Trang chủ > Tem, Xã Hội > Di cư 1954- 1955: Cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân

Di cư 1954- 1955: Cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân

Khoảng năm 1978- 1980 tôi bắt đầu có những bạn học mới người Bắc, đó là các bạn có cha mẹ là cán bộ nhà nước chuyển công tác vào miền Nam. Các bạn đang học chương trình phổ thông hệ 10 năm, chuyển vào Nam tự động được nhảy lên hai lớp rồi… nghiễm nhiên học chung với chúng tôi, và tất nhiên là sức học của các bạn rất kém. Đặc biệt tới giờ ngoại ngữ thì các bạn được miễn học, vì các trường miền Nam chỉ dạy tiếng Anh và tiếng Pháp.

Dần dà chúng tôi bớt kỳ thị, thay vào đó chúng tôi giúp các bạn trong việc học để họ theo kịp chương trình. Tuy thế, trình độ hai nhóm học sinh Bắc và Nam vẫn là một khoảng cách không thể lấp được.

Thế rồi nhiều năm sau, những bạn ngày xưa ấy (dù rằng cái sự học rất kém), cũng đã được học hành và rồi trở thành cán bộ nhà nước. Còn chúng tôi, cái đám con cái “ngụy quân ngụy quyền”, do cái gọi là nền giáo dục ưu việt xhcn, đã chẳng thể len vào đại học. Tới phiên họ ái ngại cho cái hoàn cảnh của mình. Tự nhiên mình trở thành kẻ đáng thương trong mắt họ. Tới nhà bạn chơi, sợ “được” cha mẹ bạn nhìn bằng con mắt thương hại, tôi phải nói ngay, vẻ hãnh diện (khi được hỏi về thân thế): Cháu là Bắc 54!

Sau này trong một buổi tiệc, một vị là phó giám đốc một công ty quốc doanh đã ngạo mạn gọi người Bắc 54 là dân “đuổi tây quá đà chạy tuốt vô miền Nam”. Vì đã kinh nghiệm về cái sự học của các bạn thời phổ thông nên tôi dõng dạc nói thẳng vào mặt ông ta mà rằng: “Tôi là Bắc 54 đây, và tôi rất hãnh diện về điều đó”.

.

Nhân tháng Bảy về, thân mời quý bạn xem hai con tem (tỉ lệ 2:1) hiện tôi may mắn còn giữ. Phần thuyết minh lấy từ 20 Năm Bưu hoa Việt Nam 1951-1971 (Phủ Quốc Vụ Khanh xb 1971) của Nhà sưu tập Nguyễn Bảo Tụng.

Năm Thế-Giới Giúp Người Tỵ-Nạn

Giá tiền 0đ50-hồng; 3đ00-xanh lá cây; 4đ00-đỏ, da cam; 5đ00-tím. Họa sĩ Nguyễn-Minh-Hoàng vẽ. Do nhà in tem thơ, Đại lộ Brune Paris. Số lượng in: 0đ50-1 triệu , 3đ00-1 triệu, 4đ00-1 triệu, 5đ00-1 triệu. Phát hành: ngày 07/04/1960 ngày khai mạc tuần lễ triển lãm về “Năm Thế-giới giúp người tỵ-nạn” tại Phòng Thông-Tin Đô-Thành Saigon”.
Đề tài: con tem diễn tả một gia-đình tỵ-nạn, trên bước đường di-cư, mang theo một bao đồ, một chiếc va-li, tất cả của cải còn lại của họ, ở góc trái tem, hình vẽ một cây mất rễ, tượng-trưng những người tỵ-nạn, không còn nơi nương-tựa, được Liên-Hiệp-Quốc nâng đỡ. Nhật ấn: Nhật-ấn “Ngày đầu tiên” tại Chánh-Thâu-Cuộc Bưu-Điện Sài Gòn.

*

Thống-Nhất

Giá tiền 0đ30-xanh lá cây đậm, xanh dương, nâu; 0đ50-rượu chát, vàng, xám; 1đ50-xanh dương đậm, xám. Số lượng: 0đ30- 1 triệu; 0đ50- 1 triệu; 1đ50- 1 triệu. Hình do họa sĩ Nguyễn-Minh-Hoàng vẽ. Do nhà in tem thơ, Đại lộ Brune Paris ấn loát. Phát hành: ngày 20/07/1964 nhân ngày “Quốc-Hận” đánh dấu chia cắt lãnh thổ quốc-gia. Đề tài: Mẫu tem hình dung hai miền phân tách nhuộm hai mầu sắc riêng biệt, ở giữa là bản đồ Việt-Nam chia làm hai đoạn do một chiến tuyến rõ rệt. Hàng đầu phác họa chân dung một thanh niên cường tráng, biểu hiệu cho người dân miền Nam, giơ tay đón tiếp đồng bào miền Bắc, thân thể ốm yếu, quần áo tả tơi, cánh tay bị xiềng xích. Dấu đặc-biệt: a) Nhật-ấn “Ngày đầu tiên” tại Chánh-Thâu-Cuộc Bưu-Điện Sài Gòn. b) Dấu cổ động tại các Bưu-cục lớn.

*

Ngày 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève về Việt Nam được ký kết. Vĩ tuyến 17 đã là ranh giới chia đôi hai miền đất nước. Gần một triệu người miền Bắc đã rời bỏ quê hương di cư vào Nam.

Xin trích lại một số đoạn trong bài “Nhìn lại cuộc di cư 1954- 1955” của Giáo sư Nguyễn Văn Lục (nguồn: DCVOnline)

——————

Nay tôi nhìn lại cuộc di cư ấy trước hết là sống lại hình ảnh kỷ niệm quá khứ.

Như một cái vẫy cánh của một con chim xa tổ, đã lìa cành, nhìn lại.

Đó là thời đại của cuộc di cư không tiền khoáng hậu đã để lại dấu tích không phai nhòa trong mỗi mảnh đời…

… hình ảnh bà mẹ còn giữ lại chiếc đồng hồ quả lắc cũ treo trên tường cũng như những tấm phản đã mang vào miền Nam mà cho đến bây giờ, bà vẫn nằm trên đó. Hay hình ảnh đồng bào Thiên Chúa giáo xứ Kẻ Sặt còn mang theo quả chuông nhà thờ. Họ đã để lại hết, nhưng quyết đem cho bằng được quả chuông này tượng trưng cho niềm tin sắt đá của họ.

Và đó là tất cả phần đời của họ còn lại.

Sau nữa nhìn lại chiến dịch Operation Passage to Freedom của Hải quân Mỹ để thấy rằng không có chiến dịch này, cuộc di cư của gần một triệu người có thể không trọn vẹn…

Việc di cư ấy nói cho cùng chỉ là sự kéo dài tình trạng trốn chạy cộng sản mà không phải đợi đến Hiệp định Geneva, 1954. Ngay từ đầu thập niên 1950, phong trào tỵ nạn cộng sản đã thành hình dưới hình thức “phong trào nhập thành”, hay nói nôm na là phong trào “dinh tê”. Đã có bao nhiêu người tìm mọi cách dời bỏ khu “an toàn Phát Diệm”, thoát đi bằng đường biển, từ cửa Cồn Thoi, ra Hải Phòng vào những năm sau 1950? Và đã có bao nhiêu người có tiền bạc của cải đã chạy trốn vào Nam khi mà Hiệp định Geneva chưa thành hình?

Theo nhận xét của phần đông thủy thủ Mỹ, nhiều người di cư đem theo những thứ lỉnh kỉnh không có đáng một đồng xu. Như một cái chậu, một cái thùng bằng nhựa, một tay nải quần áo cũ. Những thứ lỉnh kỉnh không đáng gì. Phải, nothing, nhưng lại chính là gia tài của họ.

Sản nghiệp ra đi có khi không có gì, có khi chỉ là đôi tay nải. Nhưng lòng lại tràn ngập niềm tin tưởng.

Hình ảnh con tầu LST (*) rất quen thuộc đối với người tỵ nạn vốn chỉ dùng để chuyên chở xe tăng, vũ khí hạng nặng dùng để giết người, nay chở những con người tỵ nạn bất hạnh. Và đã có 26 chiếc. (Có tài liệu viết 74 chiếc là không đúng, vì tất cả số tầu của Hải quân Mỹ tham dự vào chiến dịch là 113 chiếc bằng nhiều chuyến hải trình Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn). Dù chỉ là chiếc tàu nhỏ, bình thường chở được 170 người, tối đa 700 người, nhưng trường hợp khẩn cấp, có thể chở đến cả 1000 người di cư. Các tầu LST có thể cập bến dễ dàng để vớt người tỵ nạn, sau đó có thể dùng để chở ra các tầu lớn. (Trích Operation Passage to Freedom, Ronald B. Frankum, Jr. trang 137)

Đó là những chiếc LST- 526, LST-803, LST-825, LST- 840 v.v… Nhiều bạn đọc có thể còn nhớ tên những chiếc tầu LST thân yêu này…

Các tầu há mồm LST là biểu tượng cho những con tầu chở người di cư

Những người di cư ấy đều quyết tâm, như thế mới đi được. Người ta nói đến cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân. Có đến gần 1 triệu đôi chân đã bỏ phiếu như thế. Đó là đôi chân trần, chưa hề biết xỏ chân vào đôi giầy, đôi dép. Họ là những người dân quê nghèo nàn, cơ cực.

Cũng không phải chỉ có đa số là người Thiên Chúa giáo di cư như đã có sự hiểu lầm từ trước đến giờ. Cuộc di cư 1954-1955 là của toàn thể dân chúng miền Bắc, Kinh có, Thượng có và đủ thành phần xã hội và tôn giáo.

Họ thuộc đủ loại người, đủ thành phần xã hội. Đồng bào các tỉnh miền Thượng như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang (vốn là những nơi sào huyệt của Việt Cộng) cũng cùng với đồng bào Thượng ở Hòa Bình bỏ lại tất cả rừng núi quen thuộc lần mò về Hà Nội để vào Nam. Đã có hơn 10 ngàn người Nùng ở Hòn Gai được di cư dưới quyền Đại tá Sung. Có 2340 người Nùng gốc Tầu đi vào Nam ngày 02/09 trên tầu Montrose. Có chuyến tầu như Beauregard chở các người thuyền chài và gia đình họ mang theo cả dụng cụ đánh cá. Đặc biệt hơn cả, có những gia đình và có khi cả một làng ở trong các vùng do Việt Minh kiểm soát như Vinh, Nghệ An tìm cách trốn thoát khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Tỉ dụ dân chúng ở Ba Làng, huyện Tĩnh Gia tụ họp hơn 2 vạn người đòi di cư bị Việt cộng nã súng bắn giải tán.Tỉ dụ những người di cư ở Vinh đà trải qua bao gian nan, khốn khó mới tìm được con đường đi đến tự do. Sau này, họ tụ tập định cư trong khu vực Bình Giả, Bà Rịa.

Trên bước đường đi tìm Tự do, nhiều người đã lên được tàu, nhưng vì quá mệt mỏi, kiệt sức đã chết trên tầu.

Căn bệnh sốt rét và sự ốm yếu chung đã gây nên chết chóc cho nhiều người. Người ta nhận thấy rằng tình trạng cơ thể của người Việt Nam khi họ lên những chiếc tầu Mỹ thường là tuyệt vọng. Nhiều người Việt Nam đã phải đi những đoạn đường rất dài để đến trung tâm tiếp cư, thường là nguy hiểm cho chính bản thân họ và ít khi mà không có sự gian khổ. (Trích OPTF, trang 82).

Nhưng nếu tính chung tất cả cuộc di cư thì đã có 66 người di cư chết trên biển vì nhiều nguyên do, nhưng đồng thời ghi nhận có 184 trẻ sơ sinh trên các tầu chiến.

Và còn bao nhiêu người bỏ xác trên biển trên những bè mảng ghép vội vàng để đi tìm tự do?

Tình trạng đó cho thấy người di cư đã phải trả giá cho chuyến hành trình đi tìm tự do của họ.

…hình ảnh một bà cụ cõng cháu gái di cư, mang tương lai tuổi trẻ lên đường. Hay câu chuyện về những trẻ em Việt Nam thưởng thức món quà tự do. Đó là những chiếc kẹo Mỹ mà lần đầu tiên trong đời các em đã được ăn.

Henry Đỗ, một trong những đứa trẻ đã nhận ăn cái kẹo do người thủy thủ Mỹ cho năm 1954 viết lại như sau:

“I cannot forget the first moment I stepped onto a American ship to go to South Vietnam. A sailor handed me a candy, at the moment, I could not say thanks in English… Oh, my God, it was very very delicious. It was the best candy in the world. 21 year after, the sweet moment I meet the candy again at American soil…I can eat the candy anytime I want, but I didn’t eat many candy…I eat the candy only I want to remember the sailor and the ship that brought me and my family to the freedom land”. (Trích lại trong bài viết Passage to Freedom in Việt Nam của Gertrude Samuels, số tháng 6-1955)

Tôi không thể quên được cái giây phút đầu tiên tôi bước lên một chiếc tầu Mỹ để đi đến miền Nam Việt Nam. Người thủy thủ đưa cho tôi cái kẹo. Lúc ấy, tôi không nói được câu cám ơn bằng tiếng Anh. Ôi, trời ơi! Ngon thật là ngon. Cái kẹo ngon nhất thế giới. Hai mươi mốt năm sau, cái giây phút dễ thương là khi tôi lại trông thấy kẹo ở đất Mỹ. Tôi có thể ăn kẹo bất cứ lúc nào tôi muốn, nhưng tôi không ăn nhiều kẹo đâu… Tôi ăn kẹo chỉ để muốn nhớ đến người thủy thủ và chiếc tầu đã đưa tôi và gia đình đến vùng đất tự do.

Có những cuộc chia lìa bà con, anh em, họ hàng, làng nước.

Cũng đành đoạn mà bỏ đi thôi. Nào ai muốn thế đâu? Sau này, liên lạc Bắc Nam giới hạn vào một tấm bưu thiếp in sẵn…

Bên cạnh những khổ đau, cuộc di cư ấy không thiếu những nét đẹp

Tôi vẫn thấy đẹp và ý nghĩa là câu chuyện do một anh thủy thủ người Mỹ tên John Ruotsala trên chiến hạm Montrose (*) kể lại như sau:

Khi bước lên tầu, các người di cư phải xịt thuốc DDT để diệt trừ chấy rận (1). Nhiều người di cư hoảng sợ vì phải cởi quần áo, nhất là phụ nữ. Trong đó có trường hợp một bé gái khoảng 9 tuổi bế đứa em khoảng 3, 4 tuổi. Thủy thủ Mỹ đã chẳng may xịt thuốc vào mắt đứa em 3 tuổi. Nó khóc, chị nó bình tĩnh dỗ dành em và lau mắt cho em. Sau đó như không có chuyện gì xảy ra, ôm em bước lên thang để lên tầu.

Câu chuyện có vẻ bình thường, nhưng lại là những hình ảnh đẹp nhất trong cuộc di cư này.

Nó cho thấy tình nghĩa đùm bọc của gia đình Việt Nam, cho thấy tình chị em, cho thấy tình người, cho thấy tình liên đới nhân loại vượt lên trên những dấu ấn chính trị vốn đè nặng lên tâm trí người tỵ nạn.

Trong số những người mới di cư vào Nam thì đến 60% là nông dân, 10% là dân thuyền chài. Còn lại trải đều cho công chức, sinh viên, thợ thuyền và người buôn bán.

Những người dân nghèo, 80%, ít học tưởng đi theo Việt Minh mới phải thì lại là thành phần đông đảo sợ hãi cộng sản nhiều nhất. Và đi nhiều nhất. Đi rất đông. Đi cả nhà. Và nhất là đi cả làng. Không phải một làng mà nhiều làng. 25 ngàn người trong cùng khu vực không hẹn mà cùng nhau bỏ ra đi.

*

Cuộc di cư 1954-1955 dưới mắt người Cộng sản

Không gì tức tối bực bội hơn cho chính quyền cộng sản là chiến thắng xong, đuổi được thực dân Pháp phải ra đi. Vậy mà vô lý thay gần một triệu người đã ùn ùn kéo nhau bỏ chạy cộng sản. Gần một phần mười dân số toàn miền Bắc đấy. (Miền Bắc gồm 12 triêu người và chiếm 60.900 dặm vuông, miền Nam 11 triệu người và chiếm 66.300 dặm vuông) Ngay những người dân trong vùng bị Việt Minh kiểm soát từ 1946 như Vinh, Nghệ Tĩnh càng lo bỏ chạy bán sống bán chết. Họ phải hiểu tại sao chứ? Họ phải làm gì để hàng triệu người đã trốn chạy như vậy? Phải có một câu trả lời chứ?

Nhưng họ cố tình không cần biết điều ấy và tìm cách bôi nhọ hình ảnh cuộc di cư 1954-1955.

Vì thế, họ đã cho xuất bản cuốn sách: Sự thật về vấn đề di cư ở Việt Nam, Hà Nội. Sự thật của họ không phải là sự thật của người di cư. Cuốn sách này không dễ mấy ai còn giữ lại. Nhưng nó được tuồn sang Pháp. Sau này, ông linh mục, giáo sư Trần Tam Tỉnh, dạy ở tỉnh bang Québec, Canada đã dùng tài liệu này viết một cuốn sách rất bôi bác và tồi tệ về cuộc di cư này, đó là cuốn Dieu et César. Les catholiques dans l’histoire du Việt Nam, Rome ngày 19/05/1975. Vương Đình Bích, môt linh mục nữa đi theo cộng sản mà tôi gọi là một trong bọn Tứ nhân bang đã chuyển ngữ ra tiếng Việt và đã đổi nhan đề cuốn sách thành:Thập giá và lưỡi gươm. Vương Đình Bích cũng bỏ không dịch câu: Les catholiques dans l’histoire du Viet Nam. Sự tùy tiện của Vương Đình Bích còn thấy ở phần cuối cuốn sách. Ông đã bỏ phần Bibliographie selective của tác giả. Ông tự nhét thêm bài viết của Nguyễn Quang Huy, trưởng ban tôn giáo chính phủ về vấn đề phong thánh vốn chẳng ăn nhập gì với cuốn sách Dieu et Cézar. Đồng thời cho in bức thư chung của Hội đồng giám mục Việt Nam 1986. Phần ông Trần Tam Tỉnh, trong lời nói đầu của cuốn sách, ông đã viết:

Ce livre écrit avec amour par un des membres fidèles, de cette église catholique vietnamienne, n’a autre ambition que de présenter la vérité historique. Cuốn sách này được viết ra do một trong những đứa con trung thành của giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam, không có một tham vọng nào khác ngoài việc trình bày sự thật lịch sử.

(Trích Dieu et César, Trần Tam Tỉnh, trang 13)

Nay thì chúng ta thử tìm hiểu xem, căn cứ vào cuốn sách để thứ tìm hiểu thứ lịch sử mà ông Trần Tam Tỉnh đưa ra là thứ lịch sử nào, một thứ lịch sử sao chép theo tài liệu của cộng sản Hà Nội trong cuốn: Sự thật về vấn đề di cư ở Việt Nam?

Và đây là những sự thật dưới mắt Hà Nội:
– Có những tin đồn rằng quân Mỹ sẽ ném bom nguyên tử tiêu diệt miền Bắc.
– Đức mẹ được giao chức năng chính trị là để giải thoát những kẻ tôn sùng ngài.
– Chúa Ki tô đã đi vào Nam.
– Đức mẹ đã rời bỏ Bắc việt. Trong tập Passing the Torch, một trong những tuyển tập gồm 18 cuốn cũng nêu ra một nhan đề như sau: “The Blessed Virgin is moving South”, trích trang 95 (Đây là một vài khẩu hiệu mà ngày nay đọc lại người viết không mấy làm thích thú. Những khẩu hiệu này do đại tá Edward Lansdale in và phổ biến chung quanh Hà Nội và Hải Phòng. Sau này đại tá Lansdale được giải thưởng: Distinguished Service Medal on January 8, 1957. Ông là người trực tiếp chỉ huy những chiến dịch tâm lý chiến vào giữa thập niên 1950, Psychological war-fare projects).
– Lời một nhân chứng: Tôi không cầm nổi nước mắt, họng tôi nghẹn ngào, trí óc ghi sâu bức tranh thảm cảnh di cư đó của những con người vô tội bị giật lôi ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, rồi bị bốc lên xe, chở đi và bị đối xử chẳng khác nào những súc vật người ta chở tới lò mổ. Một bầu khí rất nặng nề, còn những người ở lại thì nín bặt không dám nói ra, vì chắc là sợ bị trả thù bởi những tay bạo chúa tổ chức di cư.
– Một tổ chức phá hoại có hệ thống tại Hà Nội trước khi quân Pháp rút đi, chẳng hạn sẽ làm hỏng kho dầu xe buýt, phá hư các máy móc và đặt mìn đánh sập chùa Một cột, ngôi chùa đầy giá trị lịch sử và tôn giáo có từ hằng trăm năm.
– Giám mục Phát Diệm, Lê Hữu Từ thì nhảy lên chiếc ca nô cuối cùng của quân Pháp đang rời cảng, bỏ quân lính của ông tại chỗ. Một vài tên thấy giám mục mình hành động hèn nhát như thế, bèn nổi giận đến nỗi lấy lựu đạn ném theo ông.
– Bị các linh mục lôi kéo vào cuộc mạo hiểm nhục nhã và bi đát này, họ cảm thấy mình bị bỏ rơi do sự phản bội của quân Pháp.
– Việc Đức mẹ hiện ra: một linh mục đã dàn dựng mặc áo Đức mẹ cho một thiếu niên và đã cho em đứng vào sau bàn thờ Đức mẹ Fatima. Trước mấy cây nến lung linh, một vài nhà “đạo đức” coi đó là Đức mẹ hiện ra, nói với họ một giọng dịu dàng nhưng minh bạch rằng, phải từ bỏ đất Cộng sản với bất cứ giá nào, mà tìm lánh sang vùng đất tự do, Đức mẹ sắp bỏ miền Bắc. (Trích dẫn tóm tắt Thập giá và Lưỡi gươm, Trần Tam Tỉnh, từ các trang 101-112)

(…)

Bên cạnh đó là những tin đồn mà các thủy thủ Mỹ thu lượm được qua những người di cư kể lại lúc lên tầu do Việt Minh tung ra như sau:

– Người Mỹ cắt tay của trẻ sơ sinh và quẳng đàn bà xuống biển, còn đàn ông thì bắt đi làm cao su cạo mủ tại các đồn điền cao su.
– Tầu há mồm ra đến biển thì há mồm ra, rồi xô đẩy người ta xuống biển.
– Với những áp lực đủ kiểu, nhờ một lối tuyên truyền xảo trá, tạo ra một cơn hốt hoảng tinh thần nơi dân chúng công giáo.
– Một khi bầu khí hoảng loạn thì mạnh ai nấy chạy, trong khi đó từng toán xe tải nhà binh tiến vào các làng để bốc hốt đi thật nhanh, kể cả dùng bạo lực cưỡng ép tất cả dân chúng.

Giáo sư Nguyễn Văn Lục (nguồn: DCVOnline)

————

Một số hình ảnh về Cuộc di cư 1954- 1955 (nguồn: internet)

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.

.


.

.

.

.

.

.

—————-
(*) LST: Landing Ship Tank, tầu đổ bộ xe tăng- dùng để chuyên chở xe tăng, xe cộ… còn được gọi nôm na là tầu há mồm.

Chuyên mục:Tem, Xã Hội Tags:
  1. Đinh Thành
    11/07/2012 lúc 12:42

    “Tôi là Bắc 54 đây, và tôi rất hãnh diện về điều đó”.

    Rất chính xác, cô Phay Van!
    Một bài viết minh chứng nhé…

    KHÁC BIỆT NAM – BẮC

    Không, tựa đề không hàm ý chia rẽ Bắc – Nam, mà chỉ muốn giới thiệu một vài nhận xét của ông Đặng Phong (một nhà lịch sử kinh tế) về tình hình kinh tế ở miền Nam trước 1975. Tôi còn nhớ ông Đặng Phong còn có một cuốn sách với nhiều số liệu thống kê cho thấy nền kinh tế miền Nam trước 1975 đã xấp xỉ Singapore (và Hàn Quốc ?).

    Đọc những nhận xét của ông Đặng Phong làm tôi nhớ đến thời mới “giải phóng”…
    Thời đó, các bác ngoài Bắc vào giảng dạy chúng tôi rất nhiều điều “lạ”. Ấn tượng nhất vẫn là “Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mĩ”. Một ông chính trị viên Thanh Hóa nói xùi bọt mép (vâng, tôi nhớ rất rõ) một cách hùng hồn: Bọn Mĩ Ngụy chúng nó cho các anh nhiều thông tin, để làm gì các anh biết không? Để đánh lạc hướng các anh, để làm các anh rối rắm, không phân biệt được thật với giả, đúng với sai, để chúng rảnh tay cai trị các anh. Chúng tôi chỉ cung cấp thông tin đủ để các anh quyết định. Lúc đó, tôi chưa mường tượng được ý nghĩa của lời nói này. Nhưng chỉ hơn 2 năm tôi đã hiểu ông nói gì. Ôi, một thời mông muội.

    Theo tôi, chẳng những kinh tế, mà nền giáo dục ở miền Nam lúc đó cũng tốt hơn bây giờ rất nhiều. Thời đó, học sinh đều phải học thật, thi thật, và thi cử cực kì nghiêm túc. Hồi đó cũng có chuyện thi dùm này nọ, nhưng rất hiếm, và khi phát hiện thì bị xử lí theo pháp luật rất nghiêm chỉnh. Ngày xưa, thầy ra thầy, thợ ra thợ. Còn bây giờ thì ôi thôi, thầy thợ lẫn lộn cả. Loạn chuẩn mực. Sư sĩ loạn lên cả. Lại còn “phó tiến sĩ”, rồi tự nhiên một đêm thành tiến sĩ. Lại thêm cái gọi là “Tiến sĩ khoa học”! Còn “cao học” thì hô biến một phát thành “thạc sĩ”, thay đổi ý nghĩa của agrégé bao đời nay. Bác sĩ thì chuyên khoa I, chuyên khoa II, làm thế giới chẳng hiểu đó là gì cả. Thật hết biết!

    Thời tôi học tiểu học và trung học còn có môn “Công dân giáo dục”, dạy học trò cách cư xử xã hội, yêu kính người chung quanh. Ấy vậy mà nay nền giáo dục bên nhà mới bắt đầu nói đến chuyện dạy “kĩ năng sống” cho học trò!
    Hóa ra, nền giáo dục thời đó đã đi trước khá xa so với bây giờ?
    Nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc kể rằng: ” Nhà phê bình Hoài Thanh, sau năm 1975, Hoài Thanh và bà vợ dọn vào Sài Gòn ở. Có hai hay ba lần gì đó, đâu khoảng 1980, một người thầy cũ thường rủ tôi đến thăm ông. Câu chuyện thường lan man từ văn học đến xã hội. Một lần, Hoài Thanh chép miệng nói, đại khái:
    – “Bản chất của chế độ nguỵ là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi rối rít. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”

    ( nguồn: tuan’s blog )

    • 11/07/2012 lúc 17:25

      Cảm ơn bác Đinh Thành đã giới thiệu bài viết. Nhưng có câu này: “Bản chất của chế độ nguỵxấu vậy mà không hiểu sao…”. Cuối cùng thì ông HT vẫn là ông HT từng viết bài lên án nặng nề nhóm NVGP, vẫn… lòi cái đuôi.

      Kính mời bác Đinh Thành đọc một đoạn của Hoàng Hải Thuỷ trích trong bài này: NGƯỜI, BIỂN và CÁ

      Ðọc “Viết về bè bạn” của Bùi Ngọc Tấn, tôi khó chịu khi thấy nhiều đoạn có những tiếng “Ngụy, Ngụy quân đầu hàng.” “Biển và Chim Bói Cá” còn làm tôi khó chịu hơn.

      Biển và Chim Bói Ca. Trích:

      Xác lính ta, lính ngụy chết thối rừng. Những đoàn lính ngụy bị bắt làm tù binh mới tiều tụy làm sao. Quần áo tả tơi. Ống quần cắt cụt, xẻ toang tới đũng để vừa đi vừa đái, bởi trong khi đang áp giải trên đường thì không một tù binh nào có thể dừng lại.”
      “Anh bao nhiêu tuổi? “
      “Dạ con năm mươi hai.”
      “Sao già thế còn đi lính cho nó?”
      “Dạ con trốn nhưng không được. Con đâu có ủng hộ chính phủ Thiệu.”
      Vưà lúc ấy một chiếc máy bay bay qua, người lính Sài Gòn kêu lớn:
      “Máy bay ông Thiệu đấy!”
      Và biết mình lỡ lời, anh ta hét lên:
      “Máy bay thằng Thiệu đấy.”
      Rồt hát rất đúng điệu, rất hùng hồn:
      “Thề cứu lấy nước nhà
      Thề hy sinh đến cùng
      Việt Nam anh dũng xông tới
      Việt Nam đã đến rồi..”

      Ngưng trích “Biển và Chim Bói Cá.”

  2. Đinh Thành
    11/07/2012 lúc 12:50

    Tôi nhơ nhớ có bản nhạc: “ANH GIẢI PHÓNG TÔI hay TÔI GIẢI PHÓNG ANH” của cố Ns Trịnh Lâm Ngân thì phải?
    Nếu đúng và có thể tìm được thì cô Phay Van có thể post lên để mọi người cùng nghe, được chứ?

    • 11/07/2012 lúc 17:03

      Dạ, mời bác Đinh Thành nghe nhạc nhé:

      • Võ Trung Tín
        11/07/2012 lúc 21:45

        Đọc bài, rồi đọc còm của bác Đinh Thành, còm của chị Năm và nghe clip bản nhạc…
        Tự nhiên nhớ lại…Ròm em đã có từng đọc 2 bài viết này: một là của một người trẻ là con cháu chiến binh VNCH, và một là của một “trí thức” đã hấp thụ nền giáo dục “ưu tú” miền bắc xhcn trước 1975…
        Họ đã viết…
        Ròm em mời cả nhà cùng đọc….

        KHI NGƯỜI TA GỌI BÁC CỦA TÔI, BA TÔI VÀ ANH TÔI LÀ…”GIẶC” !
        ( Tác giả: Đặng Bình Diễm Chi )

        Trước giờ vẫn nghe câu “Thắng làm vua, thua làm giặc” và “Kẻ thắng viết nên lịch sử”, nhưng chưa từng thấm thía nó như lúc này!

        Ngày còn cắp sách đến trường, mỗi thứ hai đứng chào dưới cờ tổ quốc, gào lên cùng lũ bạn “…cờ in máu chiến thắng” mà không biết rằng lá cờ ấy cũng có thấm máu của người thân mình, những dòng máu bị rẻ khinh, không được thừa nhận!

        Khi người ta cố nhồi nhét hình ảnh về một đấng lãnh tụ vĩ đại, toàn năng vào đầu óc non trẻ của tôi, tôi đã không kháng cự, chỉ đôi lúc tự hỏi một cách lén lút “Thật là có con người như thánh sống thế ư?”. Bởi vì đôi khi những gì họ nói trước sau bất nhất. Họ chẳng bảo “Không có gì tuyệt đối và toàn vẹn” đấy sao? Hay có ngoại lệ?

        Ngày đó ngây thơ đến mức nằm trong phòng đọc bài học lịch sử oang oang, không ngừng mắng chửi “ngụy”, “tay sai”, mà không nhớ rằng ba mình từng khoác áo lính của Việt Nam Cộng Hòa!

        Khi người ta dạy cho tôi phỉ báng những người lính “ngụy”, coi khinh họ như nhưng kẻ không có lương tâm, những kẻ bán rẻ tổ quốc, những con người máu lạnh, giết người không gớm tay.

        Thì tôi, đã thấy những người lính sa cơ ấy rất hiền lành, là những người cha, người chồng mẫu mực, những người nông dân không ngại vất vả ngoài đồng.

        Thì tôi, thấy trong ánh mắt họ một nỗi đau bất lực vì không bảo vệ được tổ quốc của mình!

        Thì tôi, thấy họ loay hoay tìm cho gia đình mình một con đường tươi sáng khác để đi. Họ không ngồi đó và khóc cho một quá khứ tươi đẹp đã mất, đã bị cướp mất!

        Tôi đã thấy họ dạy con họ yêu tổ quốc, yêu cội nguồn, và trân trọng tình thân! (xin đừng đánh đồng như cái cách người ta đang giả vờ tự lừa dối nhau, tổ quốc không bao giờ nên hiểu là “người chiến thắng”, và “người chiến thắng” cũng không phải là tổ quốc, nếu như hôm nay tôi nói tôi chẳng có chút cảm tình nào đối với “người chiến thắng” thì không có nghĩa là tôi không yêu đất nước của tôi).

        Tôi đã thấy họ tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn nơi đất khách, nhưng cái nhìn của họ vẫn hướng về nơi này một cách khắc khoải. Bởi lẽ, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp họ đã bị đẩy đi xa quá xa nơi họ được sinh ra và lớn lên, nơi còn có những người thân còn ở lại! Họ có thể trở về, nhưng họ sẽ không trở về, tôi biết thế, không phải vì họ chê cố hương nghèo khó!

        Khi người ta nói họ là những kẻ “vong quốc”, tôi sẽ lắc đầu bảo rằng không phải, họ là những người “vọng quốc” (luôn luôn hoài vọng về tổ quốc của mình).

        Khi người ta bảo rằng họ ở bên kia bờ biển đang tìm mọi cách phá hoại an ninh quốc gia, thì tôi lại tin rằng, họ đã bày tỏ một nỗi thất vọng khôn xiết về cách “trị quốc” của “kẻ thắng”, họ đang bày tỏ niềm xót thương với những số phận đang ngày ngày tìm đến nhau trong niềm an ủi và hi vọng, dù là nhỏ nhoi. Họ đang cất lên tiếng nói giúp những những người mà họ nghĩ rằng “thấp cổ bé họng”.

        Không có triều đại nào vĩnh viễn, thì sao cứ mãi lừa mị nhau về cái gọi là “muôn năm”?

        Khi người ta gọi bác tôi, ba tôi và anh tôi là “giặc” thì tôi vẫn cứ tự hào về họ, những người đàn ông Việt Nam đúng nghĩa!

        Khi người ta gọi họ là “ngụy” thì tôi vẫn vô cùng kính trọng và yêu thương họ!

        Bản chất không nằm ở tên gọi và lịch sử cũng không thuộc về kẻ chiến thắng!

        Tôi sẽ ngẩng cao đầu vì là cháu, con và em của họ!

        Đặng Bình Diễ̃m Chi

      • Võ Trung Tín
        11/07/2012 lúc 21:46

        “GIẢI PHÓNG” : NỖI KINH HOÀNG CỦA TOÀN DÂN VIỆT NAM !
        (Tác giả : Ts LÊ HIỂN DƯƠNG – Hiệu Trưởng Trường Đại Học Đồng Tháp)

        Ngày nay hầu như nhân loại trên khắp hoàn cầu đều lấy năm Chúa Ki Tô giáng sinh làm mốc định thời gian, chúng ta đang ở vào năm 2010, tức là 2010 năm kể từ ngày Chúa giáng thế. Nhiều sự kiện khoa học hay lịch sử cũng được xác định dựa trên mốc thời gian này cho dù những dữ kiện đó hoàn toàn không liên quan gì đến niềm tin tôn giáo hay tín ngưỡng. Chẳng hạn nhà toán học Pythagore sinh năm 580 và mất năm 500 trước Công Nguyên, Tề Hoàn Công trị vì từ năm 685 đến năm 643 trước Công Nguyên…, Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng xảy ra năm 42 sau Công Nguyên… Các văn bản bằng Tiếng Anh thì dùng BC (before Christ) hoặc AD (Anno domini) để chỉ những sự kiện xảy ra trước hoặc sau Thiên Chúa giáng thế. Riêng người Việt nam chúng ta từ trong Nam cho chí ngoài Bắc, từ sau 30 tháng 4 năm 1975 lại có một mốc định thời gian mới: “hồi trước giải phóng” hay “hồi sau giải phóng”, tất nhiên người Việt mình nghe mãi rồi quen tai và không thấy gì phản cảm khi dùng hoặc nghe cụm từ này… Nhưng khi tôi vô tình dùng nó lúc nói chuyện với một đồng nghiệp người nước ngoài rằng “…after the liberation of the south…” thì ông ta sững sốt hỏi ngay rằng “… liberation from what?…” – Giải phóng khỏi cái gì? Thì tôi mới hốt hoảng với cách dùng cụm từ này để định mốc thời gian của người Việt … bởi đối với hầu hết người Việt, nhất là người miền Nam hoặc đối với cả đồng bào miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 nữa, thì “giải phóng” là một nỗi ám ảnh trong cả đời người…

        Còn nhớ ngày 30 tháng Tư năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh, đã hồ hởi phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “ngụy kềm, Mỹ hãm” nữa… Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân miền Bắc chúng tôi giải phóng.
        Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và Ban Giám Hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng, đá xanh nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước… Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…
        Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang ánh sáng văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị “ngụy kềm, Mỹ hãm” chứ đâu có được học hành gì…

        Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!

        Nhận xong nhiệm sở từ Ty giáo dục Đồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường Trung Học Sư Phạm Đồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên tư sản Thiên Lợi… Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là Lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được Bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

        “Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
        Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”…

        Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

        “Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
        Mỗi hòn than mẫu thóc cân ngô
        Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”

        Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền Nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
        Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mĩa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền Nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc! Rồi “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho một nhóm quan phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh nỗi hãi hùng của muôn dân, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng, là thương tật của nông dân Lê Thị Thanh và Lê Hữu Nam…

        Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

        Đồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010
        Tiến sỹ Lê Hiển Dương

      • 12/07/2012 lúc 08:14

        Tín: Người ta nói: “trước Chúa giáng sinh” hoặc “sau Chúa giáng sinh”, nhưng “trước công nguyên” hoặc “công nguyên” (chứ không phải “SAU công nguyên”).
        Em nhắn lại với ngài tiến sĩ hiệu trưởng thế nhé. Cảm ơn em.

      • Võ Trung Tín
        12/07/2012 lúc 22:53

        Phay Van :Tín: Nói lại chỗ này một tí nhé: Người ta nói: “trước Chúa giáng sinh” hoặc “sau Chúa giáng sinh”, nhưng “trước công nguyên” hoặc “công nguyên” (chứ không phải “SAU công nguyên”).Em nhắn lại với ngài tiến sĩ hiệu trưởng thế nhé. Cảm ơn em.

        Chị Năm đừng cho ròm em nói..”ba hoa chích choè’…nghen!
        Em xin lỗi, em nói thật lòng đây ( mà không những riêng em đâu đó nghen, rất rất nhiều người…): Mấy cha nội.. “giáo sãi tiến sư”..của miền Bắc, ròm em chẳng có..”kính phục” một tí nào đâu!
        Ròm em minh chứng nhé:

        – Trang..” Giáo sư DỎM VN “…cho ròm em..thực tế mở to mắt, đó chị Năm! hihihihihi

      • Võ Trung Tín
        12/07/2012 lúc 22:59

        Ý của ròm em copy bài của Ts Lê Hiển Dương, là để minh chứng một điều:

        – Kẻ gọi là..bên “chiến thắng”..phát biểu, để chứng tỏ..khách quan lịch sử!
        Chứ không như những con robot…được lập trình phát ra rả!

      • Võ Trung Tín
        13/07/2012 lúc 21:23

        Phay Van :Tín: Nhưng giá ông ấy có vài lời xin lỗi vì những suy nghĩ và hành động sai trái trước đây của cá nhân ông ta, thì tư cách của ông bớt thấp đi một tí.

        Có thể nói thẳng thắn một cách thực tế trong cuộc sống, là.. 2 cụm từ lịch sự: CÁM ƠN và XIN LỖI, hình như là không bao giờ có trong đầu và suy nghĩ của dân.. “Bắc Kỳ 75” cả, chị Năm ơi!
        Bởi qua quá trình “tẩy não, đào tạo..nhồi sọ đấu tranh “dzai cấp dzô sản” với lại “chuyên chính dzô sản”, thì 2 cụm mỹ từ của “giai cấp tiểu tư sản” này…đã bị triệt tiêu hoàn toàn rồi! Cha mẹ mà còn dạy cho cách đem ra đấu tố, thì 2 cụm từ này làm sao mà có…đất sống cho được!
        Theo ròm em quan sát để ý, thì nó chỉ mới lác đác xuất hiện trong vòng khoảng 10 năm trở lại đây thôi…( Ròm em sẽ tranh luận với bất cứ ai về cái…kết luận này, của ròm em đó! hihihihi… )
        Hơn nữa cái còm của bác Đinh Thành đã chẳng nói ông Hoài Thanh “kết luận” chính xác…rồi đấy sao…

        – “…Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”

        Vì vậy, cái ông Ts “Bắc Kỳ 75” LHD này…cũng không là một ngoại lệ! hihihihihi…

      • Võ Trung Tín
        15/07/2012 lúc 12:34

        Chị Năm ơi, xét cho..”tận cùng bằng số”, thì…ổng…cũng là..”loại”..dân…

        – “…cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân ngoài Bắc vào.”

        mà….!!! hihihihihi…

      • Võ Trung Tín
        15/07/2012 lúc 22:51

        Phay Van :Tín: Ông HT viết câu đó xúc phạm chế độ VNCH quá. Tín đã đọc những bài ông “đánh” nhóm NVGP chưa?

        Dạ, ròm em nhơ nhớ có đọc ở đâu đó, đại khái : “nhà cầm quyền CSVN cần phải có lời XIN LỖI CÔNG KHAI..với nhân dân MIỀN NAM, vì những tội lỗi mà họ đã cố tình gây ra những thảm cảnh tang thương cho cả dân tộc VN nói chung, và người dân miền Nam nói riêng…”
        Nhưng, làm gì tập đoàn nhà cầm quyền cs có cái dũng khí của người “chính nhân quân tử” ! Nên, cái chuyện mấy..”cha nội thần nước mặn”…này, phát biểu..”lôm côm”…chỉ là chuyện…”nói với đầu gối”…còn hơn, chị Năm ơi….chuyện

        Còn những bài viết của ông HT về vụ NVGP, ròm em chưa được tiếp cận đọc, chị Năm à!
        Chị Năm có links?

  3. Võ Trung Tín
    11/07/2012 lúc 21:57

    “Tôi là Bắc 54 đây, và tôi rất hãnh diện về điều đó”.

    Chị Năm ơi..!!! Chị Năm “hãnh diện” vì…được leo lên toa xe lửa ở hình số 9 (từ trên xuống)…phải hông?!
    Hồi còn nhỏ chị Năm…leo trèo…giỏi dzữ hén!!!! hihihihihi…

    • Võ Trung Tín
      12/07/2012 lúc 22:32

      “..em phải gọi chị bằng “bà” đó.”

      Dạ, thì…”BÀ”…CHỊ..!

      hihihihihi…

      P/s: Ủa..! thế.. “Bắc 54” chị Năm, lúc đó còn ở tận…sao chổi…hở!!!! hihihihi…

    • Võ Trung Tín
      13/07/2012 lúc 22:05

      Phay Van :Đúng rồi Tín à. Em cứ làm toán cộng (trừ) là ra thôi mà

      Nếu ròm em nhớ không lầm thì trong một cái còm ở đâu đó, chị Năm..có nói:

      ” Năm 1975, chị Năm học lớp 4 hay lớp 5…thì phải?”

      Dzậy là ròm em…biết cộng trừ…dzới…BÀ CHỊ…rồi đó nghen! hihihihihi…

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 12:30

      Chắc…”chăm phần chăm”….BÀ…CHỊ…ơi!!!!!!!!!

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 22:32

      MÁ..của..RÒM EM…cũng..”láo nháo” trong đám đó..đó!
      Năm 1975, “bả”…lớp 6…! hihihihi…

  4. Võ Trung Tín
    11/07/2012 lúc 22:06

    Chị Năm ơi…!
    Đừng có…mắng ròm em đó nghen, bởi…
    Hồi còn ở nhà, khi chơi dzới tụi bạn trong xóm, Ròm em có nghe câu…vè này, nhưng hổng biết “nó” nói về… Bắc 54…hay Bắc 75…dzậy chị Năm..?!

    – ” Bắc Kỳ…ăn thịt chó đen.
    Ăn nhằm…lựu đạn, chết cha…Bắc Kỳ! ”

    Hihihihihi…

    • 12/07/2012 lúc 08:05

      Chết Tín rồi! Cái còm này làm điểm của em tuột xuống số 0 rồi!
      Đừng có nhờ chị xóa cái còm này đó nhé, vì chị sẽ không xóa đâu.
      Chị Ba cũng từng nhắc nhở em rồi mà???

      • Võ Trung Tín
        12/07/2012 lúc 22:11

        Phay Van :Chết Tín rồi! Cái còm này làm điểm của em tuột xuống số 0 rồi!Đừng có nhờ chị xóa cái còm này đó nhé, vì chị sẽ không xóa đâu.Chị Ba cũng từng nhắc nhở em rồi mà???

        Thế thì..chết ròm em rồi! huhuhuhuhuhu…

        Nhưng chị Năm ơi, cho ròm em..giải thích…một tí nghen…
        Lý do ròm em gõ 2 câu vè ở trên để hỏi chị xuất xứ.., bởi, nó có nguyên nhân của nó…đó chị Năm!
        Số là, hồi còn nhỏ cỡ học lớp 4 lớp 5, trong xóm em có 2 thằng “bạn” mà bọn nhóc trong xóm tụi em thấy mặt là…bắt ghét, đã học..ngu, mà còn khinh khỉnh khinh người và hay ỷ thế nhà giàu (chắc ăn hối lộ thôi?! hihihihi..) ăn hiếp tụi nhóc bọn em, và nhiều lúc hổn láo với người lớn, vì dựa thế cha mẹ của 2 đứa nó là..đại uý công an giao thông (Bắc kỳ 75)! Có lần tụi em xúm lại..dzợt 2 đứa nó một trận “tơi tả”, thế là cha mẹ nó…”mắng dzốn”, làm tụi em đứa nào cũng bị một trận đòn..”tét đít”…luôn! hihihihihi…
        “Căm thù”.. 2 đứa nó, nhưng đâu có dám dzợt bằng “đấm đá” bọn nó nữa! Và lúc đó, không hiểu sao…Tuấn Anh lại “sưu tầm” được 2 câu vè trên, thế là tụi em có..”vũ khí”..văn hoá vè dân gian để “dzợt” bọn nó…thành công đầy hiệu quả, đó chị Năm! hihihihihi…

        Hôm qua đọc bài này, tự nhiên ròm em bỗng nhớ lại một thời…thơ ấu “chinh chiến” hihihihi…với những thắng lợi dzòn dzả bằng 2 câu vè..”độc đáo” ở trên, bởi do…chị Năm gợi cái ý…”Bắc Kỳ”…đó! hihihihihi…

        P/s: Hồi đó tụi em còn có nghe người lớn lúc ngồi nhậu cũng hay nói “lén” 2 câu này nữa nè..chị Năm..( trong đó có…Ba của ròm em nữa đó! hihihihi…)

        – ” Cộng sản đứa giết đứa chừa
        Ba mươi..giết hết không chừa một tên ”

        hihihihihi…

  5. Võ Trung Tín
    11/07/2012 lúc 22:15

    MỘT NGÀY

    Một ngày bắt đầu bằng buổi sáng
    Em bắt đầu bằng đêm tối đen
    Anh đừng hỏi vì sao như thế
    Em biết làm gì thân gái yếu mềm

    Khi em lớn đời đã đen như mực
    Cuộc chiến chinh ngỡ đã dứt hẳn rồi
    Mọi người sẽ đồng lòng xây đất nước
    Ai chẳng mơ hòa bình mới tinh khôi

    Ai chẳng vẽ một ngày tàu thống nhất
    Từ Bắc vô Nam nối lại lòng người
    Ai chẳng ước gặp nhau niềm mừng tủi
    Bao nhiêu ngày đã chất ngất khôn nguôi

    Đổ vỡ hết niềm tin tàn tạ hết
    Khi bao điều sự thật đã phơi ra
    Con người ta sống mà như chết
    Trên quê hương không liền được thịt da

    Hòa bình rồi sao người còn rời bỏ
    Làm kẻ lưu vong không có quê hương
    Anh đừng hỏi những ngọn cây ngọn cỏ
    Mộ bây giờ là cả biển cả sông

    Cả rừng núi cũng còn đau đớn lắm
    Người đã đi và người chẳng thấy về
    Bóng hạnh phúc ôi sao mà thăm thẳm
    Chiều đã tàn lòng người vẫn tái tê

    Mấy mươi năm sau ngày ngưng cuộc chiến
    Ấm no đâu cơm áo ở nơi đâu
    Dân vẫn khổ oán hờn còn chồng chất
    Những nhà tù còn mãi chốn rừng sâu

    Người vẫn hát bài ca bất khuất
    Vẫn biểu tình chống lại giặc ngoại xâm
    Dẫu vẫn biết nhà tù luôn dành sẵn
    Cho người yêu đất nước tự ngàn năm

    ( Trần Thị Nguyệt Mai – 03-07-2012 )

    • Võ Trung Tín
      12/07/2012 lúc 22:22

      Chị Năm: Ròm em nói riêng, và thế hệ trẻ như em nói chung, được sinh ra khi đất nước không còn chiến tranh, không còn người chết vì bom đạn…
      Tuy nhiên, đọc bài thơ này của chị Ba, cá nhân ròm em đồng cảm nhận được ý thơ với nỗi buồn đầy trăn trở, nỗi buồn đầy ray rứt khôn nguôi..của những thế hệ người lớn trong cuộc chiến nói chung và người phụ nữ trong cuộc chiến nói riêng, cũng như sau khi đất nước..”hoà bình” “thống nhất”…

      “Một ngày bắt đầu bằng buổi sáng
      Em bắt đầu bằng đêm tối đen
      Anh đừng hỏi vì sao như thế
      Em biết làm gì thân gái yếu mềm

      Khi em lớn đời đã đen như mực
      Cuộc chiến chinh ngỡ đã dứt hẳn rồi
      Mọi người sẽ đồng lòng xây đất nước
      Ai chẳng mơ hòa bình mới tinh khôi

      Ai chẳng vẽ một ngày tàu thống nhất
      Từ Bắc vô Nam nối lại lòng người
      Ai chẳng ước gặp nhau niềm mừng tủi
      Bao nhiêu ngày đã chất ngất khôn nguôi”

      Khi đất nước “hoà bình”, “thống nhất”.. rồi, nhưng sao, cái sự thật quỷ quyệt, cái cộng nghiệp phủ phàng lại cứ chụp úp và vận vào dân tộc VN này, để đến nỗi biết bao người đành phải cắn răng liều mình…”bỏ phiếu bằng đôi chân”…

      “Đổ vỡ hết niềm tin tàn tạ hết
      Khi bao điều sự thật đã phơi ra
      Con người ta sống mà như chết
      Trên quê hương không liền được thịt da

      Hòa bình rồi sao người còn rời bỏ
      Làm kẻ lưu vong không có quê hương
      Anh đừng hỏi những ngọn cây ngọn cỏ
      Mộ bây giờ là cả biển cả sông”

      Người có chút may mắn..”bỏ phiếu bằng đôi chân”…thoát được, có vui đó, nhưng lòng vẫn canh cánh trĩu nặng.., bởi, núi sông này, đất nước này…đã bị cùm, kẹp…trong một nhà tù lớn…

      “Cả rừng núi cũng còn đau đớn lắm
      Người đã đi và người chẳng thấy về
      Bóng hạnh phúc ôi sao mà thăm thẳm
      Chiều đã tàn lòng người vẫn tái tê

      Mấy mươi năm sau ngày ngưng cuộc chiến
      Ấm no đâu cơm áo ở nơi đâu
      Dân vẫn khổ oán hờn còn chồng chất
      Những nhà tù còn mãi chốn rừng sâu ”

      Tuy nhiên, không vì tình riêng “oán hận” những kẻ cố tình gây ra thảm cảnh tụt hậu của dân tộc, mà quên đi lòng yêu nước truyền thống ngàn đời khi có hoạ…ngoại xâm phương Bắc .., khổ thơ kết đã cho người đọc cảm được cái tư thế, nhân cách và tấm lòng của…tác giả vậy, bởi…THƠ LÀ NGƯỜI…mà…

      “Người vẫn hát bài ca bất khuất
      Vẫn biểu tình chống lại giặc ngoại xâm
      Dẫu vẫn biết nhà tù luôn dành sẵn
      Cho người yêu đất nước tự ngàn năm”

      Bài thơ chắc chắn viết trong sự suy tư trĩu nặng, nhưng dù sao, viết và trãi được tâm tình, thì chắc là.. lòng cũng vơi nhẹ..đôi chút…

    • Võ Trung Tín
      13/07/2012 lúc 21:36

      Phay Van :Bài này Chị Ba sáng tác sau khi nghe Huỳnh Thục Vy bị bắt đó em.

      Vậy là hồn thơ và cảm xúc sáng tác của chị Ba đã…sống và trỗi dậy rồi!

      Chị Ba ơi, ròm em…CONGRATULATIONS !…chị Ba…

  6. Võ Trung Tín
    11/07/2012 lúc 23:06

    – “Dù cụt giò, nhưng người thương phế binh miền Nam kia vẫn đạp xích lô, và người vợ anh bán vé số. Ngạo nghễ và khinh mạn làm sao. Khi cái chân còn lại cố nhấn xuống bàn đạp, khi chiếc xe lên con dốc, hay tải quá nặng, chắc là vết thương cũ đã phải hành hạ anh không ít. Và người vợ kia, người vợ của kẻ thất trận, của kẻ sa cơ, dù phải dầu tắt mặt tối, nhưng vẫn chung thủy với chồng, vui buồn với chồng trong một hoàn cảnh cực kỳ đen tối …

    Một phận đời bị bỏ ra ngoài cuộc chiến, một phận đời tủi cực và lầm than nhất của xã hội, vậy mà còn ngững đầu, ngững mặt, để cho một nhà văn trong hàng ngũ thắng trận là Trần Khuất Nguyên phải bất chấp những tai họa rình rập xuống bản thân anh, để tìm đến… để mà khóc, để hạ mình xuống giúp người bạn “ngụy” bằng cách đạp xe dùm. Đó không phải là một hành động thương người, hay hòa giải, hay xóa bỏ hận thù mà là hành động biểu lộ một ý thức tỉnh ngộ để dẫn đến Ly thân.

    Tôi ngưỡng phục Trần Khuất Nguyên một lần thì ngưỡng phục tác giả Ly Thân cả trăm ngàn lần !

    Ông đã nói dùm cái khí phách của một người đứng chỉ bằng một chân ! ”

    ( Nguồn: Blog Trần Hoài Thư – “Viết lúc 4 AM : Trần Mạnh Hảo và giọt nước mắt )

    • Võ Trung Tín
      12/07/2012 lúc 22:41

      Chị Năm ơi: Bác THT tin và “ngưỡng phục” cái ông thần nước mặn đó, chứ còn ròm em, Có…Oánh.. cho “bầm dập”..cái thân ròm…hihihihihi.., Ròm em cũng không bao giờ tin có cái gọi là..”nhân cách”..của các nhà văn đảng viên đảng minh râu cả…chị Năm ơi!
      Chị Năm có cần ròm em minh chứng..”nói có sách mách có chứng”…về cái gọi là “nhân cách” này của họ… không đó!? hihihihihi…

    • Võ Trung Tín
      13/07/2012 lúc 21:10

      Phay Van :Tín: Chị muốn nói đến nhân cách của “người thương phế binh miền Nam”, em ạ. Làm gì có ông thần nước mặn nào ở đây.

      Chời..chời..! Dzậy là chị Năm và ròm em…”tư tưởng lớn không gặp nhau”.. rồi! hihihihi…

      Ròm em thì lại muốn đề cập đến cái ý.. “ngưỡng phục”..của bác THT !?

      – “Tôi ngưỡng phục Trần Khuất Nguyên một lần thì ngưỡng phục tác giả Ly Thân cả trăm ngàn lần !”

      Chị Năm đọc thử bài này nghen…

      – Trần Mạnh Hảo, ông là ai?
      http://www.luanhoan.net/Bai%20Moi%20Trong%20Ngay/…/bm-2-5d.htm

    • Võ Trung Tín
      13/07/2012 lúc 21:12

      Chị Năm ơi…!!!!!
      Mau mở..”còng”..còm của ròm em đi…!!!!

    • Võ Trung Tín
      13/07/2012 lúc 21:31

      Chị Năm đọc LY THÂN của TMH chưa?
      Ròm em đã có đọc năm ngoái rồi.
      Đọc, để từ đó mới thấy cái giá trị lịch sử, giá trị văn chương, và tinh thần nhân bản của tác phẩm CÕI ĐÁ VÀNG của nữ văn sĩ Nguyễn thị Thanh Sâm…
      Trần Mạnh Hảo, qua LY THÂN, theo ròm em cảm nhận, chỉ là một kẻ..CƠ HỘI ĐỂU !!!

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 12:00

      Phay Van :Chị chưa đọc em à, và không có ý định đọc.Thú thật, chị không thích đọc (cái gọi là) văn học xhcn.

      Chị Năm: Vâng, ròm em còn nhỏ, những thế hệ bọn em đã và đang bị miễn cưỡng (chính xác là.. cưỡng ép) “hấp thụ” nền giáo dục “u việt” xhcn!
      Tuy nhiên, thật lòng mà nói, ròm em rất rất dị ứng với văn phong, cũng như cách dùng từ ngữ trong những cái gọi là “tác phẩm” của những người gọi là “nhà văn quốc doanh xhcn”! Hồi còn học phổ thông thì “đau khổ” với nạn nhồi sọ..văn mẫu!
      Tuy nhiên, ở chừng mực nào đó khi có thời gian, ròm em thi thoảng vẫn..tìm đọc những “tác phẩm..nổi đình đám” của “những nhà văn quốc doanh”, Ròm em đọc.. trong tâm thế và với ý thức đọc theo phương châm:
      – “Trăm điều hay cũng có (ít nhất) một điều dở, Trăm điều dở cũng có (ít nhất) một điều hay! ”

      Chị Năm nghĩ..thế..lào? hihihihi…

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 12:06

      “Tín: Chị không thèm bận tâm để biết ông ta là ai đâu, hi hi.”

      Vì vậy, Ròm em rất là.. BẤT NGỜ NGỠ NGÀNG và NGẠC NHIÊN..hết sức, khi bác THT…

      – “..ngưỡng phục tác giả Ly Thân cả trăm ngàn lần !”

      Ròm em thấy…lạ thật đấy!?

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 12:08

      Chị Năm đọc bài viết mới này chưa?
      Ròm em có copy trích một vài đoạn, rồi còm ở nhà Bs Ngọc…, Bs “ngâm” một ngày…rồi cho hiển thị…hihihihihi..
      Em copy về đây…luôn nghen…
      (Ròm em thích copy hơn dẫn link, vì đọc, thấy nó…”phê”..hơn! hihihihi…)

      BÀI 3: NHỮNG KẺ TRẮNG TAY
      ( Tác giả: Diên Vỹ – nguồn: tienve.org )

      Nếu công nhận dịch loạn là kết quả của kém năng lực, lười suy nghĩ, tự lừa dối bản thân, coi thường người đọc, trí trá tự biện, xu phụ, tâng bốc, hống hách thì hãy nên trách nền giáo dục đã cho ra những con người ấy. Những bản dịch ấy tồi trước hết vì người dịch không giỏi tiếng mẹ đẻ nên buộc phải làm nô lệ cho ngoại ngữ của bản gốc. Nếu đồng ý với học giả Phạm Quỳnh rằng “tiếng ta còn, nước ta còn”, thì có phải nước ta nay đã mất rồi không? Vẫn còn đấy những con người tóc đen, da vàng, mũi tẹt nhưng hồn vía đã vong căn thất cước từ lâu, không thể nào cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tiếng Việt nữa dù họ có thể đọc được vài ngoại ngữ.

      Lùi lại một chút để nhìn: Trong vụ án Nhân văn-Giai phẩm, dường như chỉ có Hữu Loan và Thụy An là những người sống khí phách, bất khuất và im lặng đến cùng,[1] những người còn lại hầu hết vẫn cố sống với tinh thần “bị đánh đến chết vẫn cúi lạy cây roi”: vẫn vui vì “được cho” sinh hoạt trở lại ở hội nhà văn”, “được cho” chế độ lương bổng”; Hoàng Cầm còn viết “Về làng Sen”, vân vân.

      Là một nạn nhân của “vụ Xét lại chống đảng”, nhà văn Bùi Ngọc Tấn đến nay vẫn còn buồn vì “lương hưu của ông chỉ được tính năm từ 5/1975, không tính 14 năm công tác trước khi hoạn nạn, thời điểm về hưu là 160.000 đồng, nay là 1,4 triệu đồng”. [2]

      Có cha bị Việt Minh thủ tiêu mà nhạc sĩ Phạm Tuyên vẫn có thể viết “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, rồi tâm sự “tới nay gia đình ông vẫn luôn mong muốn có một tuyên bố sửa sai chính thức về cái chết của thân phụ ông, học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), người đã bị cách mạng hành quyết chỉ vài ngày sau khi Tuyên ngôn Độc lập được đọc ở Hà Nội hôm 2/9/1945”, và ngay lập tức biết thân biết phận nhún nhường: “Đó là mong muốn thôi, còn bây giờ các vị đang lo chuyện kinh tế với các thứ nhiều quá, không biết là đến bao giờ”. [3]

      Nhạc sĩ Phạm Duy viết hồi ký xong là chạy về Việt Nam xin ở hẳn, cặp kè bên các quan văn nghệ trong các buổi diễn và toe toét khoe cái dấu ấn “cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”:

      Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho đến lúc lìa đời vẫn vác đơn xin được cho phổ biến loạt Ca khúc Da Vàng, sau khi đã cố nặn ra những “em ở nông trường em ra biên giới”, “dòng điện như dòng sông cho đời một tấm lòng”, “Sài gòn hai mươi mùa nắng lạ”, mà vẫn bị từ chối lạnh lùng.

      Dương cầm thủ Đặng Thái Sơn với giải thưởng Chopin nhiều điều không minh bạch[4] chắc đã quên những gì xảy đến với cha mình – nhà thơ Đặng Đình Hưng – trong vụ án Nhân văn-Giai phẩm, nên vẫn đều đều về Việt Nam biểu diễn và còn sẵn sàng xuất hiện trong những sự kiện vui nhộn.[5]

      Giáo sư Ngô Bảo Châu vừa có chút tiếng tăm đã ngửa tay nhận ngay hai cái nhà, một cái để cha mẹ ở, một cái để làm viện toán cao cấp (?) dù đã bị “vỗ mặt” bằng bài báo kết tội ngộ nhận trên tờ Công an Nhân dân.[6]

      Nhìn các ca sĩ Việt kiều đang tấp nập xin phép về Việt Nam biểu diễn, chỉ được hát những bài nhà cầm quyền cho phép và đóng thuế cho nhà nước Việt Nam, tôi thấy dường như chỉ mới hôm qua họ còn lên báo đài nước ngoài kể chuyện vượt biên chín phần chết chưa có một phần sống, rằng những người thân của họ còn kẹt lại trong nước cũng bị liên lụy khổ sở như thế nào; dường như chỉ mới hôm qua họ còn nức nở “Anh không chết đâu anh!” thì hôm nay họ đã có thể quên phứt thảm cảnh của hàng ngàn người lính Việt nam Cộng hòa vẫn còn đang phải rên xiết đâu đó chốn rừng sâu nước độc hay nơi đầu đường xó chợ. Muốn trách họ nhưng nhìn lại những bậc cha ông anh chú của họ trên kia, ta còn có thể nói gì đây?

      Những nạn nhân của Nhân văn-Giai phẩm và Xét lại chống đảng thì còn bảo họ sống trong khủng bố, đọa đày, tẩy não đến mất hết khí phách, nhưng đến những Phạm Duy và Trịnh Công Sơn sinh ra, lớn lên và thành danh trong không khí tự do của miền Nam, riêng Phạm Duy còn sang Mỹ tị nạn gần 30 năm, sao vẫn sẵn sàng biến mình thành kẻ “hàng thần lơ láo”?

      Phải chăng văn nghệ sĩ-trí thức Việt Nam chỉ rất có tài trong lĩnh vực chuyên môn mà thôi, còn nói đến khí phách anh hùng và nhận thức hành vi trong cái nhìn chính trị thì họ chịu? Có dân tộc nào như dân tộc Việt với những cô đào mang cờ quạt đi đón đoàn quân tiến về cướp nước mình như Thẩm Thúy Hằng, soạn bàn thờ cúng lãnh tụ của đoàn quân ấy như Thanh Nga,[7] phỉ nhổ luôn cái xã hội đã nuôi dưỡng nên mình là “vực thẳm” và tung hô cái thiên đường vẽ của kẻ cướp là “chiều cao” như kỳ nữ Kim Cương, không ngần ngại quỳ gối “đài hoa dâng bác” như anh kép Út Trà Ôn? Vậy thì trách gì những kẻ cuồng tín sẵn sàng “đốt cháy cả dãy Trường Sơn” như Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc? Bùi Tín và Dương Thu Hương khi tỉnh bùa mê rồi vẫn không dám tự nhận một viên đạn vào đầu, dù thảm cảnh của miền Nam có bàn tay họ tiếp sức. Dân tộc nào trên thế giới cũng có những Trần Ích Tắc, nhưng nếu ở mức độ phổ biến ngay trong giới văn nghệ sĩ-trí thức như dân tộc Việt thì phải đặt câu hỏi rằng liệu dân tộc ấy có xứng đáng được hưởng hạnh phúc không?

      Nhìn cảnh nhạc sĩ Phạm Duy nhe răng cười khoe cuốn sổ hộ khẩu và cái giấy chứng minh nhân dân, tôi tự hỏi: Phải chăng đây là Phạm Duy khác chứ không phải ông Phạm Duy đã viết “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời”? Phải chăng ông Phạm Duy ấy đã chết? Ông Phạm Duy này ngược 180 độ với ông kia nên có thể toe toét khoe cái dấu ấn khổ nhục của chín mươi triệu người dân trong nước mà nếu thiếu nó lập tức người ta bị coi như công dân hạng hai, còn ông thì được ban cho như ân sủng cùng tiếng gọi trìu mến “Việt kiều yêu nước”? Tôi như đã hiểu được tâm trạng của người miền Nam lúc nghe Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn” trưa ngày 30/04/1975, khi nhìn bức hình này của ông.

      Phải chăng nước Việt không thể có những văn nghệ sĩ tuyên bố không về nước biểu diễn chừng nào còn chế độ độc tài vô nhân tính, không cho phổ biến tác phẩm trong các sự kiện quốc doanh, đòi hỏi phải có cải chính và xin lỗi công khai chứ không chỉ âm thầm cho in lại tác phẩm và cho một phần quyền lợi (vốn bị cướp đi) là xong, như đồng nghiệp của họ vẫn làm trên khắp thế giới? Đó là hành động tích cực nhất họ có thể làm để chia sẻ với đồng bào của họ, dân tộc của họ và tỏ rõ chí khí của người có lẽ phải, nhưng họ đã và đang không làm hay không muốn làm.

      Vậy nên việc đòi hỏi những Nhạc Bất Quần biết xấu hổ mà bỏ nghề, từ chức, dẹp tiệm hay ít nhất là tổ chức họp báo cũng trang trọng như lúc giới thiệu hàng dỏm[8] để công khai cúi đầu xin lỗi khách hàng là chuyện không tưởng, vì họ là sản phẩm của xã hội cha Liên xô, mẹ Tàu, anh chị em Cuba và Bắc Hàn chứ không phải của xã hội văn minh! Khi cần quảng cáo sản phẩm thì họ không ngại khua chiêng gõ mõ ầm ĩ, nhưng khi bị la ó vì bán đồ dỏm thì họ rắp tâm bịt miệng khách hàng kiểu “bách hóa mậu dịch”[9] và phi tang bằng chứng. Bịt miệng không xong thì đành xin lỗi và đổi hàng (hàng mới không phải do họ tự biết lỗi để sửa) cho yên chuyện, thế là lịch sự hơn chán vạn mấy anh quốc doanh rồi còn đòi hỏi gì nữa! Họ sẽ vẫn cứ dịch, cứ in, sai thì “tái bản có sửa chữa”, ai biết đấy là đâu, làm gì được nhau, cần đọc bản tiếng Việt có mua không thì bảo?!

      Những dịch loạn giả hôm nay chỉ là cái tất yếu phải đến trong một xã hội đầy rẫy những bác sĩ đồ tể, giáo viên râu xanh, tiến sĩ giấy, nhân viên hành là chính mà thôi. Với những con người ấy, tinh thần khí phách ấy, năng lực hiểu biết ấy, trình độ xã hội ấy, chẳng phải dịch hạch đã lan tràn khắp mọi miền và ăn sâu vào từng tế bào rồi sao? Chẳng phải cả dân tộc Việt đều là những kẻ trắng tay hay sao?

      Tháng Sáu, 2012

      ——————–
      Nguồn hình trong bài: internet

      _________________________

      Link các bài tham khảo có liên quan:

      [1]Hữu Loan: http://thuykhue.free.fr/stt/h/HuuLoan.html ; Thụy An: http://thuykhue.free.fr/stt/n/nhanvan08.html

      [2]Nhà văn Bùi Ngọc Tấn và cuốn sách cuối cùng:

      http://thethaovanhoa.vn/173N20120303111843112T133/nha-van-bui-ngoc-tan-va-cuon-sach-cuoi-cung.htm
      [3]Sửa sai về học giả Phạm Quỳnh:

      http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture/2009/02/090315_pham_tuyen.shtml
      [4]Vinh quang âm nhạc, và thủ đoạn chính trị:

      http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&artworkId=14474
      [5]Đặng Thái Sơn mặc kimono

      http://vnexpress.net/gl/van-hoa/guong-mat-nghe-sy/2011/10/dang-thai-son-mac-kimono/
      [6]Về sự ngộ nhận của giáo sư Ngô Bảo Châu

      http://www.cand.com.vn/vi-VN/binhluan/2011/5/148932.cand
      [7]Bài viết của Kiên Giang có tựa đề “Như quả dưa xanh vỏ đỏ lòng” đăng trên một tờ báo thành phố ngay sau khi Thanh Nga qua đời kể rằng “Thanh Nga đã được “mặt trời chân lý chói qua tim” từ trước ngày 30/04/1975; ngày đoàn Thanh Minh-Thanh Nga “được tái sinh” Thanh Nga đã vui sướng tung tăng tỉ mỉ lo dọn bàn thờ Bác”, vân vân.

      [8]Ra mắt bản tiếng Việt “Lolita”

      http://www.lolitavietnam.com/2012/03/lolita-chuong-123.html
      [9]“Loạn dịch hay loạn…cảnh báo?” đăng trên Sài gòn Tiếp thị ngày 25/04/2012, Nhã nam đăng lại:

      http://sgtt.vn/Goc-nhin/163321/Loan-dich-hay-loan…-canh-bao.html
      http://nhanam.vn/Desktop.aspx/Tin-tuc/Tin-noi-bo/

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 22:25

      Phay Van :Tín: Bác THT có ý kiến riêng của bác, em ạ. Chúng ta tôn trọng ý riêng của nhau mà. Em đừng có độc tài như cs chứ!

      Dạ, thì biết vậy, nhưng vì chưa rõ ngọn nguồn, nên ròm em cứ thấy…”sao sao ấy”…trong lòng, đó chị Năm ơi!

  7. Phạm Sơn
    13/07/2012 lúc 11:35

    Cái tựa của entry này: “Di cư 1954 – 1955: Cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân”…thật lý thú, nhưng cũng đầy thấm thía! Bởi nó là chứng nhân lịch sử hùng hồn, và cũng là cái tát tai nảy đom đóm lịch sử vào cái chế độ…độc tài đảng trị, coi người dân như là…”Con nợ và chuột bạch”…!

    “Nếu được bình chọn, tôi nghĩ câu nói nổi tiếng nhất ở miền Nam trước năm 1975 sẽ là câu “Đừng nghe những gì Cộng sản nói; hãy nhìn những gì Cộng sản làm”; sau năm 1975, cũng ở miền Nam, là hai câu “Người Việt bỏ phiếu bằng chân” và “Nếu được tự do, ngay cả cột đèn cũng bỏ nước ra đi.”
    Câu “bỏ phiếu bằng chân” khá lý thú. Ở các nước dân chủ, người ta bỏ phiếu bằng tay. Ở Việt Nam, khi bầu cử chỉ là chuyện “chọn người xứng đáng thì cho vào hòm”, hình thức bày tỏ chính kiến một cách trung thực và quyết liệt nhất không nằm ở lá phiếu, bất cứ là lá phiếu gì, mà là ở bàn chân, ở cái nơi chúng quyết định hướng tới, dù phải vượt qua trùng trùng nguy hiểm, kể cả nguy cơ mất mạng. Do đó, có thể nói phong trào vượt biên sau năm 1975 mới thực sự là một cuộc trưng cầu dân ý lớn nhất của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Một cuộc trưng cầu dân ý khởi phát và được tiến hành bởi dân chúng.”
    ( Ts Nguyễn Hưng Quốc )

    • 14/07/2012 lúc 22:22

      Bác Phạm Sơn: Ông NHQ nói chưa chính xác đâu bác, khi ví von “cuộc bỏ phiếu bằng chân” với sự kiện người Việt bỏ nước ra đi năm 75. Thành ngữ này đúng với cuộc di cư 1954-55 hơn bác ạ, khi mà người ta chọn lựa miền Nam với xã hội dân chủ.
      Năm 75 người ta đổ xô ra biển, đánh đổi cả mạng sống để tìm đến vùng đất tự do, nhưng rất tiếc đó không còn là xứ sở VN.

      • Phạm Sơn
        17/07/2012 lúc 11:40

        Phay Van: Đứng trên nghĩa rộng và sự lựa chọn đầy ý thức, rõ ràng, dứt khoát và sâu sắc chính trị hơn, mình nghĩ, Ts NHQ đề cập đến “cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân” sau 1975…cũng là xác đáng ý nghĩa của câu thành ngữ…lắm chứ!
        Cuộc di cư 1954 – 1955, tất nhiên là đúng ý nghĩa của câu thành ngữ, nhưng, dù sao cuộc di cư này cũng có sự hổ trợ, kêu gọi và khuyến khích của chính phủ tự do miền Nam; sự chết chóc, đau khổ…nếu có trong cuộc di cư này, tuy cũng là những thảm kịch, nhưng, với mức độ “thảm khốc”, thì, so với cuộc người dân toàn miền Nam…”bỏ phiếu bằng đôi chân” sau 1975 có…”nhẹ nhàng” hơn, đúng không nào?
        Còn sau 1975, bỏ Đất Nước, bỏ Tổ Quốc trốn chạy cs vô thần tàn bạo, dã man…đến trối chết, trong viễn cảnh trời nước đại dương mịt mùng bao la, trong tỉ lệ…99,99% là…cái chết trước mắt, nhưng vẫn cương quyết liều mình…trốn chạy cs!
        Với ý nghĩa trong sự ý thức rõ ràng lựa chọn sâu sắc chính trị ấy, mình thiển nghĩ, hơn lúc nào hết, câu..”bỏ phiếu bằng đôi chân” của toàn bộ người dân miền Nam Việt Nam, là một ý thức, là một thái độ chính trị dứt khoát, nó là cái tát tai đích đáng cho cái tập đoàn chính quyền csvn luôn to họng ra rả “lấy dân làm gốc” (sic), nó nối tiếp và làm rõ nghĩa hơn cho cuộc di cư 1954 – 1955, nó là tiếng nói làm đanh thép hơn…cái truyền thống của câu thành ngữ “bỏ phiếu bằng đôi chân” của những người yêu chuộng…Tự Do, Dân Chủ…
        Mình nghĩ vậy…

  8. Phạm Sơn
    13/07/2012 lúc 11:44

    Loạt ảnh tài liệu ghi lại một giai đoạn trốn chạy cs thật đầy ý nghĩa!
    Xem tấm ảnh cuối cùng: nụ cười tươi của cụ bà đã quyết tâm “bỏ phiếu bằng đôi chân”…trần, thật sống động!

    • 14/07/2012 lúc 22:16

      Bác Phạm Sơn: Những tấm hình thật độc đáo hở bác. Thế… bác thấy hai con tem có “độc” không, hi hi.

      • Võ Trung Tín
        15/07/2012 lúc 22:16

        Chị Năm và bác Phạm Sơn…coi thêm những cái hình này có…”độc”..không nghen?

        "Warum hast du meine Tochten ermordet?"

    • Phạm Sơn
      17/07/2012 lúc 11:45

      Vâng, Phay Van có những con tem thuộc dòng lịch sử…”độc” thật đấy!

      – Tín: Cám ơn cháu,
      Cá nhân bác nghĩ: – cháu…khá lắm!

  9. Võ Trung Tín
    15/07/2012 lúc 12:18

    Phay Van :Tín: Những gì không hay lắm thì ta không nên nhập tâm, để rồi bất chợt đưa ra sử dụng, điều này rất nguy hiểm. Nó hạ thấp mình.

    Chị Năm..ranh rảnh, đọc chơi chơi..xả stress..thư giãn bài này nghen!
    Dzui..lắm…

    CÁI DUYÊN NAM BẮC
    ( Tác giả: Nguyễn Hữu Huấn – nguồn: bất khuất.net )

    Khi ngồi viết những giòng chữ này thì vợ cháu đang ngủ say sưa trên giường. Nhìn đôi chân dài thườn thượt của bà thò ra khỏi chăn, tự nhiên cháu bật cười. Thì ra vợ cháu cũng thuộc loại…chân dài ra phết, cao xấp xỉ 1,70 mét chứ chẳng phải chơi. Năm ngoái gặp lại đám bạn cũ cùng binh chủng, trong lúc chụp ảnh chung bỗng có thằng la lớn : “Chúng mày ơi ! đứng bên cạnh bà này chắc ông phải kiễng chân lên mời xứng!“, làm vợ cháu ngượng chín người.

    Nghe nói bên Việt Nam bây giờ người ta tung hô tán tụng “những cô gái chân dài“ dữ lắm, làm phim, lên ảnh, quảng cáo rùm beng, làm các cô cứ tưởng mình là cái rốn của vũ trụ không bằng. Có điều lạ là hầu như các mợ toàn là gốc miền Bắc, nói năng giọng Bắc, nhìn đời với con mắt người Bắc và cư xử thì cứ “tự nhiên như người Hà Nội“.(Bật mí cho các cụ nhé: bây giờ thì đa số các mợ Hà Nội chính gốc đã thi nhau làm “con chim đa đa“ bay qua xứ khác lấy chồng xa hay đi kiếm cơm hết ráo, còn lại toàn là gốc Hà-Nam-Ninh hay Thanh-Nghệ-Tĩnh lên Hà Nội lập nghiệp). Hay là ông Trời sinh ra người càng ở vùng phương Bắc thì da càng trắng, mũi càng cao và chân càng dài, cứ nhìn mấy ông Tây bà Đầm là biết ngay. Thế nhưng ”bà già chân dài” vợ cháu lại là dân Nam kỳ tuốt luôn tận phương Nam, là thứ Nam kỳ chính hiệu con nai vàng, quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn. Hoá ra “mũi cao, chân dài“ đâu phải độc quyền của các mợ Bắc Kỳ 75, các mợ nhờ “tàn dư đế quốc“ nên chỉ mới xuất hiện sau này thôi, chứ ngay trong „thời kỳ chiến tranh“ cách đây mấy mươi năm thì “mũi cao, chân dài“ như Nam kỳ vợ cháu đã nhởn nhơ đầy đường. Đúng là một cọng giá “thời kỳ chiến tranh“ vẫn hơn một gánh rau muống “thời kỳ hoà bình đổi mới “!

    Bố mẹ cháu sinh cháu ra tại miền Bắc, học hành và lớn lên cùng với gia đình trong miền Nam, để rồi trưởng thành tận ngoài miền Trung. Từ những tính chất của ba miền đã hợp lại tạo nên cháu thành một thứ “hẩu lốn“: “như canh chua nấu với…rau muống, giá sống ăn với…bún riêu, nhậu bia với ché mà lại chấm với …xì dầu”. Thế nhưng cái bản chất Bắc kỳ vẫn là cái cốt lõi trong con người cháu từ lúc sơ sinh, vẫn Bắc kỳ rau muống mắm tôm, Bắc kỳ truyền thống, Bắc kỳ muôn thuở…Nhưng ông Trời oái oăm lại sai ông Tơ bà Nguyệt xe duyên cháu làm thằng tù khổ sai chung thân cho một bà vợ Nam kỳ quốc. Lạ thật ! Duyên hay nợ đây Trời!

    Hồi còn bé, thú thật cháu chẳng ưa gì Nam kỳ. Còn ghét, còn hận nữa là khác. Chuyện cũng dễ hiểu thôi : lần đầu cắp sách đến trường tiểu học Bàn Cờ ở quận 3, Sài Gòn, chỉ có cháu với một thằng nhô nữa là Bắc kỳ. Thằng này có hàm răng đưa hơi xa ra phía trước, mà văn chương Bắc kỳ gọi là “vẩu“, còn Nam kỳ gọi đơn giản và rất tượng hình là cái “bàn nạo dừa“. Bố nó (không vẩu tí nào) rất thân với bố cháu (cũng chẳng có bàn nạo dừa) vì cả hai gia đình cùng đi chung chuyến tàu “há mồm“ vào Nam năm 54. Hai thằng Bắc kỳ con nhất định ngồi cạnh nhau tạo thế liên hoàn “dựa nhau mà sống“ trong cái lớp học 27 trự Nam kỳ con. Bọn chúng hè nhau trêu chọc, ăn hiếp hai đứa chúng cháu. Mỗi lần ra chơi hai thằng Bắc kỳ con luôn tìm chỗ ít người mà đứng để khỏi nghe bọn Nam kỳ đọc thơ chọc quê chửi bới. Thằng Vọng, đứa đầu xỏ và to con nhất đám (bây giờ đang ở Canada) leo lên cây vú sữa giữa sân, đọc thơ rang rảng:

    „ Bắc kỳ ăn cá rô cây
    Ăn nhằm lựu đạn…chết cha Bắc kỳ “

    Một thằng khác sẵn giọng phụ họa:

    „ Có cái thằng nhỏ nó „đao“ làm sao
    Lỗ đ. nó dính cái cọng „rao“,
    Người ta ai mà kỳ như „dzậy“ ?

    Thế là cả bọn đồng loạt chỉ ngay vào bọn cháu rồi rống lên: ”Thôi rồi ! Bắc kỳ, Bắc kỳ !”

    Cháu tủi thân lắm ! Ôi thôi ! buồn da diết, buồn vô biên, buồn phát nghiền !

    Về nhà hỏi mẹ tại sao gia đình mình lại vào đây làm quái gì để chúng nó trêu con suốt ngày. Mẹ cháu rướm nước mắt, xoa đầu cháu giải thích đơn giản:
    – Tại vì người ta đánh nhau quá nên gia đình mình phải “ri cư “ vào đây con ạ ! Thôi chịu khó đi con, mẹ biết làm sao bây giờ !

    Nào đâu đã hết, chúng nó còn hè nhau tụ tập trước cửa nhà cháu. Mẹ cháu cầm chổi lông gà ra đuổi. Chẳng đứa nào sợ, trái lại còn tru tréo to hơn. Chợt thấy hàm răng của mẹ cháu nhuộm đen ngòm và bóng loáng, thế là chúng nó cứ thế mà gào:

    “Bắc kỳ ăn cá rô cây
    Ăn nhằm cục c. , hàm răng đen thùi ”

    Trong gia đình, chỉ có bố cháu là chẳng thằng Nam kỳ con nào dám giỡn mặt. Có lẽ nhờ khuôn mặt có oai hay nhờ đôi mắt nghiêm khắc của ông, mà chúng sợ một vành không dám trêu chọc một lời ?

    Ngày tháng qua mau, cứ thế mà đám Bắc kỳ ”ri cư”, trong đó có gia đình cháu, vẫn sống phây phây trên mảnh đất Nam bộ lạ hoắc nhưng trù phú này. Những cảnh chọc quê dần dần biến mất, bạn bè nhiều hơn, trong đó dĩ nhiên không ít đứa Nam kỳ. Đứa Sài Gòn chính tông, đứa Sa Đéc, đứa Vĩnh Long, đứa Mỹ Tho, Cần Giuộc…Nhưng đứa nào cũng chửi cháu là ”thằng Bắc kỳ lắm mồm”. Không ”lắm mồm” chứ để chúng mày ăn hiếp ông hả ? Nghĩ cho cùng, không ”lắm mồm” thì đâu còn là Bắc kỳ nữa ! Thứ ”lắm mồm” được việc, ”lắm mồm” nghe vẫn bùi tai, ”lắm mồm” dễ mến, thiếu thì nhớ, vắng thì mong, ”tay chơi” nhưng vẫn ”chân tu”, gái Nam kỳ cứ thế mà…”lắc lư con tàu đi”. Càng lớn lên cháu càng khoái Miền Nam, khoái Sài Gòn, nơi dễ có nhiều bạn, mà bạn lại không tồi. Nơi đó có dừa xiêm dzú sữa, có chè đậu xanh bột báng nước dừa, có bánh bèo trét mỡ trắng phau phau, có nước mắm đường ngọt lịm, có cá bống trứng kho tiêu, có trái cóc ngâm đường cắm que cà rem chấm muối ớt, có quán cơm bà Cả Đọi, có cả những con đường hẻm ngoằng nghoèo dẫn đến nhà …chị Tình.

    Miền Nam và Sài Gòn thật trong veo khoáng đạt, không tự tôn như cái Bắc kỳ đã có sẵn từ bẩm sinh trong bụng cháu, không rườm rà ”màu mè ba lá hẹ”, chân thành thật thà, thẳng ruột ngựa, không làm vẫn có ăn, chơi xả láng sáng về sớm, để rồi vẫn cứ yêu người, yêu đời. Có lẽ cũng cùng một cảm nhận như thế nên đám Bắc kỳ ”ri cư” chúng cháu mới vào Nam chỉ có cái quần xà loỏng trên ”tàu há mồm” đã lợi dụng thời cơ hè nhau tung ra dành dân chiếm đất khắp cõi Nam bộ, mà lại ăn nên làm ra trên mọi lãnh vực, trong đủ tầng lớp xã hội, nhất là vùng Sài Gòn Gia Định và các vùng phụ cận, chỗ nào làm ăn ngon lành thuận lợi là mấy mợ Bắc kỳ rau muống sang tay hàng loạt, ngoại trừ phía bên trong chợ Bến Thành và vùng Chợ Lớn, vì chẳng thèm ”kèn cựa” với các chú Ba. Đã bảo rồi mà…: ” Bà đã nàm thì nàm thật chứ không thèm nàm nấy ne, nàm nấy nệ !”

    Từ sau năm 75 thì Bắc kỳ lại càng ăn trên ngồi trốc, các cụ không tin cứ mở cái máy ”dzô tuyến chuyền hình” hay cái ”ra dzô” ra thì thấy liền, các ”xướng ngôn dziêng” hầu như ”chăm phần chăm” đều là Bắc kỳ, không cậu thì mợ. Còn các mợ tiếp dziêng ”E Việt Nam”, mợ nào mợ nấy đều khoe ”em người Hà Lội” hết ráo ! Chẳng biết tại ”dziêng dzáng” hay ”phe đảng” ?

    Bố cháu trái lại, cái chất Bắc kỳ đã ăn vào máu, thấm vào cốt lõi xương tủy của ông từ bao đời, nhất quyết bắt anh em cháu phải thi vào trường Chu Văn An (CVA), con em gái phải thi bằng được vào trường Trưng Vương, toàn là những trường nổi tiếng từ miền Bắc, kéo theo các thày cô ”ri cư” vào Nam. Phần vì bố cháu là cựu học sinh trường Bưởi, phần vì ông cũng có chút thiên kiến và ít tin tưởng vào các trường miền Nam như Petrus Ký hay Gia Long. ”Mình dân Bắc thì phải học trường của người Bắc, chúng mày đừng có bàn với bạc lôi thôi !”, bố cháu phán cứ như đinh đóng cột. Mà lạ thật ! Vào học Chu Văn An mới thấy toàn đám học sinh Bắc kỳ, le que vài trự Nam kỳ lạc lõng vô duyên, đếm chưa đủ mười đầu ngón tay đã hết đứa Trung kỳ. Cho đến các thày đa số cũng lại Bắc kỳ nốt, từ thày hiệu trưởng Dương Minh Kính đến thày thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Còn bên Petrus Ký thì ngược lại, hầu hết Nam kỳ. Hóa ra vung nào thì vẫn cứ đi tìm nồi nấy, hay hoặc giả có chính sách của chính quyền thời đó hay không ? Chẳng thành vấn đề, chỉ biết bọn Nam kỳ Petrus Ký châm biếm đổi tên Chu Văn An thành …Chết Vì Ăn ! Cháu tức máu trả đũa, rằng chúng mày ghen ông vì chúng mày chiêm ngưỡng các em Bắc kỳ Trưng Vương mà thèm nhỏ dãi, nhưng sờ vào thì chúng mày sẽ thành con dế mèn để các em Bắc kỳ thọc cọng nhang sau gáy thổi quay vòng vòng ! Tức quá, mấy trự Petrus Ký chỉ biết ”ngậm ngùi” đồng ca bản ”Khúc nhạc đồng quê” rằng thì là:

    ”Quê hương tui Bắc kỳ nhào dzô quá trời
    Bên bờ sông bên bờ ao…trồng rau muống !”

    Hay cũng là: ”Quê hương tui cái mùng mà kêu cái màn !….”

    Thôi thì cũng đúng thôi ! Mấy trự Nam kỳ hay Trung kỳ chỉ cần nghe một mợ Bắc kỳ uốn éo ra chiêu vài đường lưỡi thì đã nhũn như chi chi, mắt trợn ngược, mồm há hốc, quên luôn cả tên họ mình. Chỉ có trai Bắc kỳ mới trị nổi các mợ Bắc kỳ thôi ! Này nhé, các cụ cứ chịu khó nhìn chung quanh đi, cứ một trăm trự Nam kỳ chưa chắc có được một trự vớ được một mợ Bắc kỳ. Tìm mỏi con mắt mới có một trự ”diễm phúc” bế được một mợ mang về nhà thì bảo đảm suốt cuộc đời còn lại chỉ biết bốn chữ ”gọi dạ bảo vâng”, răm rắp tuân lệnh bà, chẳng bao giờ còn nhìn thấy mặt trời, mặc dù suốt ngày ngửa mặt than Trời ! Đấy mới chỉ là các mợ Bắc kỳ 54 thôi nhé ! Gặp cỡ các mợ 75 hay các mợ quê quán Hà Đông hay Bắc Ninh ”…cầm roi dạy chồng” thì ôi thôi ! cái te tua nó kéo luôn theo cả tông ti họ hàng, suốt đời hưởng ”cái thú đau thương”, nghe chửi cứ tưởng nghe…hát. Hỡi các chú Nam kỳ hậu sanh: chớ chơi dại! Đừng nghe ông Phạm Duy hát bài ”Cô Bắc kỳ nho nhỏ” mà ham, lừa đấy ! Gặp Nam kỳ thì cái ”nho nhỏ” kia sẽ phình to hơn cái vại, mà cái vại có nanh ! Ngược lại, một cậu Bắc kỳ rau muống quơ được một cọng giá Nam kỳ ”đem về dinh” –vụ này nhiều lắm- thì cứ như ”rồng thêm cánh”, như ”diều gặp bão”, như lái ô tô không cần Navigation… cả đời có người ”nâng khăn sửa túi” không công. Hóa ra hôn nhân cũng có quy luật đấy chứ:

    Chồng Bắc kỳ + vợ Bắc kỳ = Vợ chồng đề huề, nếu biết cách
    Chồng Bắc kỳ + vợ Nam kỳ = Chồng phây phả, phè cánh nhạn.
    Chồng Nam kỳ + vợ Bắc kỳ = Chồng te tua, lưng còng.

    Nhưng đã là ”luật” thì bao giờ cũng có ”luật trừ”, nghĩa là cháu không dám vơ đũa cả nắm đâu, với lại cháu chỉ lợi dụng cái ”tự do ngôn luận” trên xứ người, xin bàn bậy vài chữ ngu ngơ để các cụ trong lúc ”trà dư tửu hậu” đem ra trước là mua vui, sau là cho bớt chút căng thẳng trong cái cuộc đời … đen như mõm chó này. Xin lỗi các cụ, nẫy giờ nói loanh quanh mãi, bây giờ cháu xin trở lại chuyện của cháu.

    Bố cháu nghiêm khắc lắm và dĩ nhiên giáo dục con cái theo truyền thống Bắc kỳ. Đã có gốc có ngạnh, có cả sự nghiệp bề thế trong Nam nhưng vẫn…thờ cơm Bắc kỳ, vẫn lễ phép Bắc kỳ, vẫn giữ giọng nói Bắc kỳ và thậm chí còn ra lệnh, dâu rể cũng phải…Bắc kỳ ! Mỗi lần cháu dẫn bạn gái về nhà, bố cháu liếc mắt một cái là biết ngay cô nàng Bắc hay Nam. Có một ông bố tinh đời như thế đôi khi lại…phiền. Với một mợ Bắc kỳ, bố cháu thân mật tươi cười ”Cháu vào nhà chơi ! bố mẹ cháu khỏe mạnh không ?”, cứ làm như quen biết từ lâu vậy. Gặp cô ả Nam kỳ thì lạnh nhạt khinh khỉnh ”Không dám, chào cô !” Cô bạn gái Nam kỳ mặt nghệt ra thưởng thức văn chương Bắc kỳ, còn cháu nghe qua mà thốn từ dạ dầy đến ruột non. Nghe Bắc kỳ chê, nghe Bắc kỳ chửi, mà cứ tưởng mình đang nghe thơ phú hay nghe nhạc êm dịu mới chết chứ ! Nếu quen cô nào Trời sinh có mấy cái vòng hơi…sexy một tí, Bắc cũng như Nam, cháu phải dấu biệt vì sợ lựu đạn nổ tung trong nhà. Điệu này coi bộ hơi khó sống. Thôi thì Bắc Trung Nam cũng một nhà, hạnh phúc lứa đôi đâu phải do thằng hàng xóm, mà là do chính mình. Thế rồi cháu đã từng hạ quyết tâm với bố: lấy vợ Bắc kỳ, cho phải đạo làm con. Em nào Bắc kỳ, rước về nhà cho bố xem mặt mà bắt hình dong (cứ như đi mua gà chọi). Em nào Nam kỳ, điểm hẹn sẽ là mấy ống cống dưới gầm cầu xa lộ Đại Hàn.

    Thiên bất dung gian! cháu lại phải lòng một ả Nam kỳ, Nam kỳ không lai giống, cái thứ Nam kỳ Gia Long kên kên xí xọn. Hồi đó cháu đi lính Không Quân của miền Nam, thấy đám phi công trời đánh đa số cũng đều là Bắc kỳ, chẳng hiểu tại sao? Dân Nam kỳ cũng có, Trung kỳ lại càng ít hơn, nhưng đứa nào cũng có …”cái mồm Bắc kỳ”. Cháu còn nhớ khi thi gia nhập Không Quân, phải đủ ký lô, đủ kích thước, lục phủ ngũ tạng bị khám tuốt luốt, phải trần trùng trục như con nhộng rồi nhẩy lên nhẩy xuống cho mấy ông bác sĩ …”vạch lá tìm sâu”, chứ đâu có thi tuyển đứa nào ”lắm mồm”! Thế mà thằng nào thằng nấy đều có cái ”chứng chỉ lắm mồm” cao hạng dấu kỹ trong túi áo bay. Một hôm đang trực phòng hành quân thì ông xếp (ông này Nam kỳ quốc) hỏi có thằng nào rảnh ra phi đạo chở con cháu gái vợ của xếp theo tàu từ Sài Gòn ra Nha Trang đem về nhà bà vợ đang có bầu sắp đẻ. Tưởng đi biệt phái hành quân chứ cái màn này cháu khoái lắm: ”Chuyện nhỏ mà xếp, có tui ngay” Ông xếp của cháu cũng chẳng vừa, nhìn thấu tim gan thằng đàn em : ”Lẹ lẹ lên coi, tàu sắp đáp rồi đó, sách tao mày học hết còn dư có cái bìa, nhưng mà từ từ thôi nghe cha nội, lạng quạng con mẻ chửi tao thấy bà !” Lúc đó cháu đâu có ngờ rằng, cái chuyện nhỏ như mắt muỗi này lại thành chuyện lớn, lớn khủng khiếp, ảnh hưởng đến hết cả cuộc đời cháu !

    Cô cháu gái ông xếp không có cái dạng ”ngực tấn công, mông phòng thủ” như trong ”xi la ma”, thế mà ngay từ phút ban đầu cháu đã bị dáng ngay tim một cái búa tạ chình ình chứ chẳng phải tiếng sét tầm thường.
    – ”Cô đi máy bay có mệt lắm không ?”
    – ”Dạ !”.
    – ”Ra thăm cô dượng hả ?”
    – ”Dạ !”.
    -”Cô lên xe đi, tôi đèo cô về”
    – ”Dạ !”…
    Chèng đéch ơi ! sao mà cụt ngủn cộc lốc thế bà nội ? Cái gì cũng ”dạ” hết ráo thì cháu biết đâu mà rờ ! Đúng gái Nam kỳ ! Chợt nghĩ, không biết bà dzợ xếp tới giờ này có còn ”ngây thơ”, ”dạ dạ” với xếp như dzậy nữa hay không ? Xếp cháu đang ở San José, nếu xếp có đọc những giòng chữ này thì xếp cũng bỏ qua dùm vì thằng em đã thuộc lòng trọn bộ sách của xếp từ khuya rùi ! Từ đó cháu với nàng rủ rỉ rù rì cùng nhau đánh vần mấy chữ ”hình như là tình yêu”. Cuộc tình của cháu với nàng êm ả như quả lắc đồng hồ treo trên tường phòng khách nhà cháu, nhưng mỗi khi nghĩ đến bố cháu thì quả lắc đồng hồ bỗng ngất ngư như bị đứt dây thiều. Thương quá, cháu đánh liều, ”mấy sông anh cũng lội, mấy đèo anh cũng qua”, chuyến này nhất quyết không chui ông cống gầm cầu xa lộ, mà dắt nàng về nhà trình diện bố. Bố vẫn khinh khỉnh: ”Không dám ! chào cô”. Nàng vui tính: ”Ba anh coi ngầu quá hén!”, cháu tỉnh bơ: ”Không ngầu sao làm bố anh được !”.

    Thật ra thì bố cháu đâu có ghét Nam kỳ, ông chỉ phàn nàn rằng dân Nam kỳ được trời đãi, cho sống trên mảnh đất mầu mỡ phong phú, không làm vẫn có ăn, mà lại ăn ngon nữa, nên có tính lè phè, hoang phí, không chăm chỉ hạt bột, không cần cù tiết kiệm như Bắc kỳ. Ông chỉ vì thương con, lo cháu lấy nhằm cô vợ Nam kỳ cả ngày chỉ biết…phè cánh nhạn, ăn no lại nằm, thì con cưng của ông sẽ thành thân trâu ngựa suốt đời. Còn mẹ cháu, vốn dĩ nhà quê răng đen mã tấu bảo rằng, nghe Nam kỳ nói chuyện cứ tưởng nghe tiếng nước ngoài, chỉ hiểu một nửa ! Cháu cãi lại, Bắc kỳ cũng có khối đứa lười, lười như..cháu đây là hết mức rồi !

    Một hôm cháu đưa nàng về nhà, gặp lúc bố mẹ cháu sửa soạn mở tiệc đãi ông bác từ Hố Nai lên thăm. Ông bác vui tính bảo tiện bữa ngồi ăn luôn, cháu đang chần chừ thì nàng vén áo hạ ngay cái bàn tọa tròn lẳng xuống ghế, cháu kéo lên không kịp. Cháu thủ thỉ giải thích cho nàng rằng, đi đâu gặp khách Bắc kỳ mời ăn thì chớ có ăn liền, cứ để người ta mời dăm lần bẩy lượt, ăn liền người ta chửi mình…chết đói ! Nam kỳ thì thẳng ruột ngựa, mời là cháp lẹ, không cháp dọn xuống bếp, đói ráng chịu, không mời lần thứ hai, ai biểu mời không ăn ! Bỗng mấy đứa em cháu thay phiên nhau : ”Mời bác xơi cơm, mời bố xơi cơm, mời mẹ xơi cơm, mời anh xơi cơm, mời chị xơi cơm”, mời… mời… mời tùm lum!. Thằng em út cháu mời dài nhất, mời lâu nhất, mời từ trên xuống dưới , trong nhà chỉ có con Tô Tô đang nằm chực dưới gầm bàn là nó không mời. Nó lại chẳng được ai mời để xơi, út mà ! nhưng rồi vẫn xực ào ào ! Cô bạn Nam kỳ của cháu trố mắt nhìn cháu chẳng hiểu chuyện gì xảy ra. Cháu vội ghé tai thì thầm:
    – Em mời gia đình ăn cơm đi !
    – Ủa ! gia đình anh mời em ”ăng” mà ? Bộ ”ăng” cũng phải mời…mời…xơi …xơi sao?

    Nàng ấp a ấp úng cũng ráng mời:
    – Dạ mời bác, mời bác, dạ mời… à… à… mời anh, mời em…

    Chợt bố cháu lên tiếng:
    – Thôi đủ rồi, cháu mời người trên thôi, còn mấy em cháu không phải mời…Mà hay thật ! Con bé này vui vẻ, ngoan ngoãn lắm ! Sao con cứ ăn hiếp nó mãi !

    Nghe bố cháu nói mà bụng cháu cứ như mở cờ, ông còn cao hứng bảo khi nào nàng nấu cơm Nam kỳ cho gia đình cùng ăn. Cô nàng hí ha hí hửng nói liền:
    – Dạ ! (lại dạ!), để bữa nào cháu nấu bún(g) mắm dzới thịt heo ba rọi cho bác ăn(g), bún(g) mắm thịt ba rọi Trà Dinh ngoong nhức miền Nam nghe bác !
    – Sao ? cô muốn búng hả ? Lỗ tai tôi đây này, muốn búng bao nhiêu thì cứ búng đi !

    Thế là cả nhà cháu được một trận cười nắc nẻ. Nào đã hết đâu, mẹ cháu chợt bảo:
    – Cháu xuống bếp lấy cho bác mấy cái ”cùi dìa” với cái ”muôi” để trong ngăn kéo đấy !

    Nàng ngớ ra cứ như được nghe tiếng…Tây, nhìn cháu cầu cứu. Cháu cười hì hì khoái tỉ, ra cái điều thông thái giải thích ngay:
    – Cái ”cùi dìa” Nam kỳ kêu là cái ”muỗng”, tại Bắc kỳ sống lâu với bọn Tây, chúng nó gọi là ”la cuiller” thì Bắc kỳ gọi luôn là cái ”cùi dìa” cho tiện. Còn cái ”muôi” Nam kỳ kêu là cái ”vá”, chữ ”vê” thì đọc là ”dê” cho nên gọi là cái ”dzá”, phải không ?

    Nàng đỏ mặt, bĩu môi ”Cái đồ dzô dziêng, tui đi dzìa à nghen !”

    Sau bữa cơm hôm ấy, hình như bố cháu bắt đầu ”chuyển hệ”, có vẻ gần gũi thân mật với nàng hơn vì thấy nàng thật thà, có sao nói dzậy, không bãi bôi, không vòng vo tam quốc, nhất là…không lười như ông nghĩ. Thừa thắng xông lên, cháu thủ thỉ với mẹ cháu là cháu muốn lấy nàng làm vợ. Mẹ bàn với bố, bố vẫn ngần ngừ. Tại bố cháu không biết đấy chứ, cháu đọc lóm từ một quển sách nào đó người ta viết rằng, trong lịch sử nước ta hầu hết các vua chúa miền Trung đều có nhiều bà vợ bé, mà hầu như bà nào là Chánh Cung Hoàng Hậu cũng đều là Nam kỳ: vua Minh Mạng có rất nhiều vợ, đa số là các bà Nam kỳ, Chánh Cung là bà Hồ Thị Hoa, người Biên Hòa; Chánh Cung của vua Thiệu Trị là bà Từ Dũ, người Gia Định; Vợ chánh của vua Bảo Đại là bà Nguyễn Hữu Thị Lan (tức Nam Phương Hoàng Hậu), là người Gò Công. Mấy ông vua cũng tinh đời đáo để ! Nhưng cháu ”không phải là vua, nên mộng ước thật bình thường ”, chỉ xin ”…quỳ lậy Chúa trên Trời, sao cho lấy được …con nhỏ Cái Bè con thương !” Thật là oái oăm: cá đã cắn câu mà bố cháu vẫn chưa cho giựt cần! Tuy thế, thỉnh thoảng bố cháu cũng dò hỏi về gia đình nàng. Thì cháu đã nói rồi mà, ”quê Cái Bè, nội Cái Răng, ngoại Cái Dồn”, ruộng đất mênh mông, sông nước dập dình, ăn nói ”ngắn gọn và dễ hiểu” chứ không ”dài dòng nhưng khó hiểu”… kiểu Bắc kỳ ! Chấm hết!

    Ngày vui nhất đời cháu là ngày bố cháu ra lệnh sửa soạn ”lên đồ dzía” đến thăm gia đình nàng. Sao bố cháu không nói thẳng thừng ra là đi ”hỏi vợ”, đi ”chạm ngõ” cho xong. Nhưng mà cần gì phải ”chạm ngõ” với lại ”chạm cổng” cho rườm rà rắc rối, nhà của nàng cháu biết từng phòng, quen từng góc, rõ từng cột. Mỗi lần cháu từ đơn vị ”dù” về đều có chút quà biếu ba má nàng, cho mấy đứa em nàng và cho cả cô Ba giúp việc trong nhà (học theo sách dụ khị của xếp cháu đấy !). Lần nào gặp ba nàng là lần đó có…nhậu. Đồ nhắm lúc nào cũng có sẵn, lúc củ kiệu tôm khô, khi ra sau hè ngắt mấy trái xoài tượng chấm mắm nêm ngào ớt, kẹt quá cột sợi ny-lông dzô ngón chân cái, đầu kia cặm mấy con trùng liệng xuống sông, cũng câu được mấy con cá lên nướng làm mồi. Nam kỳ trù phú mà ! Ổng không nhậu bia nhậu rượu, mà nhậu đế; không nhậu bằng cốc hay ly mà nhậu bằng tô, tô nào tô nấy bằng cái bát ăn cơm nhà cháu. Thế mà ổng lúc nào gặp cháu thì cứ nói rằng: ”Dô dzới tao dăm ba sợi nghe mày !” Chưa tới nửa sợi cháu đã guắch cần cẩu ! ”Lính tráng như mày chi mà yếu xìu sao oánh giặc nổi ? Dzô cái coi !” Ổng thương, ổng coi như con như cháu, ổng mới kêu cháu bằng ”mày”. Tiếng ”mày” của Nam kỳ biểu lộ cái chân tình, sự gần gũi thân thương, không như Bắc kỳ khi đã xổ ra tiếng ”mày” rồi thì … ô hô ! ô hô ! thiện tai ! thiện tai ! chạy cho lẹ !

    Một hôm đang nướng con mực khô nhậu lai rai với ổng, bỗng có khách gõ cửa bước vào, mặt ổng sáng lên như sao băng, vừa cười vừa nói:
    – Chèng đéc ơi anh Sáu Lèo ! hôm qua tui chờ qua qua mút chỉ cà tha, hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, hôm nay qua nói qua hổng qua mà qua lại qua, nay qua rồi có thằng rể tương lai tới thăm, nhào dzô chơi vài xị, hôm nay có ớt nè qua !

    Nói chi mà cứ qua đi qua lại, qua tới qua lui, nói cũng như thơ phú đấy chứ, thế mà mẹ cháu cứ nói tiếng Nam kỳ nghe sao như tiếng…nước ngoài !

    Bắc kỳ vẫn có câu ”dâu là con, rể là khách”, nhưng Nam kỳ thì ”dâu là con, rể cũng là…con luôn”. Bố dzợ chịu chơi lại gặp thằng rể cũng chịu chơi luôn, dzô ba xị rồi thì coi như…bạn, chơi xả láng sáng dzề sớm, còn má dzợ bỗng nhiên thành… chơi chịu ! Nàng kể cho cháu nghe, nhiều lần ổng đi nhậu quá giờ giới nghiêm chưa chịu về, cả nhà trông đứng trông ngồi. Chợt nghe tiếng xe Vespa quen thuộc chạy ngang nhà, cứ thế nghe cái ”dzù” rồi lại chạy mất tiêu, lại nghe cái ”dzù” rồi đi tuốt luốt ! Sinh nghi, nàng chạy ra cổng đón đường chặn xe : ”Ba ui ! Ba ui ! Tới nhà rồi nè !”. Ổng chợt tỉnh, quẹo dzô thắng cái ”két”, xe đổ cái rầm, ổng té cái đụi, miệng lèng nhèng ” Ủa, nhà mình đây rồi sao? Dzậy mà tao chạy dzòng dzòng kiếm hoài hổng ra !”

    Ngày cưới, cháu chọn nhà hàng Đại La Thiên của chú Ba tuốt bên Chợ Lớn cho có vẻ trung dung, không Nam cũng không Bắc mà là cơm Tàu. Không xài Karaoke nhưng chơi nhạc sống. Có ông chú dzợ tên là Ba Phoóng làm nhạc trưởng cho mấy bà xồn xồn Nam kỳ lên sân khấu ca cải lương hà rầm. Hình như 7 thứ nghệ thuật của nhân loại đối với Nam kỳ đều tóm gọn trong mấy câu dzọng cổ thiệt mùi. Đám cưới cháu người ta chụp nhiều hình lắm. Ông bố vợ coi hình gục gặc cái đầu: ”Chèng đéch ơi ! thằng rể tao chụp hình coi phông độ dzữ hén ! Ráng nghe mày !” Cháu chẳng hiểu ổng nói cháu phải ráng cái gì ? Nhưng có một cái cháu phải ráng là cái chắc, ai biểu ham dzợ Nam kỳ…mũi cao chân dài ! Còn bố cháu xem ảnh thì lại phán một câu xanh rờn: ”Con dâu bố chụp với bố ảnh này đẹp quá, giá mà đứng cạnh bố con khoanh tay lại thì còn đẹp hơn biết bao !”. Ông xếp cháu, khơi khơi tự nhiên thành ông dượng, sẵn có dăm ba ly nhưng mắt vẫn láo liên ngó bà cô, rồi len lén kể lể làm oai: ”Thấy chưa mày! Hồi đó tao xách máy bay xuống Vĩnh Long rồi lạng qua Cái Bè, mới lạng chơi dzài ba dzòng là dzớt luôn bà cô mày, ngon chưa !” Cám ơn ”ông xếp dượng” đã có công ”nối giáo cho giặc” rồi rước luôn giặc vào nhà. Còn mấy thằng bạn Không Quân quỷ sứ thì xúm nhau ca bản ”Mùa thu chết ”… đã chết rồi, cho mày…chết luôn!

    Ngày qua ngày, cháu không chết mà vẫn sống nhăn răng với bà vợ ”quý phái bình dân”, bây giờ đã có 4 con với 3 đứa cháu ngoại để nựng. Nam kỳ cũng chăm chỉ đấy chứ ! Thế là xong một đời phiêu bạt giang hồ, bay bướm, quậy phá ! Được cái vợ cháu cưng cháu lắm (Nam kỳ mà!), bao nhiêu công việc trong nhà từ lau nhà, rửa chén, hút bụi, trồng cây, giặt đồ…vợ cháu dành làm hết ráo. Bả nói ”tay chân ông như thằng cùi, làm đâu hư đó, để tui làm luôn cho lẹ !”. Cháu đi làm mang tiền về, bả cũng không thèm động tới, bảo rằng ”tui hỏng cần anh nuôi tui !” Thế nhưng vợ cháu ghen khỏi nói, trong vườn trồng nhiều ớt hơn trồng hoa, ghen có đẳng có cấp, ghen có kế hoạch, có phương án đàng hoàng. Ghen thì ghen, lâu lâu cháu cũng theo bạn bè…nhảy dù vài sô, về nhà im thin thít, thế mà bả cũng ”nghe” được mùi, lườm lườm, nguýt nguýt, rồi cũng huề tiền. Sau này cháu mới khám phá ra vợ cháu rất sòng phẳng, đâu ra đó, nếu ”ăn bánh trả tiền” là…cho qua cầu gió bay, không thèm chấp. Một hôm vô tình đọc báo thấy tin cô Quờn, người Sóc Trăng, ghen chồng lăng nhăng, lẳng lặng lựa lúc chồng đang say túy lúy, xách con dao bếp cắt luôn…của quý của chồng đem quăng sau vườn. Cô Quờn ra tòa ngồi chơi 4 năm tù. Trời đất Thiên địa ơi! Nam kỳ mà ghen kiểu này chắc cháu chết sớm, cháu dấu luôn tờ báo, ai dè vợ cháu chu môi oỏng ẻng : ”Cái đó còn đỡ à nghen ! gặp tui là tui cho luôn dzô cái máy xay thịt rồi quăng cho bầy gà ăn, chớ giờ người ta dzăng minh lắm, khâu nối lại mấy hồi !” Má ơi là má ! Cháu nghe mà ớn lạnh xương sống! Chơi kiểu này thì hơn xa các mợ Bắc kỳ rồi ! Nhưng cháu lại được phép kéo bạn bè về nhậu…xả láng, nhậu ”vô tư”. Xỉn quá thì : “Anh mệt rồi nghen, uống ly nước đá chanh nè, rồi dzô đây em cạo gió hết liền !”. Bạn bè ói mửa tùm lum thì : ”Hổng sao đâu, anh ngồi tiếp mấy ảnh đi, em dọn cho !” Mấy thằng bạn có vợ Bắc kỳ ngó phát thèm !

    Chắc khí thiêng sông núi Bắc kỳ linh thiêng hùng vĩ , hay nói theo khoa học hiện đại là cái ”dzen” Bắc kỳ quá mạnh, nên vợ cháu nửa dưới vẫn còn là Nam kỳ, nhưng nửa trên đã hóa thành Bắc kỳ: không nói ”bự bành ky” mà nói ”to vật vã”; không gọi ”trái bom” mà gọi ”quả táo”; thích ăn canh rau muống hơn nấu canh chua; nhưng đặc biệt nhất là ăn nói không còn ”ngắn gọn và dễ hiểu” như xưa, mà bây giờ thì.. ôi thôi ! ”dài dòng, ào ào như thác đổ”, nghe riết muốn khùng ! Bố cháu ăn ”bún(g) mắm thịt ba rọi” của vợ cháu nấu, đến phát nghiền, nghiền luôn cả chén nước mắn pha đường. Nhà cháu có bốn anh em trai thì bố cháu có tới ba ả dâu Nam kỳ, nhưng cả đám hợp lại vẫn thua xa một mợ dâu Bắc kỳ, ăn nói ngọt như đường phèn, dịu dàng khoai thai như thiên nga, thêm cái tài…chửi như hát di truyền. Thế là cái mộng ”dâu rể phải là Bắc kỳ” của bố cháu bị nước sông Cửu Long vùng Nam bộ cuốn trôi tiêu tùng. Bố cháu bây giờ cũng rành ”sáu câu” về Nam kỳ lắm, ông bảo người ta nói rằng:
    – ”Tính tình gái Nam kỳ giống như mưa Sài Gòn: đỏng đảnh nhưng mau quên; tính tình gái Bắc kỳ giống như mưa Hà Nội: âm ỉ và dai dẳng”.

    Lợi dụng lúc ông đang vui vẻ, cháu bèn phụ họa :
    – Bố biết không, người ta cũng bảo : ”Ở Sài Gòn nhiều em sinh viên giống như ca ve; Ở Hà Nội nhiều em ca ve giống như sinh viên”, đúng không bố ?

    Bố cháu quắc mắt : ”Sao dám ăn nói lăng nhăng thế hả ?”.
    Cháu chuồn nhanh kẻo ông nổi giận. Thôi thì đến nước này rồi, cúi xin các cụ cũng rộng lòng bỏ qua cho cháu nếu có gì gọi là thiên vị, bởi vì con gái Nam kỳ bây giờ đã là ”cây nhà lá vườn” của cháu, nên cháu đành phải ”ta về ta tắm ao ta”, ôm lấy cái ao Nam kỳ, ôm cứng cái cây sầu riêng Nam bộ cho phải đạo ”tình Bắc duyên Nam”, nếu không cháu phải ôm thùng mì gói suốt đời. Mong sao các cụ đọc xong rồi bỏ qua, cứ coi như một chuyện tầm phào, bởi vì cháu đã liều mình như mấy mợ Hà Nội làm con chim đa đa, không lấy vợ gần mà lấy vợ xa, xa tuốt luốt tận cái xứ Nam kỳ với giòng sông 9 cửa.

    Nguyễn Hữu Huấn

    • Võ Trung Tín
      15/07/2012 lúc 22:15

      Phay Van :Cảm ơn Tín. Bài này đọc vui vui thôi. Chị Năm không thích mấy (vì không thích nghe nói “bậy”).

      Chị Năm: Dạ, thì để đọc cho dzui dzui…xả stress..như ròm em nói ở còm trên thôi mà!
      Bởi khi gặp đọc được bài viết này của ông cựu sĩ quan không quân VNCH, ròm em thấy có..chút chút bóng dáng tinh nghịch..”trời gầm”.. của ròm em và Tuấn Anh..thời nhỏ trong đó..thôi mà!

    • Võ Trung Tín
      16/07/2012 lúc 21:50

      Lâu lâu…buồn buồn…ngứa miệng…nói “chút chút”..hổng được…ha chị Năm?
      hihihihihihihi…

  10. Võ Trung Tín
    15/07/2012 lúc 22:10

    Wow…! Entry này sao tự nhiên ròm em thấy thích…”lắm chuyện”.. và ..”ba hoa chích choè”..thế không biết?
    Chị Năm có thấy..bực mình…ròm em không dzậy? hihihihihi..

    P/s: Cả nhóm đi hết, không có Tuấn Anh ở nhà để…tán dzóóc, chị Năm thông cảm cho ròm em…huyên thuyên, ba hoa chích choè…đó nghen! hihihihi…
    Phần việc của nhóm giao cho ròm em, chỉ làm có sáng mai nữa là..xong!
    Chờ cả nhóm đi miền Tây dzề…ráp lại.. là…OK!

    • Võ Trung Tín
      16/07/2012 lúc 21:48

      Dạ, Nếu không có gì biến động, theo kế hoạch thì ngày mai cả nhóm sẽ dzề lại…nhà trọ Sè Gòong, chị Năm à! hihihihihii…

  11. Võ Trung Tín
    16/07/2012 lúc 21:44

    Phay Van :Tín: Chị đọc lâu rồi (tất nhiên là sau 1975), cuốn “Nhà Văn VN 1945-1975″. Tác giả là hai ông Phan Cự Đệ và Hà Minh Đức. Trong cuốn này có một chương viết về nhà phê bình HT, ca ngợi những “chiến công” chống NVGP của ông ấy.Cuốn này hiện chị không còn giữ nữa, mà đã nộp nó vào phong trào “kế hoạch nhỏ” của trường học rồi em ạ, chung số phận với hai cuốn “Đại thắng mùa xuân” (Văn Tiến Dũng) và Điện Biên Phủ (Võ Nguyên Giáp kể- Hữu Mai ghi). Hihi!

    Trên mạng không có sao chị Năm?
    Hôm nào ranh rảnh ròm em lục lạo thử xem sao….

  12. 19/07/2012 lúc 13:20

    DI CƯ 1954 – Cuộc bỏ phiếu bằng chân lịch sử – Passage to Freedom

  13. dinh thanh nguyen
    12/07/2013 lúc 21:40

    Bài viết của Phay Van một năm rồi hôm nay mới được đọc.Không những tự hào mình là Bắc 54,tự hào được là đứa con đầu tiên trong gia đình sinh ra tại miền Nam rực nắng TN còn thầm cám ơn mẹ,cám ơn cha đã quyết định chọn miền Nam tự do này làm quê hương thứ hai,dù phải bỏ lại tất cả,kể cả mồ mả ông bà tổ tiên,hai bàn tay trắng làm lại từ đầu.Nhìn mấy tấm hình trong bài,TN cứ tưởng như đang nhìn thấy cha đang bế chị gái mới hai tuổi,thấy mẹ đang bế anh trai chưa đầy tháng còn đỏ hỏn.Rồi tháng 4/75,đất nước bước vào đại nạn mới,cha buồn bệnh,mẹ lại lăn lộn lề đường để các con đang học khỏi phải dở dang như nồi cơm nấu dở,câu mẹ thường nói,khi các con đòi bỏ học đi làm thợ.Biết bao bà mẹ như vậy trên quê hương này,phải không Phay Van…

    • 14/07/2013 lúc 04:01

      Cám ơn anh TN. Bây giờ thì chúng ta lại mất nước, ngay trên chính “miền Nam rực nắng” này.

  14. 19/07/2015 lúc 14:46

    Hàng triệu người đã bỏ phiếu bằng chân vào những năm 1954 và sau 1975. Nhưng rất tiếc, không có ban kiểm phiếu nào quan tâm đến lá phiếu của họ.

    • 19/07/2015 lúc 15:09

      Hàng triệu người nhưng cũng chỉ là thiểu số. Những lá phiếu của đám thiểu số không được quan tâm là những dấu lặng tròn ngậm ngùi trong bản hợp xướng của (cái gọi là) bên thắng cuộc.
      Bác Cua độ rày hành tung bí ẩn quá.

      • 19/07/2015 lúc 20:29

        Họ là thiểu số trong cộng đồng nhưng không chắc là thiểu số trong số cứ tri muốn tham gia bầu. Và quan trọng nhất là lá phiếu của họ được định giá bằng máu.

      • 21/07/2015 lúc 15:24
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: