. Có lẽ cháu bé xem đâu đó một bộ truyện tranh. Cháu bảo hàm râu của ông và tính nhân từ của ông rất giống với vị bác sĩ trong truyện nhi đồng này. Ông gật gù, cười với “ông bác sĩ Ai-bô-lít” trong gương. Có lẽ hãy gọi điện thoại cho thằng con của ông một chút để nhắc nó nhớ ra đón mẹ, không thôi lu bu công việc rồi nó lại ra trễ thì mẹ phải chờ tội nghiệp. “Lão bà ạ, bây giờ bà đã có lời rồi đấy nhé! Đi qua Cali được lợi những ba tiếng đồng hồ. Tha hồ mà chơi với con và cháu”. Ông nhìn qua nhìn lại không thấy chiếc cell phone đâu. À thì ra mình để quên trong phòng tắm chưa mang ra. Bà nhà này rất chu đáo, luôn dặn ông lúc nào vào phòng tắm cũng nhớ đem theo cell phone, nhỡ bên ngoài có chuyện gì thì mình vẫn có thể có điện thoại mà dùng. Ông mỉm cười. Ông lại nhìn vào chiếc gương lớn trong phòng. Đã thất thập rồi, ông và bà! Trong mắt nhau, dường như thời gian không có tuổi. Ông ước gì có thể làm một đám cưới đơn sơ với bà một lần nữa, người bạn đời thương yêu trên mọi bước đường trong đời ông.

    *
    – Mẹ, ba đã gọi lại cho mẹ chưa?
    – Chưa con ạ! Chắc ba bận việc tại trung tâm. Thường những ngày cuối tuần ba có những buổi họp thông tin chia sẻ về các bệnh của người già. Yên tâm đi, mẹ sẽ gọi nữa.
    – Nhưng bây giờ là đêm rồi!…
    – Cứ để mẹ gọi nữa con ạ! Các con cứ đi ngủ đi!
    Bà lại gọi điện thoại cho ông, nhưng không ai trả lời. Điện thoại nhà cũng vậy, cell phone cũng vậy.
    Đến khuya, bà đã thật sự lo lắng. Bà choàng dậy, gọi số điện thoại của bà bạn thân.
    – Bà Hai, bên Cali bây giờ là 12 giờ khuya, bên đó đã gần sáng, tôi xin lỗi đã đánh thức bà dậy, nhưng không có cách nào hơn. Ông nhà tôi không trả lời điện thoại của tôi. Bà có thể vui lòng sáng sớm chạy đến nhà tôi giùm không? Tôi lo lắm!
    Giọng bà bạn còn ngái ngủ:
    – Được. Xin bà đừng quá hoảng hốt. Tôi sẽ chạy tới, đồng thời sẽ gọi điện thoại cho ông ấy. Này bà, có khi nào bên Cali… hệ thống điện thoại bị gì không?
    – Không bị gì cả, cũng đâu có động đất hay sóng thần gì! Mọi việc đều bình thường, chỉ có điện thoại nhà tôi là rắc rối…
    – Được rồi, xin bà cứ đi ngủ đi. Tôi sẽ đến nhà bà. Có khi nào, lâu lâu bà vắng nhà, ông ấy đi đâu với bạn bè không?
    – Không đâu! Bạn bè ai cũng có tuổi cả, nào phải thanh niên nữa đâu mà đi chơi. Có đi đâu thì cũng cầm theo cell phone, mà có quên đem theo thì cũng mượn được điện thoại của bạn mà nhắn cho tôi. Ông nhà tôi cẩn thận lắm bà ạ!
    Giọng bà bạn trêu nhẹ:
    – Biết đâu đấy!.. Thôi bà cứ nghỉ ngơi. Có tin gì tôi sẽ gọi lại.
    – Cám ơn bà nhiều lắm!
    Bà trằn trọc suốt đêm. Chưa có lần nào bà đi chơi mà gọi về không gặp ông. Giọng trêu đùa của bà Hai cứ theo đuổi trong đầu. Bà bạn thân này, tính tình khôi hài lâu nay bà biết rồi! Chắc bà ấy không muốn mình lo lắng quá đáng. “Thỉnh thoảng cũng nên cho nhau một chút tự do chứ!”, bà Hai vẫn hay nói như vậy.
    Bà nhắm mắt lại. Bà đếm tiếng đồng hồ tích tắc, tích tắc… Bà nghe như có cả tiếng nước giọt bên phòng tắm. Ban tối bà bảo con trai và con dâu yên tâm đi ngủ, để bà gọi chừng cho ông, nhưng chính bà đang cảm thấy bất an ghê gớm. Bà lại cầm điện thoại lên, gọi về ông. Vẫn không nghe trả lời. “Xin nhắn lại… xin nhắn lại…” Bà nhắn đã một chục lần. Ông ơi! ông đi đâu? Tự nhiên bà nghe lòng dỗi hờn, giống như cảm giác của một cô con gái mới hẹn hò. Nước mắt bà trào ra. Bà nén tiếng thút thít. Bà tự cười nhạo chính mình. Xấu hổ ghê chưa! Thất thập rồi, cả ông và bà!…
    Rồi mơ mơ màng màng, bà thấy ông đứng trước mặt. Ông cầm một bông hồng dại mới hái trong một khu vườn xa lạ. Loại hoa này bà rất thích, bà vẫn thường mê mải tìm hái trong những ngày còn là cô thiếu nữ. Ông ngỏ lời cầu hôn với bà một lần nữa. Bà e ấp gật đầu.
    Đám cưới thật đơn sơ…

    *

    Chuông điện thoại reng làm bà giật mình mở mắt. Chiếc điện thoại bà vẫn nắm chặt trong bàn tay. Giọng bà bạn:
    – Tôi bà Hai đây!
    – Sao bà Hai?
    – Sáu giờ sáng bên này rồi, tôi đã đến trước nhà bà rồi đây!
    – Sao? Sao? Bà đã gọi ông nhà tôi chưa? Ông có ở nhà không?
    – Tôi có thấy xe ông đậu trước nhà…
    – Ồ! Sao ông ấy không cho xe vào ga-ra nhỉ?
    – Tôi không biết. Tôi đã bấm chuông, đã gõ cửa, nhưng không nghe trả lời. Tôi đã gọi cell phone của ông ấy và cả điện thoại nhà bà nữa…
    – Cũng không có ai trả lời hả bà?
    – Không.
    – Chẳng lẽ ông ấy đi đâu???
    – Vậy… bà muốn tôi làm gì đây?
    – Bà… bà hãy bấm chuông nữa, gõ cửa nữa… giùm tôi.
    – Tôi gõ đã muốn bung cả cửa ra rồi!
    – Bà… bà hãy bấm chuông nữa giùm tôi.
    – Tôi bấm cũng đã sưng ngón tay lên rồi! Chỉ còn một cách nữa, bà hãy gọi một vòng những nơi mà ông ấy hay đến, trước khi mình làm… cái cách cuối cùng.
    – Vâng, tôi gọi. Tôi gọi.
    Bà gọi điện thoại những người thân nhất của ông, xin lỗi họ vì đã làm phiền họ sáng sớm. Không ai biết ông ở đâu. Bà gọi lại bà Hai. Giọng của bà run rẩy thấy rõ.
    – Ôi!.. Bà Hai ơi!…
    – Tôi đây! Bà có muốn…
    – Phải, bà làm ơn… gọi 911.
    – Chỉ còn cách đó.
    – Vâng, nine… one… one!
    Con trai và con dâu đã đứng ở cửa phòng. Mấy mẹ con nhìn nhau. Anh con trai nhẹ nhàng lấy chiếc cell phone từ tay mẹ, ôm chặt vai bà. Cô con dâu ngồi xuống bên bà, nắm lấy bàn tay bà lạnh ngắt. Mọi người chờ đợi. Thời gian trôi lê thê nhưng chỉ có năm phút, rồi tiếng chuông lại reng.
    – Cô Hai, dạ vâng, cháu đây! Cô Hai hãy nói đi!
    – Cháu nghe này, cảnh sát đã tới, xe cứu hỏa, xe cứu thương cũng đã tới.
    – Dạ…
    – Họ đang phá cửa. Họ bảo cô không nên vào, để họ xem sao đã. Cô phải đứng ở ngoài. Cháu cứ giữ máy, cô đang đến gần để hỏi thăm họ đây!
    – Vâng…
    – Cháu ơi! cảnh sát bảo cô hãy báo tin cho người nhà…
    Giọng người con run run:
    – Cô ơi, xin cô nói cho cháu biết…
    – Cảnh sát tìm thấy… ba cháu chết trong phòng tắm, áo quần chỉnh tề, bên cạnh chiếc cell phone cháu ạ!
    – Không thể nào!…
    Người mẹ như cũng đã đoán được chuyện gì xảy ra, và nó ghê gớm đối với bà đến đâu. Không đợi con trai nói lại, bà lẩm bẩm như mê:
    – Không thể nào! Không thể nào! Ông ấy rất khoẻ. Ông ấy đưa tôi ra phi trường. Ông ấy về nhà và chuẩn bị để đi làm đấy mà!
    Đôi mắt bà mở to như nhìn vào một khoảng không sâu hun hút. Bông hoa hồng dại trong mơ bay bổng lên cao.

    *
    Bà đang đứng nơi lưng đồi Ridgewood. Bà đã yêu cầu người bạn quý là bà Hai dừng xe thả bà xuống và để cho bà được một mình. Bà Hai lo lắng, càu nhàu, rồi phải chiều bà, vì quá biết tính bà. Bà vốn vẫn tỏ ra là một người cương nghị.
    – Nhớ gọi cho tôi đấy! – Bà Hai ái ngại.
    – Dĩ nhiên. Cám ơn bà bạn quý. Đừng lo cho tôi mà!
    Con đường Ridgewood yên vắng, cây xanh rợp bóng. Ngôi nhà của ông bà nằm khuất sau những tàn cây. Tháng tư, tiết trời khá mát mẻ. Ngọn gió nhè nhẹ đưa đến. Bà như người tìm về một khoảng đời đã xa thật xa. Con đường này vốn đã là nơi ông bà đi bộ mỗi buổi sáng. Cây nhiều lắm, bởi xưa đã là một khu rừng. Mà thật, hầu như gần hết vùng này đã từng là rừng. Chỉ trừ những con đường lớn và nhộn nhịp như Clifton hay Briarcliff, những con đường nhỏ đều mang vẻ hoang vu mặc dù vẫn có nhà cửa hai bên đường. Cái vẻ đẹp nguyên sơ làm tôn thêm sự thanh khiết của quang cảnh. Ông bà đã yêu mến nơi này, gắn bó với nó như tình thân. Ông bà từ chối nhiều lần về đề nghị của con trai muốn ông bà về California ở cùng với con cháu cho vui. Ông vẫn thường nói với bà rằng có lẽ họ còn mang nặng tâm lý của người Việt Nam, coi cái nhà như vật bất ly thân. Đó là tâm lý “an cư lạc nghiệp”, không muốn thay đổi hoặc rời xa một chỗ ở đã quá quen thuộc rồi.
    Chỉ còn vài bước nữa thôi, sẽ đến cái dốc dẫn vào nhà. Ngôi nhà nấp sau những tàn cây tỏa bóng mát rượi. Lão ông của tôi! Không thể nào! Đã một năm rồi sao? Bây giờ tôi đã trở về ngôi nhà của chúng ta. Ôi! Tôi chưa bao giờ nếm trải cái cảm giác trở về nhà một mình. Vậy mà “lão ông” của tôi đã từng! Ngay cả thời gian sau cái biến cố lớn nhất đời xảy ra, tôi đã trở về cùng với con trai và con dâu. Con gái chúng ta sau đó cũng đã về dự đám tang của cha rồi lại đi châu Phi. Mọi người không ai muốn để tôi ở một mình trong ngôi nhà này. Họ sợ tôi không chịu nổi. Tôi cũng không chắc rằng tôi chịu nổi. Vâng, lúc nào cũng có người kề bên tôi. Ai cũng sợ tôi quá buồn. Ai cũng sợ tôi phát bệnh. Thậm chí không ai cho tôi bước vào phòng tắm nơi ông đã thở hơi thở cuối cùng, không cho tôi ngủ trong căn phòng quen thuộc của chúng ta. Ở nhà quàn, cũng có đông đảo người đến phúng viếng, an ủi. Ngày làm lễ phủ cờ cho ông, rồi ngày đưa ông ra nghĩa trang, cũng có vô số bạn bè thân quyến cùng tiễn đưa. Lúc nào cũng có người ở bên cạnh tôi để an ủi. Rồi những ngày sau nữa, khi tôi làm nốt những công việc của Tháng Tư mà chúng ta đang làm dang dở trong cộng đồng, tôi cũng vẫn có người khích lệ, ủng hộ. Sau đó, khi con trai và con dâu về lại Cali, tôi đã đi với các con. Họ cứ nằng nặc muốn tôi đi cùng, không cho tôi ở lại nhà một mình. Căn nhà của con mình bên Cali cũng rất quen thuộc vì chúng ta vẫn thường qua đó trong những ngày nghỉ. Vâng, tôi đã qua đó. Phần vì muốn chăm sóc con dâu trong những ngày sinh nở và đứa cháu nội chuẩn bị chào đời, phần cũng muốn mình phải bận rộn trong những công việc không tên để đừng lâm vào sự bi thương, nên tôi đã qua đó. Tôi đã không cho phép mình buồn khổ. Tôi nghĩ rằng tôi không được buồn khổ!
    Và rồi con dâu đã sinh cháu trai khoẻ mạnh, mẹ tròn con vuông. Tôi có mặt bên con và cháu như một điều hiển nhiên rất đáng làm của một người mẹ, một người bà. Tôi được cuốn theo cái vòng tròn hạnh phúc của một gia đình mà tôi đã có không ít những đóng góp xây dựng. Tôi tự cho mình sự bận rộn để lo lắng mọi việc giúp con. Đứa cháu kháu khỉnh khiến tôi cảm thấy an ủi. Tôi cũng có những ngày lái xe đi làm công việc trong cộng đồng. Chỉ là những việc thiện nguyện mà tôi đã từng làm như khi ở Atlanta. Tôi hình như đã chữa lành vết thương cho chính mình.
    Nhưng rồi, “lão ông” ơi! Có những lúc tôi tự hỏi tôi đã tự chữa lành thật chưa? Tôi có phải đang trốn tránh một cái gì? Con và dâu muốn tôi ở hẳn nơi nhà họ. Nhưng tôi đã ngồi xuống thẳng thắn nói chuyện với họ. Tôi muốn về Atlanta. Tôi muốn về nhà. Một mình.
    Lũ trẻ đã quen cái tính cương quyết của tôi, nhất là thằng con trai của chúng mình, đành phải chiều ý tôi. Tôi vốn đã cương quyết từ khi ẵm con trên tay, lặn lội đi nuôi chồng trong trại tù cải tạo. Nếu không cương quyết, tôi sẽ dễ dàng rơi vào những cái bẫy rình rập một người phụ nữ yếu ớt. Nếu không cương quyết, tôi sẽ không hiểu được và đồng cảm được với những bài thơ, bài văn ông viết ở trong tù. Nếu không cương quyết, tôi sẽ không thể khuyến khích và yểm trợ cho ông để tiếp tục học ra bác sĩ ở nơi đây…
    Bà đã đến trước sân. Chiếc xe của ông đã được cho vào ga-ra từ ngày ấy. Bà tự nhủ: “Sẽ giữ lại chiếc xe ấy mà đi, còn chiếc xe của mình thì sẽ bán bớt”. Bà tra chìa khóa vào cửa.
    Chợt bà khựng lại một chút. Có khi nào bà sẽ gặp ông nấp sau cánh cửa chờ làm một điều gì đó thật ngạc nhiên cho bà? Bà lắc đầu… Bà đã mở cửa rồi! Căn nhà im vắng. Lâu nay có mấy bà bạn thỉnh thoảng ghé lại coi ngó giùm nên căn nhà sạch sẽ ngăn nắp như vẫn có người ở. Bà cởi áo khoác ngoài, ngồi xuống ghế. Bà muốn bật chiếc radio để nghe một đài tiếng Việt mà ông bà rất yêu thích và bật suốt ngày đêm những khi có ở nhà. Nhưng vẫn không. Bà muốn im lặng để tìm lại cái cảm giác thoải mái mỗi khi đi đâu về mệt, dựa lưng trên chiếc ghế êm ái này, biết rằng ông đang có mặt ở đâu đó trong nhà, mà bà không cần phải thấy ông. Nhưng rồi sau đó ông xuất hiện, tặng cho bà một tách trà ông mới pha. Và mỗi khi ông đi làm về thì bà lại là người pha trà cho ông. Giản dị như vậy thôi! Và rồi hai người lại đi vào cái nhà kính để trầm trồ và chăm chút những bông hoa đủ loại.
    Bà lim dim mắt, ngả đầu trên lưng ghế, mường tượng ra tất cả những ngóc ngách của căn nhà. Bà chưa muốn đi xuống tầng basement vội, nhưng cũng nhớ như in, những chỗ mà ông hay lục đục dọn dẹp, sắp xếp. Bà cũng sẽ đi ra vườn chứ! Sẽ xem những cây ăn trái mùa này sắp sửa cho những trái ngon ngọt rồi đây! Và còn bụi hồng dại của bà nữa! Tháng tư là tháng mà những bông hồng dại sẽ rực lên một màu đỏ thắm.
    Bà nhỏm dậy. Có một nơi mà bà không thể dừng được ý nghĩ phải vào đó. Bà phải vào đó ngay! Dù con trai đã dặn bà Hai kỹ lưỡng là phải đi cùng với bà, phải ở cùng với bà giùm nó, nhưng giờ đây, chỉ có một mình, bà bước vào đấy. Vâng, cái nơi mà ông đã thở hơi thở cuối cùng! Bà đi vào phòng ngủ, rồi mở cửa phòng tắm, bước vào. Bà như thấy ông đang vói tay lấy chiếc cell phone lúc đó đang ở trên chiếc kệ thấp. Nhưng không được. Ông không còn đủ sức để làm một cái gì. Ông đang từ từ lịm đi trên nền gạch… Ông đưa hai bàn tay ôm lấy ngực. Trái tim ông đang co thắt mạnh và đập những nhịp đập quái gở. Nét mặt ông rúm lại vì đau đớn. Nhưng rồi, trong một cố gắng cuối cùng, ông đã mỉm một nụ cười. Ông muốn mọi người khi trông thấy ông sẽ nghĩ rằng ông đã ra đi rất bình an.
    Bà thấy mình tê điếng trong một cảm giác kỳ lạ. Bà thấy bà đang đứng vào chỗ của ông, đang té xuống nền gạch, đang vói lấy chiếc cell phone, đang ôm lấy ngực nơi có trái tim quái gở đang lịm dần, đang co rúm nét mặt, và đang cố nở một nụ cười. Ông đang vẫy gọi bà nơi lưng đồi ngoài kia. Tháng tư, mùa xuân vẫn còn ngự trị trên xứ của rừng. Những cây cỏ hoa lá cũng đẹp như trong một cánh rừng. Những con đường cũng mang tên của rừng. Con đường Ridgewood, cùng với những con đường khác cùng mang tên rừng đem bóng mát và hương thơm hoang dã vào đến tận trong nhà… Bà gục xuống, tâm trí lãng đãng…
    Tiếng chuông điện thoại reng. Không phải chuông điện thoại bàn! Mà là chuông cell phone của bà! Bà luôn để cell phone trong túi áo. Tiếng chuông kéo bà ra khỏi cơn mơ màng. Bà giật mình, lấy vội điện thoại ra.
    – A-lô!
    – Hello, mẹ ơi, con đây! Con gái đây!
    – Ôi, con gái, con ở đâu?
    – Con đã về rồi! Con từ Kenya về.
    – Thật sao?
    – Thật mẹ ạ! Mà con xin báo tin vui cho mẹ, con đã xin về làm tại CDC, con không đi xa nữa, vì con muốn ở với mẹ.
    – Mẹ mừng quá! Con đi hoài, không bao giờ gần mẹ cả. Mẹ nhớ con lắm!
    – Con cũng nhớ mẹ lắm! Con gọi về nhà anh, anh bảo mẹ đã về nhà. Mẹ đang ở đâu?
    – Mẹ đang ở nhà mình.
    – Với ai?
    – Một mình.
    – Ôi! Không được, mẹ không được ở một mình. Con sẽ về ngay. Con đang ở CDC, con sẽ chạy về, nhanh lắm!
    – Mẹ đợi con.
    Bà chạy ra nhà ngoài. Một gương mặt quen thuộc nhìn bà. Một cái nhìn trìu mến! Bà dừng ngay lại. Lão ông! Lão ông của tôi! Xin lỗi ông, tôi quên là ông đang ở đây. Ông vẫn trìu mến an ủi và chăm sóc tôi đấy mà! Bà thổn thức, thắp cho ông một nén nhang. Ông mỉm cười. Bà mỉm cười với ông trong dòng lệ.
    … Bà bước nhanh ra ngõ, đi ngược trở lại con dốc. Có tiếng cười trong trẻo nhẹ nhàng văng vẳng. Con gái đã về đến lưng đồi!

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (nguồn: vietbao online)

  24. Mai
    21/08/2011 lúc 08:27

    Nhịn Đói Trên Xứ Mỹ

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

    Hai người bạn gặp nhau lần đầu tại phi trường Hongkong. Xuân đi từ Sài Gòn. Thu đến từ Hà Nội. Việc hẹn nhau và cách thức nhận diện nhau cũng thật dễ dàng vì họ đã làm quen và dặn dò nhau nhiều lần qua điện thoại. Xuân lớn hơn Thu một vài tuổi. Hai người cùng ngạc nhiên khi thấy người kia có nét hao hao giống mình. Những e ngại hầu như đã biến đâu gần hết. Từ đó cho đến khi vượt đoạn đường bay mười mấy giờ đồng hồ đến San Francisco, họ đã trở nên đôi bạn. Thêm một đêm bay nữa, họ đến Atlanta, Georgia.
    Hai người không có thời gian nghỉ. Sáng hôm mới đến, lo xong chỗ ở là họ phải đến CDC (Centers for Disease Control and Prevention) trình diện ngay. Rồi thì bắt tay vào việc: học hành và làm việc trong phòng thí nghiệm. Tuy vậy, không phải mới đến trung tâm là đã thành “cư dân” của trung tâm ngay đâu! Mỗi người được phát một thẻ “visitor” (khách) để tạm thời được ra vào trung tâm. Họ được hẹn ngày hôm sau đi làm “fingerprint” (lấy dấu tay) ở một địa điểm khác, rồi sau đó sẽ được chụp ảnh để làm một cái badge (phù hiệu) để đeo trên áo, từ đó mới được coi như “nhân viên tạm” trong thời gian đi tu nghiệp, và thế có nghĩa là được quyền mang một thẻ “khóa magnetic” (khóa từ tính) để ra vào các cửa, đến phòng thí nghiệm; và rồi cũng như những nhân viên thực thụ của trung tâm, họ được ăn uống ở cafeteria, được tham dự các buổi báo cáo khoa học…
    Đối với Xuân, tuy chưa sống ở Hoa Kỳ nhưng Xuân đã tìm hiểu nhiều về xứ sở này qua người chị ruột đã sống ở California từ hơn hai mươi năm nay. Còn với Thu, tất cả đều mới lạ và đáng ngạc nhiên. Tiếng Anh của Thu không mấy lưu loát. Thu bảo Thu phải nhờ Xuân giúp nhiều. Không sao đâu! Xuân đã quen làm việc với các chuyên gia ngoại quốc. Xuân đã từng làm thông dịch viên cho các chương trình y tế. Xuân sẵn sàng giúp cô bạn mới từ nay sẽ sống với mình. Và như thế, mặc nhiên, họ đã coi nhau như hai người bạn, hai chị em.
    Ngày đi làm fingerprint, hai chị em được đưa đến một tòa nhà nằm trên một ngọn đồi. Nhiều người đã có mặt ở đó. Chờ đợi rồi cũng đến lượt mình. Xuân và Thu đã làm xong. Nhưng người tài xế lo việc đưa đón hai người bị một tai nạn nhỏ, không đến đón được. Thế nên Xuân và Thu phải đi lang thang trong sân, hết nhìn người đến kẻ đi rồi lại ngắm hoa cỏ. Ồ phải chi mình rành đường một chút thì chắc sẽ đi đón xe bus mà về. Hai chị em lại an ủi nhau “Không sao đâu!”, rồi lại đi dạo chơi.
    Tòa nhà nằm trong một khuôn viên thơ mộng. Một nơi có thật nhiều hoa. Từ lúc đặt chân đến Hoa Kỳ tới nay, qua ngày thứ nhì, hai bạn mới có dịp ngắm một quang cảnh mới mẻ. Không khí trong lành và những bông hoa thắm tươi gợi Xuân nhớ nhiều đến Đà Lạt. Trên đỉnh đồi này nhìn xuống, thấy những con đường xinh xắn uốn lượn. Atlanta thật đẹp!!! Nhưng đó chỉ mới là vùng đồi núi vắng vẻ mà thôi, hai bạn vẫn chưa biết phố xá là như thế nào, chỉ nhớ lúc ở phi trường về có đi ngang qua khu downtown với những ngôi nhà cao trang trọng còn im ngủ trong sương sớm…
    Đến một lúc cảm thấy đói, không còn muốn đi dạo nữa, hai bạn bắt đầu nghĩ tới việc tìm nơi mua thức ăn. Nhưng thật lạ, nhìn quanh không có một tiệm ăn nào, cũng không có một cái máy bán bánh kẹo tự động nào. Hai bạn bảo nhau:
    – Giá mà có được một tiếng rao hàng nhỉ!
    – Đúng rồi! Phải chi có một gánh hàng rong…
    Nói như thế rồi cùng nhìn nhau cười thú vị.
    Và rồi đến một lúc không thể cười được nữa, hai bạn cùng ngồi xuống ghế. Xuân nhìn Thu, thấy nét mặt bạn không còn vẻ hồng hào như sáng nay. Và chợt Xuân nghe tay chân mình bủn rủn. Ôi, đói quá! Mỗi đứa một tô sữa với cereal buổi sáng sớm, giờ đây nghe bụng trống rỗng. Mình lại vô ý không mang theo chút bánh kẹo gì để dằn bụng, cứ tưởng đi một chút rồi về ăn trưa. Ở đây là cơ sở thuộc cảnh sát, mình đâu có thể vào bên trong tòa nhà. Xung quanh cũng không có một ngôi nhà nào khác nữa. Không chợ búa, không tiệm tùng. Hai bạn thất vọng, cùng cầu mong có ai thay cho người tài xế để đến đón họ về. Nhưng hoàn toàn im lặng. Không có chiếc xe nào mang dấu hiệu của CDC xuất hiện như họ mong.
    Xuân đề nghị:
    – Thôi mình nói chuyện vậy. Đi không nổi vì sẽ hao năng lượng. Nhưng ngồi mong ngóng thì mệt mỏi lắm!
    Thu cười nhẹ:
    – Phải chị ạ! Nói chuyện cho quên đói.
    – Hồi còn bé, mỗi khi đói mà chưa được ăn… thì chị hát.
    – Ô, vậy à? Em thì ít khi chịu nhịn đói. Nhưng em nghe bố em kể về nạn đói năm 1945.
    – Chị cũng nghe ba má mình kể lại. Đó là trận đói khủng khiếp nhất của nước mình. Lúc ấy chị và em đều chưa sinh ra.
    Thu đưa tay vuốt nhẹ một bông hoa, giọng lâng lâng:
    – Nghĩ cũng lạ chị nhỉ! Hai chị em mình có duyên với nhau thật, học khác ngành mà rồi được đi tu nghiệp cùng một nơi. Ở hai miền xa lắc mà bỗng thấy gần như hai chị em một nhà.
    – Vâng, thì bây giờ mình đã ở cùng một phòng, ăn cùng một mâm nữa. Thu hãy nói cho chị biết vì sao em được chọn qua đây học.
    – Em ấy à? Em được cho đi tu nghiệp ở đây là vì bố em làm chức lớn trong ngành, việc đề nghị cho em đi rất dễ dàng. Còn chị?
    – Chị ư? …Chị không có thân thế gì cả. Chị được cho đi là vì… chị qua được những vòng tuyển chọn, có chấm điểm, có bằng chứng hẳn hòi.
    – Vậy là chị may đấy! Có nhiều người làm giấy tờ xong vẫn hụt đi.
    – …Thì chị đã từng….
    Xuân ngưng lại, không muốn nói tiếp. Vì Xuân nhận thấy nét mặt của Thu thật dễ mến. Thu chắc cũng đã biết nhiều những mẩu chuyện như vậy, mình kể thêm một chuyện nữa mà làm gì! Kinh nghiệm về những lần bị dìm hồ sơ, bị cướp học bổng đi tu nghiệp, đi học, vẫn còn rõ ràng với Xuân lắm. Đơn giản chỉ vì Xuân là người sống trong miền nam, không có thân thế. Xuân tự hỏi không biết rồi với cái bề ngoài dễ mến của Thu và tính nhẫn nhịn của Xuân, hai người bạn này có thể sống hòa đồng được với nhau trong một thời gian khá dài hay không? Hai hoàn cảnh thật khác biệt, cả về nguồn gốc gia đình lẫn bối cảnh xã hội.
    Xuân chợt thở dài. Xuân cũng không ngờ mình đang ngồi ở đây, và rồi sẽ được học hành, làm việc ở trên xứ Mỹ trong một thời gian ngắn. Xứ Mỹ, quê hương thứ hai của gia đình người chị ruột, những người đã đến bến bờ này bằng mồ hôi và nước mắt, trên con thuyền tả tơi dập vùi trong sóng gió. Hơn hai mươi năm sau, em của chị đi sang xứ Mỹ bằng máy bay, tất cả đã thật khác. Chỉ có một điều không khác: đó là hoàn cảnh của đất nước vẫn không thay đổi bao nhiêu.
    Không biết lặng yên bao lâu, rồi cả Xuân và Thu cùng ôm bụng. Cái đói lại đến! Xuân chợt nhớ thật rõ một bài văn được học hồi trung học, bài “Đói” của Thạch Lam. Thuở nhỏ Xuân không mường tượng ra cái đói là ghê gớm thế nào mà ông Thạch Lam mô tả hay đến thế. Một bài văn ngắn đã đi vào chương trình giáo khoa. Có đoạn Xuân đọc gần như thuộc nằm lòng: “Sinh rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh liệt của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể trấn áp đuợc hết cả những lệ luật của tinh thần… Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường, nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ”. Bây giờ thì có thể tưởng tượng được rồi đây! Không biết là do đói hay do ánh nắng chiều sắp tắt chiếu thẳng vào mặt làm cho mắt hai bạn như mờ đi. Ôi! Qua Mỹ, đi tu nghiệp, có xe đưa đón, mà lại nhịn đói như thế này! Chuyện này mà kể ra chắc không ai tin. Không hẹn mà cả hai lại cùng đứng lên. Nhưng Xuân cảm thấy không còn sức. Còn Thu kêu lên nho nhỏ:
    – Ôi giời ơi!
    Xuân đang ỉu xìu nhưng cũng bật cười khi nghe tiếng than đó. Vừa lúc ấy chiếc xe mang dấu hiệu CDC hiện ra. Xuân vỗ tay. Còn Thu reo lên thất thanh:
    – Sống rồi!!!

    *
    Từ hôm sau đôi bạn luôn nhắc nhau đừng coi thường chuyện ăn uống. Mỗi sáng khi ăn điểm tâm Xuân đều bảo Thu:
    – Ăn nhiều nhiều một chút, trưa lỡ có ráng làm việc không có thì giờ nghỉ để ăn, thì cũng không bị đói.
    Còn Thu thì cẩn thận hơn, mỗi ngày đều tự tay gói ghém một ít bánh cookies, chips hay chocolate đem theo cho cả hai chị em. Nhìn những thức ăn đó, hai bạn nhớ đến buổi chiều khi đi làm fingerprint về đến nhà, người lả đi, hai bạn kịp thấy hai túi quà của người thư ký nhà trọ đưa cho hôm qua, chưa kịp mở. A, thì ra là “túi thức ăn cứu đói”! Nhà trọ đã dành cho mỗi người khách mới đến một túi như thế, bên trong có một phong bánh đậu phọng, một phong kẹo, một gói mì ăn liền, một gói trà, một gói cà phê và một gói đường. Hai bạn nhìn nhau rưng rưng nước mắt. Người ta thật chu đáo. Thế mà mình đã không biết đến điều này.
    Gọi là nhà trọ cho gọn, thật ra nơi Xuân và Thu cư ngụ trong suốt nửa năm ở Atlanta là một tòa nhà gần giống như khách sạn, nhưng trả tiền ở từng tháng, phòng ngủ riêng, còn thì sử dụng nhà bếp và phòng ăn chung nên có được bầu không khí như ở gia đình.
    Villa International, tên của nhà trọ là thế. Xuân và Thu hay gọi tắt tên nhà là “Villa”. Dần dần Xuân và Thu có dịp tìm hiểu thêm về Villa mới biết đây là nhà trọ lập ra do Hội Thánh Tin Lành để giúp đỡ những người đi học và tu nghiệp, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, có nơi ăn ở rẻ và thân mật…
    Villa International là một khu nhà hai tầng nằm ngay dưới chân đường đồi, hơi khuất sau một ngõ quanh. Có một khu đậu xe rộng rãi, rồi đến một khoảng sân xinh xắn với những bàn ghế nho nhỏ để mọi người có thể ngồi nghỉ chân. “Đi về Villa”! Sống nửa năm ở đó, nghe cũng thân ái khi gọi như vậy, giống như “đi về nhà”. Sáng dậy sớm, chuẩn bị ăn nhẹ rồi đi bộ qua CDC chỉ mất 5 phút. Trưa ăn tại cafeteria của trung tâm. Chiều về Villa nấu nướng với nhau và ăn tối. Đêm thì xem TV chung dưới phòng sinh hoạt, hoặc chơi bi-da, hoặc đọc sách trong thư viện. Và cũng có một nhà nguyện nho nhỏ dành cho những ai muốn vào cầu nguyện.
    Những cư dân của Villa đến từ khắp năm châu. Họ dễ hòa nhập với nhau trong bầu không khí thân thiện một “home-away-from-home”. Ngày ngày họ tỏa ra hai nơi để học và làm việc: CDC và trường đại học Emory. Cả hai nơi này đều gần Villa nên tất cả cư dân đều không phải sắm xe hơi hay bận tâm về các lộ trình xe bus. Rồi thì băng qua một con đường nhỏ, lên dốc một ngọn đồi khác là họ có thể đến một siêu thị để mua sắm thức ăn về dự trữ và nấu ăn hàng ngày. Cuối tuần lại có những tình nguyện viên làm việc trong Hội Thánh đến để lái xe đưa họ đi phố mua sắm hoặc du ngoạn các danh lam thắng cảnh. Muốn đi đâu khác nữa thì mọi người đã có xe lửa, xe bus. Và những chuyến xe bus của vùng này, đến và đi rất đúng giờ, mà cũng rất đặc biệt: rất vắng khách, ngoại trừ lúc giờ tan sở thì có hơi đông một chút, còn thường thì chỉ có một hay hai người khách là cùng, nếu không muốn nói là nhiều lúc chỉ có người tài xế trên xe.
    Những tháng ngày học hành và làm việc cũng khá bận rộn. Tuy vậy, Xuân và Thu cũng dành thời gian những dịp lễ để đi thăm bà con. Xuân có khá nhiều thân nhân ở rải rác khắp Hoa Kỳ, còn Thu chỉ có một người dì trước kia đi học ở Đông Đức rồi sau khi nước Đức thống nhất đã xin qua Mỹ ở lại. Xuân ít khi bàn đến chuỵên thời sự với Thu. Xuân không muốn những điều tế nhị ấy làm ảnh hưởng đến hòa khí tốt đẹp giữa hai bạn. Những người có duyên với nhau mới gặp được nhau. Cùng làm việc trong khoa học, thế là đủ rồi! Xuân tự dặn mình như thế và cảm thấy tâm yên ổn. Hằng đêm, hai chị em cùng ôn bài, bàn luận về công việc làm trong ngày, và rảnh rang thì cùng chia xẻ những câu chuyện về gia đình, chồng con. Xuân có hai cô cậu nhóc đang học trung học, còn Thu mới có một con trai hai tuổi. Nói chuyện về con cái bao giờ cũng là những đề tài vui và chẳng có gì để né tránh cả.

    *
    Một buổi trưa, khi Xuân và Thu đang đứng trong hành lang, một người đến trước mặt hai bạn, nhìn đăm đăm một chút rồi bỏ đi. Xuân kịp nhận ra chị là một phụ nữ đứng tuổi người Việt Nam. Chị đẩy một chiếc xe trên có một cái thùng to và các dụng cụ quét dọn cùng các chai hóa chất tẩy rửa. Bóng chị khuất sau khúc quanh dẫn đến khu nhà vệ sinh. Xuân và Thu hơi băn khoăn nhìn theo. Thu thắc mắc hỏi:
    – Nơi đây có nhân viên người Việt sao chị? Em tưởng chỉ có người đi học như chị và em….
    Thu bỏ lửng câu nói. Xuân im lặng. Chính Xuân cũng tự hỏi không biết người công nhân vệ sinh ấy là ai, gia cảnh thế nào. Trong đầu của Xuân vẽ ra nhiều giả thuyết.
    Bẵng đi vài tuần lễ, có một em trai nét mặt sáng sủa đến tìm hai bạn trong lab, ngỏ lời thay cha mẹ em mời hai bạn cuối tuần đến nhà em dùng cơm. Em cũng là người Việt, đang thực tập trong CDC chuẩn bị ra trường đại học. Tuy có hơi ngần ngại nhưng Xuân nhận lời, Thu thấy thế cũng đồng ý theo.
    Ngày gặp gỡ tại nhà của em trai sinh viên cũng là ngày hai bạn được biết mẹ của em chính là người phụ nữ trong hành lang hôm nọ. Những lạ lùng bỡ ngỡ nhanh chóng qua đi. Xuân và Thu được tiếp đãi với một bữa cơm Việt Nam thật ngon lành và… khá thịnh soạn. Trong ngôi nhà gọn gàng và đầm ấm, cha mẹ của em sinh viên không e ngại khi tâm tình cùng hai bạn.
    – Chúng tôi sang Mỹ theo diện H.O. Hai cô thấy đó, chúng tôi rất khó khăn trong hoàn cảnh mới. Nhưng chúng tôi không ngại. Ông xã tôi bao năm tháng ở trong “tù cải tạo”, tự học nghề mộc, nay xin làm công nhân trong một xưởng đóng bàn ghế. Tôi không có vốn liếng Anh văn, nên chấp nhận làm “nghề janitor”. Làm gì cũng được, miễn được sống lương thiện và có tiền. Chúng tôi vất vả kiếm tiền nuôi các cháu học lên tới đại học và dành dụm mua nhà, mua xe. Đâu có gì phải xấu hổ, phải không các cô?
    Xuân không nói gì, chỉ gật đầu cảm động. Nhưng Thu đang thấm nước mắt và nói hơi nghẹn ngào:
    – Em cảm phục anh chị lắm. Đồng tiền anh chị làm ra, thật quý báu. Bởi vì… nó thật sạch sẽ.

    *
    Thu theo Xuân đi đến thăm nhà những người thân của Xuân thường hơn. Hai bạn siêng ra phố, vào ăn tiệm Việt Nam và đem những tờ báo về đọc. Thu càng ngày càng tỏ ra đăm chiêu, trầm mặc.
    Nhiều khi hai bạn nhắc lại cái ngày bị nhịn đói và cười ngặt nghẽo. Có hôm đứng lại trước một shelter, Xuân chỉ vào những người đang sắp hàng nhận thức ăn và bảo bạn:
    – Thật ra bảo là qua Mỹ nhịn đói cho nó lâm ly ai oán, chứ ở Mỹ không lo đói, phải không Thu? Tụi mình đói có một bữa, đâu thấm gì so với cái đói của những người trong tù, cái đói của những em bé thất học lang thang ở đầu đường xó chợ, cái đói triền miên của những người dân, đói không chỉ miếng ăn, mà còn đói nhiều thứ khác, đói tự do, đói sự thật….
    Xuân nghẹn lời. Xuân không muốn nói thêm nữa…
    Thời gian thấm thoát qua nhanh. Hai bạn trở về Việt Nam. Những quyến luyến với các thành viên của Villa từ nhân viên cho đến người trọ học thật sâu sắc làm Xuân và Thu thấy rất bùi ngùi. Xuân cũng bịn rịn chia tay với gia đình người chị ruột qua cuộc thăm ngắn tại Cali. Rồi từ đó, Xuân và Thu, hai người bạn, hai chị em khác họ, cũng nói lời tạm biệt để sau đó kẻ nam, người bắc.
    Xuân đã có một quyết định. Nhìn tận mắt đất nước và con người tự do ở Hoa Kỳ, Xuân đã nhờ chị xúc tiến giấy tờ bảo lãnh đang chờ đợi. Xuân hiểu rằng ra đi đồng nghĩa với việc bỏ tất cả để làm lại từ số không. Cũng như những người bất chấp nguy hiểm đi trên sóng gió ngày trước vậy. Cũng như cha mẹ của em sinh viên kia vậy. Vợ chồng Xuân cũng sẽ như thế. Nhưng các con của Xuân sẽ có cả một chân trời của cơ hội.
    Hơn năm năm sau, vào cái ngày gia đình Xuân sắp rời Việt Nam, Xuân gọi điện thoại ra Hà Nội thăm Thu và vắn tắt báo tin. Đầu giây bên kia, giọng của Thu ướt sũng như chìm trong nước mắt:
    – Em chúc mừng chị, chúc mừng gia đình chị. Chị biết không, từ ngày đi tu nghiệp về, em đã có một cái nhìn khác đối với cuộc đời mà em vẫn sống. Ở đây, em sống trong một tầng lớp danh vọng, chức quyền, no đủ đến thừa mứa. Nhưng em ao ước mình cũng được ra đi như chị, để cho con em được sống trong một xã hội tốt đẹp hơn cái xã hội gian dối này. Chị ơi! Nếu được ban cho một điều ước, em xin ước rằng: “Em ước được là một “người làm nghề janitor” như người phụ nữ mình gặp trong CDC, chỉ để cho con em được giống như con của chị ấy, chỉ thế mà thôi!”.

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (nguồn: vietbao online)

  25. Mai
    21/08/2011 lúc 08:31

    Lá Cờ Cũ

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

    1
    – Ông John ơi! Hôm nay ông khỏe không ạ?
    – Cám ơn bé Tú. Ông khỏe. Bé thế nào?
    – Dạ cháu khỏe ạ.
    Ấy là tôi dịch lại theo kiểu tiếng Việt cho đúng cách ấy thôi, chứ nói chuyện với ông John tôi chỉ gọi ông bằng tên John, không có chữ “ông” và không có “thưa, ạ” chi cả. Tuy vậy, tôi vẫn tỏ ra được cái lễ phép và kính trọng đối với người lớn tuổi. Còn ông John thì hay gọi tôi là “Little Two”, bởi vì tên tôi là Tú.
    Từ ngày gia đình chúng tôi dọn về đây chưa đến một tuần, người hàng xóm mà chúng tôi gặp mặt thường xuyên hơn cả là ông John. Hình như ông cụ sống một mình trong căn nhà khá rộng. Nhà của chúng tôi cũng na ná như vậy, căn nhà ba phòng ngủ, nhưng gia đình chúng tôi thì đông vui lắm. Ông bà nội của tôi, ba má tôi, và tôi – như thế cũng đủ là một gia đình đông đúc. Vì tôi hay đùa nghịch, nên nhà của tôi rộn ràng luôn luôn. Ông bà nội hay chơi với tôi khi ba má tôi đi làm. Và khi nào tôi đi học thì ông bà nội sẽ có những việc khác: bà thì tụng kinh, dọn dẹp nhà cửa, ông thì đọc sách hoặc soạn bài, viết lách chi đó.
    Nhà ông John cách nhà chúng tôi bằng một vách rào thấp phía sân sau, còn phía trước thì ngăn cách bởi bốn cây hoa hồng xen kẽ với ba cây Thu-già. Tôi không nhắc đến nhà bên kia vì cũng na ná như vậy và mọi căn nhà của cả cái khu “xóm” nho nhỏ trong ngõ cụt (court) này hầu như đều đồng một dạng xây cất, cũng như sân vườn đều gần giống nhau. Tôi để ý đến nhà ông John nhiều hơn. Nhưng, tôi xin nhắc một chút xíu về mấy cây Thu-già trước đã. Hồi mới về đây, cái đầu tiên đập vào mắt tôi không phải là ngôi nhà, mà là ba cái cây cao ơi là cao ấy. Đối với một chú bé lên mười như tôi, ba cái cây đó quả thật đã gợi cho tôi nhiều điều tưởng tượng. Chúng vừa cao mà lại vừa ẻo lả mềm mại. Mỗi khi có gió thổi qua, tôi thấy như ba cây này uốn éo theo điệu nhạc trông thật là hay. Tôi hỏi ba tôi tên của cây này, ba tôi cho biết tên nó là Thu-già. Cái tên nghe cũng gợi hình nữa. Ông tôi thì bảo chúng giống như cây “Lá thuộc bài”. Thế là có một cuộc bàn bạc giữa ông và ba tôi. Ba tôi vốn là nhà sinh học nên cây cỏ hầu như rất quen thuộc với ba. Ba tôi bảo cây ấy có tên khoa học là “Thuja”, có loại cây cao ngất như cây trước nhà tôi, còn có loại chỉ thấp bé bằng tôi thôi, và lá của chúng chính là “lá thuộc bài” của thời ba tôi còn đi học, ngày xa xưa khi còn ở Việt Nam. Ba tôi còn kể nhiều mẩu chuyện thời học sinh gắn liền với những cây cỏ, vật dụng rất ngộ. Nhưng tôi có vẻ hào hứng với cái tên Thuja nên tôi đã nói trại ra là cây Thu-già. Tôi cũng hiểu nhiều tiếng Việt, tôi còn viết được tiếng Việt nữa, cho nên tôi hiểu nghĩa chữ “Thu” và chữ “già”. Rồi bỗng nhiên tôi cảm thấy mình thật thân với ba cây Thu-già ấy, như thể đó cũng là những người cao tuổi đã từng sống và sẽ sống ở nơi đây.
    Ông tôi hay ra sân tập thể dục mỗi buổi sáng. Và ông kết bạn với ông John trước tiên. Hai ông cụ cũng không có nhiều thời gian ngồi chung với nhau, vì sau khi tập thể dục thì ông John ra sau nhà để làm vườn, còn ông tôi lại thích đọc sách và viết bài. Có khi ông tôi đi cùng những người bạn, ông bảo ông đi họp. Nhưng đến một hôm, vào buổi ăn tối, ông tôi nói với cả nhà:
    – Bà và các con biết không, có một chuyện mà tôi rất thắc mắc, nhưng không dám nói với ông John.
    Bà tôi vừa gắp thức ăn bỏ vào chén cho ông, vừa hỏi:
    – Chuyện gì thế ông?
    – Mọi người có để ý thấy lá cờ bên sân nhà ông John không?
    Bà tôi nói:
    – Tôi ít khi ra phía trước, không để ý.
    Ba mẹ tôi cũng không. Còn tôi vì hay ra sân nên có thấy lá cờ, nhưng thường tôi hay lo những chuyện vui chơi nên cũng không để ý có gì lạ. Ông tôi nói với vẻ thắc mắc:
    – Cái lá cờ rách.
    – Ô, vậy sao? Bà tôi thốt lên.
    – Phải, lá cờ rách.
    Ba tôi nhíu mày:
    – Ồ, chẳng lẽ ông cụ không thể thay một lá cờ mới?
    Mẹ tôi thì đoán:
    – Chắc là ông cụ không thể đi mua.
    Ông tôi lắc đầu:
    – Không hẳn thế. Ba thấy ông John vẫn lái xe đi mà. Ông cũng tương đối khỏe mạnh đấy! Ông ấy ngoài bảy mươi, cũng như ba thôi.
    Tôi tham gia:
    – Hay là ông John không có tiền?
    Cả nhà cười vang. Mọi người dễ quên câu chuyện đó ngay, bởi vì má tôi đang bưng ra một món đặc biệt của Việt Nam: món canh chua.
    *
    2
    Thế nhưng tôi không dễ quên. Ngày nghỉ cuối tuần tôi đã mon men chạy qua sân nhà ông John. Ông đang tưới luống hoa hồng vàng. Tôi lên tiếng dĩ nhiên là bằng tiếng Anh:
    – Chào ông John buổi sáng. Ông khỏe không?
    – Chào bé Tú. Hôm nay cháu làm gì? Có đi chơi với ba mẹ không?
    – Dạ không. Cháu muốn sang giúp ông. Ông đang làm gì đó?
    – Ông tưới cây. Tưới đàng trước rồi ra tưới đàng sau. Bé Tú có thích ăn trái cây không?
    – Dạ cháu thích.
    – Thế thì tha hồ bé Tú ăn các trái cây ông trồng.
    – Cám ơn ông. Thích quá!
    Ông John ngừng tay, nheo mắt tránh tia mặt trời buổi sáng đang chiếu chói lọi.
    – Thế ông của bé Tú đâu?
    – Dạ ông của cháu sắp đi họp. Cứ cuối tuần là ông đi họp ạ.
    – Hay quá! Chắc là ông của bé Tú có một hội giải trí vui vẻ.
    – Cháu không biết. Nhưng chắc là ông vui.
    – Vậy bé Tú ở đây chơi, muốn làm gì thì làm nhé!
    Tôi đưa mắt nhìn lên cây cột cờ cao. Sáng nay gió nhiều, tôi đã thấy lá cờ tung bay phất phới trông vui lắm. Nhưng bây giờ tôi cũng thấy đúng như lời ông tôi nói, lá cờ ấy rách vài đường theo chiều của những sọc ngang, có lẽ những đường chỉ may đã bị mục. Chưa hết, màu cờ đã đổi, không còn giống một lá cờ kiểu mẫu. Tuy là vẫn còn rõ nét những ngôi sao và những đường sọc nhưng màu sắc trông tái nhợt. Tự nhiên tôi có một cảm giác rất khó tả. Tôi muốn hỏi ông John một câu gì đó nhưng khó mở lời. Ồ, chắc là ông tôi cũng đã khó mở lời như vậy.
    Thấy tôi cứ nhìn mãi lên ngọn cờ, ông John vui vẻ hỏi:
    – Sao bé Tú, cháu nhìn cái gì đó?
    – Cháu nhìn… cháu nhìn lá cờ…
    – Có gì lạ không cháu?
    Tôi cảm thấy có thể hỏi được rồi, tôi hỏi:
    – Ông John ơi, cái lá cờ ấy… ông treo… đã bao lâu rồi hở ông?
    – Từ tháng chín năm ngoái bé ạ!
    Tôi ngập ngừng:
    – Có bao giờ ông mang xuống không hở ông?
    – Không.
    – Thế… thế lúc ông treo, nó… có lành lặn không hở ông?
    – Có, có chứ!
    – Thế…
    Tôi bí rồi! Biết hỏi gì nữa bây giờ? Tôi không muốn hỏi tại sao cái lá cờ ấy lại rách như thế, vì mọi đứa trẻ thông minh đều có thể tự trả lời là bao nhiêu nắng mưa sương gió trong một năm đã làm cho nó ra như vậy. Tôi đang lựa lời để nói thì ông John lại hỏi tôi:
    – Thế bây giờ ông đố bé Tú tại sao mà ông lại cứ treo lá cờ rách ấy?
    Tôi cắn môi. Ái chà, câu mà tôi muốn hỏi ông, bây giờ ông lại đố tôi. Tôi chưa nói được gì thêm thì có tiếng chuông điện thoại vang trong nhà. Ông John chạy vào nghe điện thoại, khi ông ra, nét mặt của ông lộ vẻ không vui. Tôi cũng chưa kịp nói gì thì có một bà cụ mũi cao, da trắng, đứng dừng ở trước cổng nhà ông. Bà cụ lên tiếng:
    – Xin lỗi, cho tôi gặp ông John…
    – Dạ, chào bà Ann. Có việc gì thế thưa bà?
    Bà cụ bước vào thêm bên trong sân, chỉ tay lên lá cờ:
    – Xin ông thứ lỗi cho, nhưng tôi không thể không nói. Ông có thể thay một lá cờ mới không ạ? Tôi đã thấy nó rách từ cả tháng nay, chẳng lẽ ông không quan tâm?
    – Thưa bà, tôi quan tâm lắm chứ!
    – Vậy thì… là một người hàng xóm của ông, tôi khuyên ông nên thay một lá cờ mới đi. Con cái chúng tôi cũng thắc mắc lắm, nhất là các cháu học sinh, cháu còn nói rằng ở nhà trường có dạy là chúng ta phải tôn quý lá cờ của đất nước ạ!
    Ông John vẫn bình thản:
    – Thưa bà, tôi rất tôn quý lá cờ đấy ạ!
    Bà cụ Ann lộ vẻ mất kiên nhẫn, giọng bả hơi cao lên:
    – Nhưng… ồ… nhưng ông treo lá cờ rách bạc màu…
    – Thưa bà không sao đâu, tôi vẫn quý lá cở ấy lắm!
    Bà cụ lắc đầu như tỏ ý không hài lòng. Bà nói nhanh:
    – Tôi quý ông nên có mấy lời. Tôi chỉ mong ông mau thay lá cờ mới để cho lối xóm được yên tâm. Xin kiếu ông.
    Bà cụ vừa khuất sau khúc quanh, ông John cười nói với tôi:
    – Bà ấy hiện chưa yên tâm.
    Tôi không cười theo ông. Ông nói như phân trần với tôi:
    – Bé Tú thấy đấy, không phải chỉ bà cụ này đâu nhé! Mỗi ngày ông phải nói chuyện với ít nhất là năm người hàng xóm hoặc người đi đường, chưa hết, lại còn vài cú điện thoại giống như cú điện thoại hồi nãy đấy.
    – Rồi ông trả lời họ ra sao hở ông?
    – Họ không bắt ông giải thích, nên ông đâu có giải thích làm gì. Họ chỉ đề nghị ông treo lá cờ mới, thì ông bảo là ông sẽ thay.
    Ông John cười thích thú. Tôi cũng thấy ông có lý. Ông nhắc lại câu đố và cho tôi thời gian một ngày để suy nghĩ.
    *
    3
    Cuối tuần trôi qua rồi, nhưng tôi chưa nghĩ ra lời giải. Trong những ngày ở nhà tôi thấy những người dừng chân nói chuyện với ông John, người da trắng có, người da đen có, người gốc Á có, người gốc Mỹ La-tinh có… nói chung là ai cũng bày tỏ sự quan tâm đối với lá cờ. Vài ba người tỏ vẻ khó tính. Nhưng ông John vẫn bình thản hứa với họ là ông sẽ thay lá cờ mới. Thế thôi!
    Cho đến ngày thứ hai đầu tuần, khi ba má đón tôi đi học về, chúng tôi bước vào nhà thấy ông bà tôi đang chăm chú xem ti-vi. Ông bà gọi ba má và tôi lại cùng xem. Chúng tôi kêu “ồ” lên, kìa, ông cụ John xuất hiện trên màn hình! Người phụ trách tiết mục, trạc tuổi ba tôi, đang phỏng vấn ông John. Ông hỏi cái gì thì ông John trả lời cái nấy, cũng y như khi ông trả lời những người hàng xóm vậy. Ba tôi nói nhỏ:
    – Ông cụ này có lẽ hơi gàn ba ạ! Con phục người phụ trách này thật kiên nhẫn.
    Ông tôi nói:
    – Này, nghe ông ấy giải thích kìa!
    Trên màn ảnh ti-vi, ông cụ John trả lời:
    – Tháng chín năm ngoái, khi con trai tôi là Joe từ giã tôi để đi qua chiến trường Iraq, hai cha con tôi đã cùng treo lá cờ lên cái cột cờ thật là cao trước sân nhà tôi, lá cờ quý vị đang thấy trong phim bối cảnh đó. Chúng tôi hứa với nhau là đợi khi Joe về hai cha con sẽ cùng thay một lá cờ mới. Thật ra, cái lá cờ này, ngay lúc được treo lên, nó cũng đã là một lá cờ cũ, nhưng còn lành lặn lắm. Đó là cái lá cờ mà khi tôi còn trẻ, tôi đi khắp nơi để làm nhiệm vụ một người lính, tôi đã mang theo bên mình. Đó là lá cờ mà cha tôi đã cho tôi. Lá cờ này mang tình thương của cha tôi, cũng là tình yêu của một công dân sống trong đất nước tự do này, đã che chở tôi trong suốt những cuộc hành quân. Giờ đây tôi vẫn tin là nó sẽ bảo vệ con trai tôi bình an, dù con tôi không mang theo, nhưng trong ý nghĩa tình yêu của tôi cho con trai, lá cờ cũng luôn ở bên nó, bảo vệ nó. Tôi sẽ cùng con tôi thay một lá cờ mới, vâng, tôi đã hứa với con tôi như thế, và chúng tôi sẽ giữ lời.
    Tôi nhìn thấy gương mặt của ông bà và ba má tôi như giãn ra. Ai cũng như cất được gánh nặng. Riêng tôi, tôi không nén được, vỗ tay thật giòn, reo lên:
    – Ông cụ John thật dễ thương!
    Đêm hôm ấy, tôi thấy ông tôi ngồi một mình nơi phòng khách. Tôi ngạc nhiên, đi đến gần ông. Tôi thấy ông cầm trên tay một lá cờ vàng. Lá cờ nền vàng với ba sọc đỏ. Lá cờ này đối với tôi không lạ, vì tôi vẫn thấy trong những dịp lễ, Tết, nơi những khu có người gốc Việt như chúng tôi sinh sống, những lá cờ vàng được treo rất trang trọng và tung bay phất phới. Ông bà và ba má tôi thường bảo với tôi đó là lá cờ của người Việt quốc gia. Tôi còn biết cả những điều khác nữa. Đó là lá cờ được treo trong các trường học. Ba tôi khi còn học trung học, có lần đã khóc nói với cô giáo người Mỹ xin hãy cho treo lá cờ vàng, bởi vì đó là lá cờ mà những người Việt quốc gia đã giữ gìn và mang theo trên mọi nẻo đường đi tìm tự do.
    Thấy tôi, ông vẫy tay, và kéo tôi lại ngồi gần ông. Tôi thấy trên mắt ông long lanh giọt lệ. Tôi ngồi bên ông, lặng yên. Tôi đã mười tuổi, tôi biết chia xẻ là như thế nào. Hai ông cháu cứ yên lặng như thế…
    Tôi bỗng nghe tiếng ông tôi cất lên bên tai tôi, trầm trầm:
    – Ông cụ John thật là hạnh phúc, phải không cháu?
    – Dạ.
    Ông tôi im lặng. Tôi hỏi:
    – Sao nữa hở ông?
    – Ông cụ John đã cùng con trai treo lá cờ trước sân nhà ông.
    Tôi ngơ ngác:
    – Ông cũng vẫn mang cờ ra treo trước sân. Cháu thấy ông treo cả cờ Mỹ và cờ Việt.
    – Đúng vậy.
    – Ông có thấy hạnh phúc không?
    Ồ, lần đầu tiên tôi dùng chữ “hạnh phúc”! Dù tôi là đứa trẻ nói giỏi tiếng Việt, tôi cũng chưa từng nói như thế bao giờ. Tôi biết nói “vui”, “mừng”, thế thôi; chữ “hạnh phúc” tôi hiểu nhưng không biết áp dụng. Bây giờ tôi nói theo ông tôi một cách tình cờ, nhưng bỗng nhiên tôi thấy mình hiểu rõ ý nghĩa của nó. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của ông tôi đang khao khát một điều gì còn hơn cả cái vui được sống bình an hằng ngày, bên vợ con cháu chắt.
    *
    4
    Anh Joe con của ông cụ John đã bình an trở về. Ông John vui không thể tả. Dĩ nhiên là những người hàng xóm, trong đó có nhà chúng tôi, đã đến chia vui cùng ông. Những người sống lâu năm ở đây không xa lạ gì với anh Joe, nhưng câu chuyện về lời hứa giữa hai cha con họ về lá cờ, qua cuộc phỏng vấn trên ti-vi vừa rồi mọi người mới hiểu. Người cha cựu quân nhân và người con đang ở trong quân đội, hôm nay có thể cùng nhau thay cái lá cờ cũ rách bằng một lá cờ mới tinh. Ông John khoe với mọi người rằng lá cờ cũ kia sẽ được ông giữ gìn như một báu vật.
    Buổi chiều sau khi qua nhà ông John thăm hai cha con ông về, ông tôi rủ tôi cùng đi bộ với ông vì bà tôi có bạn đến thăm nên bà không đi cùng với ông được như thường ngày. Hai ông cháu đi qua những con đường sạch sẽ của khu “xóm”, hít thở làn gió mát và ngắm nhìn những vườn hoa của từng nhà. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp những người đi ngược chiều lại họ cũng đang đi bộ – và dù quen hay không quen, họ và chúng tôi cũng vui vẻ chào nhau. Những lúc như vậy, tôi thấy ông tôi cười thật tươi, nụ cười của một người không lo âu phiền muộn.
    Xong cuộc đi bộ, hai ông cháu về đến sân nhà. Tôi lại còn tiếp tục những hoạt động vui chơi của tôi trước khi đi tắm rửa và làm bài tập. Ông tôi ngồi lại nơi chiếc ghế đá trong sân. Bỗng nhiên tôi nghe một tiếng động lạ vang lên, như có một cái gì rơi. Tôi kịp bước đến và thấy ông tôi đã ngã trên nền gạch. Ông nằm bất động. Tôi la lên thất thanh. Bà tôi hoảng hốt từ trong nhà chạy ra, rồi đến ba má tôi. Một chiếc xe cứu thương được gọi đến ngay, đưa ông tôi vào bệnh viện.
    Ông tôi mê man vì bị đứt một mạch máu ở sâu trong não. Bác sĩ bảo tuổi già là như vậy, và khuyên mọi người kiên nhẫn chờ đợi, hy vọng sau khi được cứu chữa ông tôi sẽ hồi phục. Các bác, các cô của tôi từ những tiểu bang khác vội vàng bay về thăm ông. Những người bạn của ông cũng đến. Có người tóc đã bạc phơ. Có người còn khá trẻ so với ông. Qua câu chuyện trao đổi giữa họ với gia đình tôi, tôi mới hay họ là những người đã từng cùng chiến đấu bên cạnh ông tôi trong thời gian ông ở trong quân đội. Ôi, ông của tôi đã từng là một người lính. Một người lính, danh từ thật tốt đẹp mà tôi đã biết. Ba tôi giải thích cho tôi nghe những đoạn đời ông tôi đã trải qua, khi ông còn trẻ như ba tôi bây giờ. Ba tôi kể cho tôi nghe như trò chuyện với một người lớn . Vâng, tôi lên mười, tôi đủ hiểu hết mà!
    Ông tôi nằm trên giường, trong phòng hồi sức. Khi mọi người được phép vào thăm, ba tôi xin với y tá cho tôi được đến gần bên ông. Tôi rón rén bước tới. Ông tôi còn phải thở bằng máy trợ hô hấp. Hơi thở của ông yếu ớt lắm. Ông trông khác hẳn với con người hăng hái vui vẻ hàng ngày. Mái tóc của ông mới qua hai hôm mà đã bạc thêm nhiều lắm. Đôi mắt ông nhắm nghiền. Qua vầng trán của ông, tôi hình dung ra hình ảnh một thanh niên tuổi xuân phơi phới đang bước đều nhịp theo điệu quân hành, giữa đoàn hùng binh oai dũng. Người thanh niên tốt nghiệp trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, dấn thân vào những chiến trường gian khổ, nắng sương nhuộm vai áo trận. Người thanh niên ấy chưa từng biết than thở, chưa từng biết chùn chân. Cũng qua vầng trán của ông, tôi thấy một người trung niên đảm đương trọng trách vừa nhà binh vừa dân sự ở những quận nghèo xứ Quảng, được sự thương yêu và tin cậy của đồng đội và dân chúng. Cũng qua vầng trán của ông, tôi thấy một người cầm súng chiến đấu đến giờ phút cuối cùng của cuộc chiến, không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Người đó lặng lẽ đi vào những trại tù ở những nơi núi cao, rừng sâu, suốt dọc từ nam ra bắc. Mười hai năm nhọc nhằn. Mười hai năm bào mòn tuổi trẻ. Cũng qua vầng trán của ông, tôi thấy hình ảnh một người cao tuổi đang dạy dỗ và truyền lại cho những người trẻ lòng tin và sự trung thành đối với một quê hương. Ba tôi, người con trai út của ông, cũng như các bác các cô của tôi, ai cũng dạy cho con cái họ nói, đọc và viết tiếng Việt. Tôi mười tuổi, tôi hiểu mà!
    Tôi rút từ trong cặp sách của tôi ra một vật và nhẹ đặt vào tay ông: lá cờ vàng ba sọc đỏ mà ông đã giữ gìn và khoe với tôi đêm nọ, tôi đã xin ông cho tôi được giữ. Tôi ước ao ông tôi có được cái điều mà ông gọi là “hạnh phúc”, thứ hạnh phúc ông tôi thèm được có như ông cụ John và con trai của ông ấy. Hai cha con họ đã đường hoàng treo lá cờ trên cột cờ trong sân nhà họ, trên mảnh đất của họ, có thể ngẩng mặt giơ tay chào lá cờ đất nước của họ một cách hiên ngang. Ông ơi! Ông sẽ cùng ba của con, và còn có con nữa, thằng cháu cưng của ông đây, treo lá cờ vàng này trên quê nhà của ông, của chúng con, nhé ông! Ông can đảm, ông dẻo dai như cây Thu-già trước nhà mình nhé ông! Ước mơ của ông chưa đạt được, vậy xin ông hãy mở mắt. Xin ông hãy tỉnh dậy! Ông ơi! Ông ơi!…

    Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    (nguồn: vietbao online)

  26. Nguyễn thị Nha Trang
    21/08/2011 lúc 13:17

    @ Phay Van : Thật nồng ấm và hạnh phúc không gì so sánh được với cái tình của bạn Mai , khi bạn ấy đồng cảm chia sẻ một cách chân tình bằng…loạt những comments đầy ý nghĩa như thế ! Phay Van hãy nâng niu và trân trọng cái tình ” Tri âm ” này của bạn Mai , cô chủ nhé !

    @ Mai : Chào bạn !
    Nha Trang cũng là 1 bạn khách mới – cũng tình cờ khi gặp entry về bìa báo Tuổi Hoa – gần đây của cô chủ đáng yêu này ! Cảm ơn bạn Mai về những truyện ngắn của Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh trong loạt comments của bạn nhiều nha !
    Mong bạn dành thời gian ghé nhà Phay Van chơi thường xuyên…

    Thân ái ,

  27. Mai
    22/08/2011 lúc 20:15

    Cám ơn bạn Nha Trang với những tình cảm nồng hậu đã dành cho Mai. Thăm tất cả các bạn.

  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: