TẠI SAO TRI ÂN TPB VNCH?

Tự bạch
TẠI SAO TRI ÂN TPB VNCH?

(Nguồn: Tinmungchonguoingheo.com)

Tôi nhận thấy mình có bổn phận trình bày cho chính tôi và mọi người về một việc có liên quan đến tôi trong một thời gian dài. Nội dung trình bày này không áp dụng phổ quát cho những ý niệm khác có cùng những hạn từ hoặc tương tự, mà chỉ áp dụng duy nhất cho Chương trình Tri ân TPB VNCH (từ nay gọi tắt là Tri ân) đã được chúng tôi – một số tu sĩ DCCT, giáo dân và anh chị em lương dân – thưc hiện từ 29.07.2013 đến 15.05.2019.

Trước đây, tại Chùa Liên Trì, hoạt động chăm sóc TPB VNCH không mang tên Tri ân. Chỉ từ ngày 29.07 nói trên, mới có tên Chương trình Tri ân như đa số đã biết.

1. Tại sao làm việc bác ái hay từ thiện mà lại tri ân (cám ơn)?

1.1. “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1Cr 12,7). Đây là chỉ thị của Chúa qua thánh Phaolô cho dân thánh, để mọi người không tự cao tự đại mình có nhiều khả năng, nên mình làm gì giúp ai thì người thụ ơn phải biết ơn. Không! “Thần Khí [ơn riêng, khả năng,… – AT] tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung”. Thiên Chúa ban ơn cho tôi vì lợi ích của mọi người, không phải nhằm kiến tạo uy tín hay giá trị riêng của tôi. Do đó tôi không có quyền gì để đòi người khác phải chịu ơn tôi. Ngược lại, tôi phải chịu ơn người đón nhận sự phục vụ của tôi, vì nhờ họ, Thiên Chúa mới ban ơn cho tôi, để tôi sống cuộc đời trọn vẹn chứ không nhàm chán hay sợ hãi. Phải tri ân là vậy!

1.2. Tri ân TPB VNCH, ngoài ý nghĩa cốt yếu tâm linh vừa đề cập, chúng tôi biết rằng những ông bà TPB đã đổ máu và đã bỏ lại một phần thân thể để chu toàn trách nhiệm công dân của họ, nơi tôi đã được sinh ra và đang sống. Đa số các vị đáng kính trong các tôn giáo đã được xã hội ủy thác một trách nhiệm khác, nên đã không đổ máu mình ra trong các trận chiến khốc liệt mà quý ông bà TPB phải đối diện và phải trả giá. Có thể vài người sẽ cho rằng mỗi người một trách nhiệm, họ trả giá bằng thân xác, còn tôi thì cũng đã trả giá bằng tâm linh,… Vậy bình đẳng, sao lại phải tri ân? Trọng kính quý vị cao nhân vĩ đại ấy, chúng con nghiệm được máu là sự sống, máu đổ ra là sự sống đổ ra cho những người không đổ tí máu nào được sống an nhiên tự tại. Quý ông bà TPB đã hoàn thành sứ mạng công dân khi quốc gia cần. Phải tri ân là vậy!

2. Tại sao tri ân lại có sự phân biệt đối xử VNCH với CHXHCNVN?

2.1. Trước nhất, nếu bàn đến phân biệt đối xử thì TPB VNCH đang bị phân biệt đối xử. Tất cả các anh chị thương binh của CHXHCNVN đã được hưởng lương hàng tháng, an sinh sức khỏe và an sinh xã hội với chính danh là thương binh. Thậm chí những người là mẹ, cha, con cái của các anh chị thương binh cũng được hưởng một phần nào đó. Mọi chi phí cho các hoạt động này đều được trích từ nguồn tiền thu thuế quốc gia. Trong khi đó, các ông bà TPB VNCH không được hưởng bất cứ thứ gì sau cuộc chiến, mà ngươc lại còn bị miệt thị là “ngụy quân ngụy quyền”, “làm tay sai cho giặc”,…

Như vậy, đúng ra chính phủ phải lo chung cho tất cả thương binh, cả VNCH và CHXHCNVN, vì sau khi thống nhất đất nước, chính thể này thừa hưởng mọi phúc lợi của quốc gia bị sát nhập vào như ngân khố, tài nguyên, và các lợi thế khác. Tuy nhiên, chính phủ CHXHCNVN chỉ chăm lo thương binh của VNDCCH và CHXHCNVM mà thôi, còn TPB VNCH bị bỏ mặc và kỳ thị.

2.2. Với khả năng tài chánh giới hạn của DCCT (mỗi tháng, DCCT Sài Gòn tài trợ cho Phòng công lý hòa bình 5 triệu và các chi phí chung về điện nước, phòng ốc) và các ân nhân, Chương trình Tri ân không thể đủ sức lo cho mọi người thương binh, mà buộc chúng tôi phải biện phân và chọn lựa.

Căn cứ Hiến pháp DCCT, điều 4 viết: “Trong những nhóm cần đến sự trợ giúp thiêng liêng hơn cả, chúng ta đặc biệt chăm sóc người nghèo, người thấp hèn và người bị áp bức. Việc rao giảng cho những người này là một dấu chỉ của sứ vụ thiên sai (x.Lc 4,18), và Chúa Kitô cách nào đó, đã muốn đồng hoá chính mình Người với họ (x.Mt 25,40) – Among groups of people more in need of spiritual help, they will give special attention to the poor, the deprived and the oppressed. The evangelization of these is a sign of messianic activity (cf. Luke 4:18), and Christ, in a certain sense, wished to identify himself with them (cf. Matt. 25:40)”.

Dựa theo Quy luật chung DCCT, điều 09b viết: “Tu sĩ DCCT không bao giờ được giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu của người nghèo và người bị áp bức, nhưng phải có nhiệm vụ tìm kiếm những phương cách giúp đỡ họ, để chính họ có thể lướt thắng những sự ác đang đè nặng họ. Yếu tố chủ đạo của Tin Mừng này phải không bao giờ được thiếu vắng trong việc rao giảng Lời Chúa – Redemptorists can never be deaf to the cry of the poor and the oppressed, but have the duty to search for ways of helping them, so that they themselves will be able to overcome the evils that oppress them. This essential element of the Gospel must never be lacking in the proclamation of the word of God”.

Chúng tôi chọn thực hiện Chương trình Tri ân TPB VNCH sau khi đã biện phân. Chọn lựa này chỉ là một phân khúc nhỏ trong bối cảnh nước Việt Nam “không chịu phát triển”, nên chúng tôi khuyến khích và rất vui mừng, nếu có những cá nhân và tổ chức khác thực hiện việc tri ân cho các anh chị thương binh CHXHCNVN.

3. Chương trình Tri ân TPB VNCH của cá nhân, của nhóm linh mục hay của cả DCCT?

Với nguồn kinh phí rất khiêm tốn của DCCT Sài Gòn chi cho Phòng công lý hòa bình (mỗi tháng, DCCT Sài Gòn tài trợ cho Phòng công lý hòa bình 5 triệu và các chi phí chung về điện nước, phòng ốc) và với sự ghi nhận của Giáo hội cũng như xã hội qua cách nói: “DCCT làm”, “các cha DCCT thực hiện”, “mấy ông DCCT”,… cho thấy đây là công cuộc chung, tuy nhiên do một số anh em với những đặc sủng riêng trực tiếp thi hành.

Lm Antôn Lê Ngọc Thanh, CSsR

Đá Đợi

Truyện ngắn
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

1
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Đoan mỉm cười. Cũng là một dịp được dậy sớm, được nếm mùi giá lạnh, được thấy có những người “biết lo xa” như mình. Trông cũng trật tự, đàng hoàng lắm. Vài người như còn ngái ngủ, ngồi thụp xuống trên chiếc túi xách, nhắm mắt cho đỡ mỏi, đợi. Vài người như khó chịu khi phải im lặng quá lâu nên tìm chuyện để nói. Một người đàn bà bắt chuyện với Đoan:
“Chà! Không biết họ chạy xe xăng hay xe than há em!”
Đoan giật mình, đáp:
“Dạ, em không biết nữa!”
Người phụ nữ chép miệng:
“Cầu Trời cho có xe chạy xăng. Đi xe than ngán lắm!”
“Chắc không đâu! Em nghĩ chạy đường đèo mà dùng xe than chắc không nổi.”
Nói rồi Đoan cũng cảm thấy lo. Biết đâu do thời buổi khó khăn, người ta cũng phải chạy xe than, loại xe “cải tiến” trong thời khan hiếm xăng dầu. xem tiếp

Chuyên mục:Văn Thẻ:

Con Chiên Ngày Thứ Năm Tuần Thánh

18/04/2019 2 comments

Con_chien

Buổi sáng ngày Thứ Năm Tuần Thánh, ba đi tập nghi thức ở nhà thờ, mang về một bộ áo dài khăn đóng và một cây gậy sơn màu vàng. Tôi chạy ra đỡ cây gậy bằng gỗ nặng chịch từ tay ba.
– Năm nay ba làm ông Tông Đồ nữa hở ba?
– Ừ!
– Ba làm ông Phêrô hở ba?
– Không, ba không được làm ông Phêrô. Ông Phêrô phải đi đầu tiên.
– Thế ba làm ông gì?
– Ông Giacôbê.
– Tại sao ba làm ông Giacôbê?
– Tại ba đứng ở giữa hàng.
– Ba đừng làm ông Giuđa, ba há.
– Ừ, không làm.
– Ông Giuđa xấu, ba há.
Ba im lặng không trả lời. Tôi nhắc lại:
– Ông Giuđa bán Chúa, là người xấu, ba há? À, chiều nay ba nhớ mang thịt chiên về cho con nhé!
– Ừ, con ăn mấy nắm?
– Ba nắm! Tôi giơ nắm tay nhỏ xíu của mình lên.

Buổi chiều hôm đó, trong cái nóng hầm hập và ngột ngạt của mùa hè, ba nghiêm nghị mặc áo dài trắng, quần trắng, đội khăn đóng màu đen, tay chống cây gậy gỗ, xếp hàng theo đoàn rước mười hai ông Tông Đồ, thong thả tiến lên gian Cung Thánh. Mười hai ông, ngồi thành hai hàng ghế, oai vệ chờ được rửa chân. Cha xứ lần lượt quỳ xuống trước mặt từng ông, cúi xuống rửa chân rồi cẩn thận lau lại bằng một cái khăn bông trắng toát. Trong khi các ông Tông Đồ hoan hỉ xỏ chân lại vào giày thì cha xứ đẫm mồ hôi, quay trở lại bàn thờ tiếp tục làm lễ.

Con chiên được làm bằng xôi trắng, nằm trên một cái mâm đồng. Người ta chắc phải nấu nhiều chõ xôi, để có thể nặn ra một con chiên “khổng lồ” như thế. Rồi dính bông gòn bên ngoài làm lông chiên. Tôi nín thở nhìn cha xứ rưới cồn lên và châm lửa. Lửa xanh, rồi lửa đỏ loang loáng phủ khắp mình chiên, rồi bốc cao. Con chiên cháy đùng đùng một góc bàn thờ.

Con chiên ngày Thứ Năm Tuần Thánh của năm 1975 cũng là con chiên bị sát tế cuối cùng của tuổi thơ tôi. Những năm sau 1975 khi miền Nam rơi xuống “vực thẳm” (chữ của nhà văn Mai Thảo), cả nước đói nghèo, người ta không còn làm con chiên bằng xôi nữa. Thậm chí cả Thánh lễ cũng làm “chay” vì không có bột mì làm bánh lễ. Giáo dân đi dự lễ nhưng không được rước lễ, phải rước lễ tưởng tượng, gọi một cách văn vẻ là “rước lễ thiêng liêng”.

Miền Nam của tôi từ đó đẫm máu và nước mắt. Miền Nam của tôi có khác nào con chiên bị sát tế trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh? Miền Nam của tôi đã bị bán đứng cho những mưu đồ chính trị của các cường quốc. Bốn mươi năm nay, dân tộc tôi vẫn chưa có ngày phục sinh.

Tuy thế, tôi vẫn không bỏ mất niềm hy vọng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Tôi vẫn mong mỏi sẽ có ngày không còn bóng dáng độc tài cộng sản. Sẽ có ngày Chúa Nhật Phục Sinh trên quê hương tôi.

Chuyên mục:Khác Thẻ:

Lời Gió Mang Xuân Về

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

1
Ông pha cho mình một ly trà. Nói là “pha” cũng hơi quá, vì chỉ cần bỏ túi trà vào ly, đổ nước sôi vào, chờ màu nước vừa đủ đậm là có thể uống được. Tự lúc nào, những thói quen hàng ngày đã được đơn giản hóa tối đa. Ông mỉm cười, mở máy. Bài viết dang dở đang chờ ông tiếp tục. Ông nhắp một ngụm nước trà, cúi xuống bàn phím.
“Năm ấy, chàng mãn khóa, chờ ra đơn vị. Những gì cần phải làm là thu xếp mớ “hành trang” còn bề bộn trong trí, là tận hưởng những giây phút “còn được tự do” để thăm hỏi bạn bè, để dạo phố cùng người yêu, và nhất là để về thăm Mẹ nơi quán nhỏ trên đồi…”
Chà, nghe thơ mộng, trẻ trung dữ! Ông cười một mình. Khi viết về chàng trai trẻ, mình dùng chữ “chàng”, nhưng nếu để viết về mình bây giờ, chắc phải gọi là “ông.” Thì cũng như trong các truyện ngắn, truyện dài thế thôi! Hễ có tuổi thì được gọi là “ông.” Ông nhớ bài luận đầu tiên của mình được cô giáo khen và cho tám điểm là bài nói về “ông tôi.” “Ông tôi” trong bài luận đó… còn trẻ hơn mình bây giờ!
Nhắc đến ông, lại nghĩ đến thằng cháu. Ông nhớ nó quá! Đã hơn một tháng nay chưa gặp nó. Ba má nó hứa Tết sẽ cho cháu về thăm. Ừ thì Tết sẽ gặp. Còn tới hơn hai tháng nữa. Ông lắc đầu, cười. Thôi, mình có công việc của mình, thì giờ đâu mà buồn!
Ông lắng tai nghe. Tiếng gió! Phải, tiếng gió. Ông cúi xuống, gõ tiếp.
đọc tiếp

Chuyên mục:Văn Thẻ:

Thơ Còn Mãi Trong Tâm

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
.
(Chú thích: Những đoạn thơ trong bài xin được trích từ các tác phẩm của Nhà Thơ- Người Lính Trần Miên Trường.)
.
1
Bà nội hờn mát nói:
“Cái thằng ni, đi mô mà đi hoài!”
Long cười, nịnh bà nội:
“Con đi lính mà, nội! Làm lính thì đi hoài là phải rồi. Nội muốn mua chi, con mua cho?”
Bà nội lườm:
“Mua chi mà mua? Mi đi miết, vô mà lấy vợ trong Nam đi!”
“Dám lắm á! Con làm thiệt đó nội!”
Anh buồn cười, quả là mình đã “lây” nhiều tiếng miền Nam lắm rồi. Lần nào về nhà cũng vậy, cứ chạy theo mà phân trần với nội cũng đủ hết ngày. Còn nữa, phải phụ mẹ làm mọi chuyện, cái gì trong nhà, sau vườn, cần sửa là anh sửa. Nhà không có đàn ông.
Năm nay rất hên là mình được nghỉ phép vào dịp Tết. Mọi năm thì không, đến Tết là phải cấm trại. Cầm giấy phép trong tay, bay vù ra Huế liền, thăm bà nội, mẹ và các em. Chà, cái tụi nhỏ, ngoan thì cũng ngoan mà “lý sự” cũng nhiều. Mình làm anh cả mà đi hoài, các em phải tự “coi” nhau. Long thở dài, miễn sao tụi nó giữ được lòng nhân hậu là được. Nơi mảnh quê hương tội nghiệp này, bao nhiêu điều đã đổ vỡ, tan nát sau một trận chiến. Cũng sau trận chiến đó, anh vào lính. Tính đến nay đã được hơn hai năm, anh mang màu áo hoa dù.
Một đôi mắt tròn xoe đang nhìn anh. Đôi mắt như đang muốn hỏi anh một điều gì. Anh bế cô bé lên. Chà, em nhẹ tênh như một con búp bê. Thương quá!
xem tiếp

Chuyên mục:Văn Thẻ:

Lời Cho Bố Những Ngày Đi Biển

Phan Đức Quý
(Bán Nguyệt San Ngàn Thông số 17, ngày 05/01/1972)

.
Tưởng niệm ngày Hoàng Sa.
Cám ơn Anh Đinh Thanh Nguyện đã scan tặng số báo này.

.


.

.

.

Tôi coi khinh Luật an ninh mạng

.
FB Phạm Đoan Trang
.
12-6-2018
Hôm nay (12/6/2018), sau khi cái quốc hội bù nhìn của đám đại biểu đảng cử, đảng quán triệt bầu kia thông qua luật An ninh mạng, liệu những tiếng nói phản biện hoặc chỉ đơn giản là những lời oán thán, thở than về cuộc sống ở xứ độc tài này còn tồn tại không?

CÒN CHỨ. Đơn giản bởi vì quyền được viết, được nói, được chia sẻ quan điểm, cảm xúc là quyền gắn bó với từng cá nhân mỗi người từ khi chúng ta ra đời đến lúc chúng ta chết đi. Không thế lực nào có thể làm chúng ta câm miệng được, thần thánh cũng như ma quỷ. Huống chi trong trường hợp này, không phải thần thánh hay ma quỷ gì mà chỉ là một lũ người tăm tối, ngu muội, đang phè phỡn trong thứ quyền lực mà chúng cướp được của nhân dân, và đang vẫy vùng trong quyền lực ấy vào những năm tháng giãy chết của chúng.

Những người nào vốn sợ tà quyền thì đã sợ rồi. Suy cho cùng, chưa có luật An minh mạng thì an ninh cũng đã bắt bỏ tù hàng trăm blogger kia mà. Còn những người nào vốn đã không sợ thì càng chẳng có lý do gì để sợ những kẻ họ đã quá khinh bỉ.

Về mặt kỹ thuật, hoàn toàn có những cách khả thi để người dùng Internet ở Việt Nam tự bảo vệ mình khỏi luật pháp của tà quyền. (Nghe thật mỉa mai cho hai từ luật pháp, bởi bản chất luật pháp là để bảo vệ tự do của người dân chứ đâu phải công cụ để độc tài thi hành chuyên chính). Tường lửa cao đến mấy cũng có cách vượt, mật mã phức tạp đến mấy cũng có cách giải mã, thì tương tự, cũng chẳng khó khăn đến mức tuyệt vọng cho hàng triệu người dân dùng kỹ thuật giấu IP, tự bảo vệ mình mà vẫn có thể sử dụng mạng để thực thi quyền tự do thông tin, tự do biểu đạt của mình.

Về mặt luật pháp, không ai có thể nắm chặt tay từ tối đến sáng, không kẻ độc tài nào có thể kiểm soát 100% đời sống của nhân dân, kể cả trong chế độ toàn trị như Việt Nam. Đơn giản là chúng không đủ nguồn lực, nhất là trong tình trạng kinh tế sa sút, ngân sách thâm hụt, lòng dân đổ vỡ ở Việt Nam hiện nay. Sau khi luật An ninh mạng được thông qua, liệu an ninh ra quân ồ ạt được mấy tuần? Một vài chục người lên tiếng còn có thể bị bắt lẻ tẻ, tới hàng trăm người lên tiếng thì an ninh còn đủ đồn và lính để bắt dân về “làm việc”, còn đủ nhà tù để nhốt dân, còn đủ tiền để thuê dân phòng, tổ trưởng dân phố hay tổ phụ nữ “xuống cơ sở” giáo huấn dân không?

Về phần mình, tôi biết tôi sẽ chẳng thay đổi gì cả, nghĩa là sẽ tiếp tục đả kích không khoan nhượng cái đảng độc tài đang cầm quyền và những thế lực đang cắm đầu gục mặt bảo vệ nó mà chống lại nhân dân. Tôi cũng sẽ rất vui nếu có thể trở thành một trong những người đầu tiên vào tù vì cái gọi là “luật An ninh mạng” của nhà nước CHXHCN Việt Nam.

Làm dân ở một xứ độc tài nghĩa là có những người phải chấp nhận mất mát chỉ để vạch mặt những tội lỗi của nhà cầm quyền. Như vô số công dân vô tội đã chết, đã ngồi tù hay đã hoá điên vì phải là nạn nhân của những chính sách hay những lần thay đổi chính sách tăm tối, đểu giả của “đảng và nhà nước”. Như hàng chục người ứng cử độc lập đã chấp nhận sự sỉ nhục để tranh cử và chứng minh bản chất đê tiện của đảng Cộng sản cũng như trò hề bầu cử mà đảng bày ra. Như hàng trăm blogger đã và đang ngồi tù để phơi bày sự bạo tàn và hèn hạ của một thể chế chống lại nhân dân. Đó là một điều rất đau đớn nhưng không phải là không có ý nghĩa.

Chuyên mục:Xã Hội Thẻ: