Phần III

3-1

Mắt đổi mắt

Một đoàn xe chở hành khách sơn mầu bạc và xanh da trời chờ đợi sẵn đám trẻ ở cổng ra khỏi bến tầu. Các nghi lễ chính thức giảm thiểu đến mức tối đa. Các trẻ em gần như bị đẩy lên các xe mở máy chạy ngay lập tức, có các xe thiết giáp nhẹ của quân lực Anh hộ tống. Mười lăm phút sau, hải cảng lại vắng lặng như cũ, ngoại trừ các toán phu rỡ hàng và vài người lính gác Anh.
Trên boong trước tầu Exodus, Kitty vẫn còn cố gắng trấn tĩnh. Tì mình vào lan can, nàng ngắm nhìn thành phố, xúc động vì vẻ đẹp – một vẻ riêng của các đô thị xây trên một vòng đồi bao quanh một cái vịnh. Ở tiền diện là khu Ả-rập với các ngõ nhỏ chạy ngoằn ngoèo giữa các nhà xúm xít vào nhau. Xa hơn là thành phố Do-thái trải dọc theo sườn ngọn Carmel. Về phía trại, ngay sát biên của Haïfa, là các hình dáng kỷ hà của các thùng chứa dầu và các ống khói của xưởng lọc dầu vĩ đại, nơi tận cùng của các ống dẫn dầu từ Mossoul tới. Phía bên phải, tận cùng hải cảng, một chục cái tầu cũ kỹ đang neo – những chiếc tàu đáng thương của Mossad, tương tự như chiếc Exodus, đã từng thành công trong công cuộc về được Palestine.
Zev, David và Joab đến làm ngắt ngang cơn mơ mộng của thiếu phụ trẻ tuổi. Họ tới để từ giã, cám ơn sư giúp đỡ của nàng cùng bày tỏ niềm hy vọng sẽ được gặp lại nàng. Rồi họ cũng ra đi nốt và Kitty lại cô đơn.
– Một thành phố xinh đẹp phải không?
Nàng quay người lại để thấy Ari đã tới sát nàng từ lúc nào. Chàng mỉm cười nói tiếp:
– Chúng tôi bao giờ cũng thu xếp để các quý khách của chúng tôi đến đây qua ngả Haïfa này. Như vậy để thời gian lưu trú của họ ở nơi này bắt đầu bằng một cảm tưởng tốt.
Nàng hỏi:
– Mọi người đưa các trẻ em tới đâu?
– Chúng sẽ được phân phối trong năm hay sáu trung tâm thanh niên. Một số trung tâm này nằm trong các kibboutz, một số khác có các làng riêng. Trong vài ngày nữa tôi sẽ có thể cho cô biết Karen ở đâu.
– Cám ơn anh nhiều.
– Còn chính cô… các dự định của cô ra sao?
Nàng cười mỉa mai.
– Chính tôi cũng đang đặt ra câu hỏi đó, cùng cả chục câu hỏi khác nữa. Tôi là một kẻ xa lạ đối với thành phố này, và nói cho thật, tôi thấy tôi hơi lố bịch khi để mình bị lôi cuốn đến đây. Nhưng mà… tôi có một nghề tốt, nhiều chứng nhận tốt, và bao giờ thiên hạ cũng thiếu các nữ điều dưỡng ở bất cứ đâu trên thế giới. Tôi chắc chắn sẽ kiếm ra một chỗ làm.
– Nếu cô cho phép, tôi xin giúp cô…
– Tôi tưởng anh là một người rất bận chứ. Sau cùng, bao giờ tôi cũng tự giải quyết được công chuyện riêng hết.
– Thưa bà Fremont, tôi cũng tin như vậy. Nhưng nếu và cho phép tôi được đề nghị… Tôi nghĩ rằng tổ chức thanh niên của Mossad sẽ mang lại cho bà một môi trường hoạt động tuyệt hảo. Người điều khiển tổ chức này lại là đúng ông bạn thân của tôi. Tôi rất dễ dàng để xin một buổi gặp gỡ giữa bà và ông ta ở Jérusalem.
– Tôi không muốn quấy nhiễu anh…
– Thôi đừng nói những điều lẩm cẩm nữa! Sau những gì cô đã làm cho chúng tôi, thì đó là điều ít nhất chúng tôi có thể đền đáp lại. Bây giờ… nếu cô nghĩ là có thể chịu đựng sự hiện diện của tôi trong vài ngày, tôi sẽ rất thú vị được đưa cô đến Jérusalem. Trước đó, tôi phải tạt qua Tel-Aviv, nhưng như thế cũng hay vì như vậy tôi có đủ thì giờ để hẹn với người bạn đó đợi gặp cô.
– Anh không nên cho rằng anh bắt buộc phải mất thì giờ về tôi như vậy.
– Không bắt buộc đâu, cô cứ tin như thế cho.
Kitty mỉm cười, vừa cố giấu niềm vui đang muốn bộc lộ. Quả thực là nàng đang sợ cái cảnh sẽ phải đương đầu một mình với cái xứ mà nàng hoàn toàn không biết gì hết này. Ari nói tiếp:
– Tối nay, bắt buộc phải ở lại Haïfa vì lý do có giới nghiêm trên các con đường ngoài thành phố. Vậy cô hãy chuẩn bị một chiếc va li nhỏ với những gì tối cần thiết cho cô trong ba hay bốn ngày tới. Nếu cô mang theo tất cả hành lý, người Anh cứ năm phút sẽ vồ lấy cô một lần để khám xét. Tôi sẽ thu xếp với quan thuế để họ giữ giùm cô hành lý.
Một chiếc taxi đưa hai người lên ngọn Carmel, tới một ngôi nhà nhỏ nằm giữa một khóm thông. Ari cắt nghĩa:
– Chúng ta nên xuống đây hơn. Ở trung tâm, chúng ta sẽ không được hưởng một phút yên tĩnh nào hết: tôi quen biết quá nhiều ở Haïfa. Cô hãy đi nghỉ trong khi tôi đi một vòng các ga-ra: tôi sẽ cố kiếm một chiếc xe bán lại nào không quá cũ. Tôi sẽ trở lại đón cô đi ăn tối.

Họ sống buổi tối với nhau trong một nhà hàng ăn nằm tít trên đỉnh Carmel, từ đó có thể nhìn thấy khắp vùng. Kitty tự hỏi điều gì đang làm nàng ngạc nhiên nhất: thái độ của Ari, thật âu yếm và ân cần khác với trước đây cau có và cứng cỏi; hay cái vẻ hoàn toàn Tây phương của thành phố Do-thái này, còn tối tân hơn cả Nhã-điển hay Salonique.
Bữa cơm chấm dứt, người quản lý dọn rượu tiêu vị. Một ban nhạc nhỏ chơi nhạc nhẹ và dịu, hàng trăm ngàn đốm sáng lấp lánh trên sườn ngọn Carmel và hai người cụng ly nhau một cách thân hữu mỗi khi uống, và có lẽ đầy thương mến nữa.
Đột nhiên nhạc ngừng. Tiếng rì rào nói chuyện đột nhiên im bặt.
Một chiếc xe chở lính Anh vừa lên khỏi dốc, thắng két lại trước nhà hàng. Các quân sĩ bố trí quanh nhà, ngoại trừ sáu người tiến vào phòng ăn dưới sự điều động của một đại úy. Họ bắt đầu đi len lỏi giữa các thực khách, đôi khi dừng lại để hỏi giấy tờ, Ben Canaan thì thào:
– Biện pháp kiểm soát thường lệ thôi. Mọi người quen rồi!
Viên đại úy chăm chú nhìn bàn hai người rồi tiến thẳng đến.
– Á à! Tưởng ai hóa ra ông bạn quí Ari Ben Canaan! Một thời gian gần đây không thấy cái bản mặt anh trên danh sách những người bị tầm nã. Hình như lúc này ông bạn đang thực hiện các chiến công hiển hách ở nơi khác phải không?
Ari, hoàn toàn điềm tĩnh, trả lời:
– Xin chào trung sĩ. Tôi rất sẵn lòng trình diện trung sĩ nếu tôi nhớ lại tên tuổi trung sĩ.
Viên sĩ quan cười vẻ giận dữ:
– Dầu thế nào, tôi cũng rất nhớ tên anh, Ben Canaan, chúng tôi đang theo dõi anh đây. Xà-lim của anh trong nhà tù Acre đang mỏi mắt trông chờ anh. Không ai biết được điều gì sẽ xảy ra đâu… Lần này, Cao Ủy chắc sẽ có ý kiến hay là biếu anh một mẩu dây thừng.
Viên đại úy giơ tay chào kiểu chế riễu rồi ra đi. Kitty nhận xét:
– Con người thật tởm!
Ari nghiêng người để nói nhỏ vào tai nàng.
– Đại úy Allan Bridges là một trong những người bạn thân nhất của chúng tôi. Anh báo cho chúng tôi biết đều đều những gì người Anh và Ả-rập định làm trong vùng Haïfa. Dĩ nhiên bề ngoài anh phải làm như thế để đánh lừa mọi người.
Hoàn toàn sửng sốt, Kitty không biết nói gì hơn là gật đầu. Toán quân bắt đầu rời phòng, mang theo hai người Do-thái giấy tờ không hợp lệ. Để quấy phá lính Anh, ban nhạc cử bài God Save the King.
Chiếc xe nhà binh vừa chuyển bánh… một vài phút sau, mọi người có thể tưởng là như chưa có gì xẩy ra trong căn phòng này. Ari nói:
– Mọi người học biết khá nhanh cách sống trong bầu không khí căng thẳng liên tục này. Cô, rồi cô cũng sẽ quen. Ở xứ này, đàn ông đàn bà thần kinh lúc nào cũng căng thẳng đến mức tối đa. Đến nỗi mọi người không còn biết làm gì nữa một đôi khi họ được một thời kỳ yên tĩnh một tuần hay hai tuần. Rồi cô sẽ hối tiếc đã đặt chân vào xứ này…
Một luồng hơi mạnh cắt ngang lời chàng. Luồng ba động làm rung chuyển căn nhà, rung các cửa kính, làm rơi loảng xoảng vài cái dĩa. Một lúc sau, họ trông thấy một khối lửa vọt tung lên bầu trời. Nhiều tiếng nổ lớn nữa kế tiếp và hai người cảm thấy như tòa nhà như rung chuyển đến tận nền móng.
Trong phòng, nhiều tiếng kêu lên:
– Xưởng lọc dầu! Họ đã phá được xưởng lọc dầu! Một cuộc đột kích của Macchabée!
Ari nắm lấy cánh tay Kitty.
– Chúng ta đi lẹ thôi! Trong mười phút nữa, tất cả đỉnh Carmel này sẽ đầy lúc nhúc những lính là lính.
Căn phòng ăn vắng hết người trong vòng có vài giây. Ở chân núi, những ngọn lửa đỏ hừng hực của các bình xăng tạo thành một hồ lửa nóng bỏng. Trong khắp thành phố, các tiếng còi hụ điên cuồng vạch đường đi các xe cứu hỏa và thiết giáp.
Nằm dài, trong bóng tối căn phòng, Kitty không làm sao tìm thấy giấc ngủ. Dù nàng hài lòng đã được sống một buổi tối với Ari, nàng vẫn tự hỏi liệu nàng có thể quen được với đời sống đầy tàn bạo, hận thù, mưu kế kéo dài bất tận này không. Chưa làm sao xếp đặt lại được các ý tưởng cho trật tự trong đầu, nhưng nàng đã có cảm tưởng mình đã lầm lẫn một cách thảm thương khi đến Palestine.
Sáng ngày hôm sau, xưởng lọc dầu vẫn bốc cháy. Một làn khói đen dầy đặc bao phủ toàn vùng. Kitty cũng được biết thêm rằng đồng thời các Macchabée còn tấn công phi trường Lydda gần Tel-Aviv, phá hủy nhiều khu trục cơ trị giá lên sáu triệu đô-la. Hành động song hành này có lẽ là các Macchabée chúc mừng các hành khách của tầu Exodus.
Ari đã mua một chiếc xe Fiat nhỏ, kiểu ở thời tiền chiến. Trong thời kỳ bình thường, quãng đường từ đây đến Tel-Aviv chỉ mất chừng vài giờ, nhưng vì Ari không sao nhớ được từ xưa đến nay đã có lúc nào bình thường ở xứ này chưa, nên chàng đề nghị rời Haïfa ngay từ buổi trưa. Họ đi theo con lộ dọc bờ biển chạy suốt từ đồng bằng Samarie. Kitty ngạc nhiên thích thú với vẻ xanh tươi của các cánh đồng và vườn tược của các kibboutz chạy dài xuống tận biển, tạo một tương phản rõ rệt với vẻ trần trụi thê thảm của các quả đồi. Rời Haïfa được ít phút, họ gặp trạm kiểm soát đầu tiên. Trước sự ngạc nhiên của Kitty, Ari không hề khó chịu, dù rằng nhiều binh sĩ Anh, nhận diện ra Ari, họ đều tế nhị nhắc nhở chàng chỉ được hưởng tình trạng miễn truy tố một cách tạm thời.
Khi họ đi qua một làng Ả-rập, Kitty có thể nhận thấy sự khác biệt quá xa giữa các nông trường Do-thái và các xóm làng lụp xụp chật chội chìm đắm trong nghèo khó và nhu nhược. Tại các khu Ả-rập, chỉ có phụ nữ làm việc ngoài cánh đồng, và các cánh đồng này chỉ là những ô vuông sỏi đá. Còn về đàn ông, họ lười biếng sống qua ngày ở quán cà-phê, nằm dài luôn cả xuống đất hay ngồi chồm hổm chơi domino.
Đến phía nam Zichron Yacov, Ari chỉ cho nàng coi đồn Taggart đầu tiên, một kiến trúc man rợ thu hình sau các hàng rào kẽm gai. Xa hơn chút nữa, con đường đi vào dưới vòm lá các cây khuynh diệp Úc-đại-lợi. Ari bình phẩm:
– Cách đây hai mươi năm, tất cả những cánh đồng, những lối đi, những sở trồng tỉa này bỏ hoang cả.
Đến xế chiều, họ tiến vào Tel-Aviv. Một đô thị trắng xóa, thủ đô Do-thái nhìn từ xa trông giống như một chiếc bánh ngọt lớn ướp đường.
Xe họ lăn trên các đại lộ rất rộng có hai hàng cây hai bên, phía sau là các khối nhà tối tân hết sức. Kitty không giấu được ý mê say: Tel-Aviv đã chinh phục nàng ngay từ phút đầu tiên.
Ari dừng chiếc Fiat trước khách sạn “Gat Rimon”, cách biển vài bước. Chàng nói:
– Cô hãy lên nằm nghỉ một chút. Dầu thế nào các cửa hàng cũng chỉ mở cửa lại vào lúc mặt trời lặn vì ban ngày nóng quá.
Một giờ sau, họ đi lang thang trên đại lộ Allenby. Kitty muốn đổi vài đô-la, mua những đồ linh tinh, để thỏa mãn lòng tò mò vô tận. Tất cả các cửa hàng đều quyến rũ nàng, tất cả mọi tiệm buôn nhỏ đều làm nàng chú ý, và còn nhiều rất nhiều cửa hàng, tiệm buôn khác nữa. Họ đi qua đại lộ Rothchild, vượt qua trung tâm thương mại, tiến vào một khu cổ hơn, nơi mà Tel-Aviv đã phát sinh chỉ như một ngoại ô kéo dài của Jaffa. Họ càng tiến gần đến thành phố Ả-rập, các nhà cửa và tiệm buôn càng có vẻ cũ kỹ, tồi tàn hơn. Qua các con đường phố nhỏ nối liền hai thành phố, Kitty có cảm tưởng nàng đang đi ngược thời gian. Sau đó, hai người quay lại, tìm lại không khí náo nhiệt an toàn của đại lộ Allenby, quẹo ở một ngã tư để rồi tiến sang một đại lộ khác, cũng rộng cũng đầy ánh sáng với hai hàng cây đẹp đẽ hai bên lề. Ben Yehouda là con đường của các quán cà-phê, quán nào cũng có thềm riêng, bảng hiệu riêng và thực khách riêng. Có quán của các luật sư thường hội họp, có quán dành cho đảng viên xã hội hay lui tới, lại có quán khác cho các nhà trí thức hay vào, làm ta nhớ tới quán “Dôme” hay “La Rotonde” ở khu Montparnasse, Ba-lê. Trên các vỉa hè, cả làn sóng người di tản. Kitty nhận thấy những người Đông phương này y phục còn theo các truyền thống của Trung Đông, những phụ nữ thanh lịch ăn mặc theo thời trang mới nhất của Ba-lê hay La-mã. Dẫu sao, đa số những người tản bộ mang rõ dấu vết của tuổi trẻ Palestine. Đàn ông, quần kaki, áo sơ mi trắng để hở ngực đeo một ngôi sao David, trên mặt có một bộ ria đen, bây giờ đã trở thành một dấu hiệu riêng biệt của những người Do-thái sinh trưởng trong xứ. Đàn bà, cao lớn, dáng điệu như con trai, vú cao thẳng, mặc một chiếc áo rất giản dị, một chiếc quần đen dài hay quần soọc. Tất cả đều có một thái độ kiêu hãnh, gần như gây hấn, và dáng điệu của họ biểu lộ một niềm tự tin hoàn toàn.
Đột nhiên sự im lặng rơi xuống đường Ben Yehouda. Một xe bọc sắt có trang bị máy phóng thanh, xuất hiện trên đường, tiến một cách chậm chạp. Trên mui xe, hai người lính Anh, mặt không tình cảm, đứng sau một khẩu trung liên.
“Thông báo cho tất cả những người Do-thái: Đại tướng Tổng tư lệnh đã ban hành lệnh giới nghiêm. Không một người Do-thái nào được phép lưu thông ngoài đường sau khi trời tối. Thông báo cho tất cả những người Do-thái: Đại tướng Tổng tư lệnh đã ban hành lệnh giới nghiêm…”
Có tiếng cười, tiếng vỗ tay. Một người la lớn:
– Cẩn thận nhé, các Tommy! Ngã tư tới có gài mìn đó.
Chiếc xe bọc thép đi qua. Một phút sau, đời sống lại tiếp diễn bình thường như cũ.
Kitty không ngăn nổi rùng mình. Nàng nói nhỏ:
– Chúng ta trở về khách sạn đi anh.
– Rồi cô sẽ thấy quen dần với đời sống này đến nỗi sau này cô sẽ thấy một đời sống yên tĩnh sẽ thành tẻ nhạt.
– Chắc là không rồi. Tôi chẳng bao giờ quen nổi hết.
Sau khi uống một ly rượu ở quầy khách sạn, hai người lên sân thượng ăn cơm tối. Dưới chân họ, đường cong của bờ biển của đô thị trẻ trung Tel-Aviv lẫn dần vào thành phố Jaffa cổ kính, hải cảng xưa nhất trong những hải cảng lúc nào cũng hoạt động đều trên thế giới.
– Cám ơn anh nhiều, anh Ari. Tôi đã sống một ngày tuyệt đẹp mặc dù các toán tuần tiễu và các trạm kiểm soát của quân Anh quấy nhiễu.
– Tôi thích được sống trọn buổi tối nay với cô, nhưng tôi bắt buộc phải rời cô trong chừng một hay hai giờ.
– Anh ra phố? Mặc dù giới nghiêm?
Ari nhún vai khinh khi:
– Ồ, giới nghiêm hả… Đó chỉ là một biện pháp áp dụng cho người… Do-thái(1).
Cầm tay lái chiếc Fiat, chàng tiến về vùng ngoại ô Ramat Dan. Khác với Tel-Aviv gồm đa số là các tòa nhà lớn, Ramat Gan gồm toàn những nhà cá nhân, đi từ bungalow giản dị đến biệt thự đồ sộ, trong một khung cảnh toàn thảm cỏ và vườn tược. Ari đậu xe vào một công viên rồi đi bộ. Sau chừng nửa giờ, khi đã tin chắc không có bóng đen nào theo dõi, chàng bỏ kiểu đi lang thang, và sau một lần quẹo thật gấp nữa, chàng tiến vào đường Montefiore. Số 22 là một ngôi nhà đẹp. Trên một cột ngoài cổng có gắn một tấm bảng đề: Bác sĩ Y. Tamir. Ari bấm chuông rồi đợi.
Chính bác sĩ mở cửa. Hai người bắt tay nhau trước khi xuống hầm.
Biệt thự Tamir chính là tổng hành dinh của Haganah.
Một phần hầm được dùng làm kho vũ khí và đạn dược. Trong một phòng khác, một máy in đang in những truyền đơn bằng tiếng Ả-rập khuyến khích dân chúng Hồi giáo hãy tránh mọi hành động khiêu khích. Cách đó một chút, một thiếu nữ đang cùng đọc bản văn đó trước một máy ghi âm. Băng ghi âm này sẽ được một đài phát bí mật và lưu động mang tên Kol Israël – Tiếng nói Israël – phổ biến trên các làn sóng. Tại các chỗ khác, mọi người đang làm lựu đạn, ráp các khẩu tiểu liên với các cơ phận do các cơ xưởng phục quốc chế tạo.
Ari xuất hiện làm ngưng hết tất cả các hoạt động đó. Các thanh niên nam nữ đều muốn khen ngợi chàng về chiến thắng của Exodus. Trong một vài phút, chàng phải bắt cả loạt bàn tay giơ ra và trả lời cả trăm câu hỏi. Vị bác sĩ nhắc đi nhắc lại:
– Đợi chốc nữa… tha hồ các cô các chú nói chuyện, chốc nữa kia.
Ben Canaan nói:
– Tôi phải vào trình diện Avidan.
Lách giữa các thùng súng carbine, chàng tiến tới một cánh cửa ẩn giấu, giơ tay gõ.
– Cứ vào!
Đằng sau một chiếc bàn bằng gỗ trắng chồng chất những hồ sơ, vị Tư lệnh thấp người và sói trán của quân lực bí mật đang xem một tờ trình. Ông đứng dậy, và một nụ cười làm soi sáng khuôn mặt nhăn nheo như chạm khắc.
– Shalom, Ari!
Ông chồm dậy ôm Ari vào lòng rồi sau khi đẩy chàng ngồi vào một ghế bành, lấy tay vỗ vào lưng chàng một cái mạnh tương xứng với chàng thanh niên đồ sộ này.
– Rất mừng được gặp lại cậu nhỏ. Cậu đã thực hiện một công tác tuyệt đẹp. Các phụ tá của cậu đâu?
– Cháu đã cho họ về nhà cả rồi.
– Tốt lắm. Họ xứng đáng hưởng vài ba ngày nghỉ ngơi. Cháu nữa, cháu cũng cần tháo yên cởi giáp một chút.
Đây là – Ari ý thức rõ lắm – một phần thưởng rất quý của Avidan, kẻ từ hai mươi lăm năm nay không bao giờ cho phép mình nghỉ ngơi tới một ngày.
– Này cháu, cô gái cháu mang đến Tel-Aviv là ai vậy?
– Một nữ gián điệp ra mà bác… Bác gì mà tò mò quá vậy…
– Nàng có là bạn chúng ta không?
– Không. Cảm tình cũng không nữa.
– Vậy hả? Thật đáng tiếc: một người Mỹ Ki-tô giáo sẽ rất hữu ích cho chúng ta.
– Đáng tiếc Kitty Fremont chỉ là một thiếu phụ xinh đẹp nhìn người Do-thái gần như là nhìn một con vật lạ kỳ trong sở thú. Ngày mai cháu sẽ đưa nàng đến Jérusalem để gặp Henriette Salzman lo một công việc làm trong trung tâm thanh niên của Mossad.
– Có vậy thôi sao? Không có gì riêng tư giữa hai người?
– Không có gì hết. Bây giờ cháu xin bác đưa trí tò mò của bác vào một đề tài khác đi.
Không khí trong căn phòng nhỏ rất nặng nề, ngột ngạt. Avidan rút một chiếc khăn tay màu xanh ra lau trán. Ari nói:
– Các Macchabée hôm qua đã nỗ lực hết sức để chúc mừng ngày chúng cháu về đây. Mọi người nói là xưởng lọc dầu còn cháy cả tuần nữa. Một lỗ thủng lớn trong mức sản xuất dầu Anh quốc.
Avidan nhún vai.
– Các Macchabée đã thực hiện một chưởng đẹp hôm qua, bác đồng ý – nhưng ngày hôm trước nữa họ đã được gì, và ngày mai đây họ sẽ thành công được gì? Cứ một thành công, phải ba hành động thất bại. Và mỗi lần họ dùng tới bạo lực, ám sát một vài kẻ khốn khổ nào không may đi qua đó, là cả cộng đồng Do-thái lại lãnh đủ. Thiên hạ cứ chúng ta mà hỏi về các tội họ làm. Ngày mai đây, tướng Haven-Hurst và Cao Ủy sẽ đến “Trung ương”. Họ sẽ đập thình thình lên bàn của Ben Gourion, họ sẽ đòi chúng ta động viên Haganah để lùng bắt các Macchabée. Cháu có thể tin chắc rằng lắm lúc bác cũng không biết làm thế nào nữa. Cho tới giờ, hầu như người Anh để kệ cho chúng ta yên thân, nhưng nếu các Macchabée cứ tiếp tục chiến thuật khủng bố tấn công luôn các nhà ngân hàng để tài trợ cho các cuộc hành quân của họ…
– Chắc là các nhà ngân hàng Anh…
Châm một điếu thuốc lá, Ari đứng dậy đi đi lại lại trong phòng.
– Cháu nghĩ rằng đã đến lúc chúng ta nhập cuộc cho rồi. Bằng cách tổ chức vài cuộc đột kích cho chính chúng ta…
Avidan ngắt lời.
– Không được. Chúng ta không có quyền khinh xuất đối với Haganah. Chúng ta có một trách nhiệm nặng nề: bảo vệ tất cả những người Do-thái. Ngược lại, bác cho rằng nhập nội bất hợp pháp là một chiến thuật đấu tranh tuyệt hảo. Chỉ một thành công như thành công của Exodus còn làm cho Anh quốc xính vính hơn mười xưởng lọc dầu bị đốt nữa.
– Có thể như vậy, nhưng sớm hay muộn rồi chúng ta cũng phải lao toàn diện vào cuộc. Chúng ta phải chọn lựa một trong hai điều: hoặc chúng ta có một quân lực, hoặc là chúng ta không có.
Không trả lời, Avidan lấy trong ngăn kéo ra vài tờ giấy đánh máy, đẩy về phía Ari. Ở đầu trang nhất, một hàng chữ lớn: LỆNH HÀNH QUÂN – SƯ ĐOÀN 6 KHÔNG VẬN. Ari nói:
– Bây giờ họ đã có tới ba lữ đoàn nhẩy dù rồi hả?
– Ồ! Không phải chỉ có thế. Cứ tiếp tục đọc đi đã.
“ROYAL ARMORED CORPS WITH KING’S OWN HUSSARS, 53RD WORCESTERSHINE, 249TH AIRBORNE PARK, DRAGOON GUARDS, ROYAL LANCERS, QUEEN’S ROYAL, EAST SURREY, MIDDLESEX, GORDON HIGHLANDERS, ULSTER RIFFLES, HERTFORDSHIRE REGIMENT…”
Danh sách còn dài. Bực bội, Ari ném trả những tờ giấy trên bàn.

– Họ muốn chống trả ai đây? Hồng quân chăng?
– Bây giờ cháu hiểu rồi chứ? Mỗi ngày, bác đưa danh sách này cho các chú “điên cái đầu” của Palmach đọc, những người muốn đập phá tất cả. Tại sao chúng ta không tung ra một hành động nào? Tại sao chúng ta khước từ chiến đấu dàn trận công khai? Lý do rất giản dị: làm vậy, chúng ta sẽ phải đương đầu với hơn một phần năm sức mạnh quân lực của Đế quốc Anh – hơn một trăm ngàn người, chưa kể Lữ đoàn Ả-rập.
Ông đập mạnh tay trên bàn:
– Mẹ kiếp! Tưởng cháu loạn trí rồi chứ! Chỉ có Trời mới biết bác đã làm những nỗ lực tuyệt vọng để tạo ra một quân lực. Nhưng lúc này đây, chúng ta không có tới mười ngàn khẩu súng. Và cháu đừng có quên điều này: nếu Haganah bị tiêu diệt, chúng ta cũng bị tiêu diệt theo hết – hết tất cả, đến tận người cuối cùng.
– Vâng, cháu hiểu.
Bằng một cử chỉ giận dữ, Ari dụi tắt điếu thuốc.
– Các lệnh của bác cho cháu bây giờ là gì?
– Bác chưa thể trao cho cháu chức vụ mà cháu xứng đáng nhận lãnh. Trước hết, hãy trở về nhà nghỉ ngơi đã. Sau đó cháu trình diện Bộ Chỉ huy của Palmach ở Ein Or. Nhiệm vụ như sau: kiểm kê thật chính xác lực lượng của chúng ta trong tất cả các nông trường ở Galilée. Chúng ta muốn biết có thể hy vọng giữ được những gì… Và phải chờ đợi mất đi những gì…
– Bác chưa bao giờ tỏ ra bi quan như vậy.
– Lý do bởi vì tình hình chưa bao giờ đen tối đến như vậy. Người Ả-rập từ chối ngay đến cả việc tham dự vào một hội nghị với chúng ta.
Ari đã ra đến cửa, chàng quay lại.
– Ngày mai cháu sẽ đến Jérusalem. Bác có việc gì giao phó ở đó không?
– Có chứ. Hãy kiếm cho bác mười ngàn quân sĩ ưu tú cùng các võ khí tương xứng.
– Shalom, Avidan.
– Shalom, Ari. Rất hài lòng thấy cháu trở về đây.
Khi lái xe về Tel-Aviv, Ari buông thả mình vào niềm chán nản mơ hồ. Khi xưa, ở Chypre, chàng đã cắt nghĩa cho người bạn trẻ tuổi David Ben Ami rằng Haganah, Palmach và Mossad mang ra thí nghiệm tất cả các phương pháp. Một số thành công, một số khác thất bại. Một chiến sĩ chuyên nghiệp phải thực hiện các công tác của mình một cách chuyên nghiệp, không được để tình cảm nào dính dấp vào. Chính chàng, Ari Ben Canaan, cũng chỉ là một cái máy do một bộ óc hiệu lực và táo bạo điều khiển. Trong trò chơi chiến tranh, không phải ván nào người ta cũng thắng…
Dầu vậy, có những lúc chàng nhận định tình hình một cách hoàn toàn thực tế. Như tối nay chẳng hạn có lúc chàng có cảm tưởng đang mấp mé bên bờ thảm bại. Một thảm bại không thể tránh được.
Vụ Exodus, xưởng lọc dầu Haïfa, một cuộc đột kích chỗ này, một trận đánh chỗ kia. Nhiều người đã chết để nhập nội bất hợp pháp năm mươi khẩu súng, những người khác bị treo cổ vì đã phá sự phong tỏa với một trăm người sống sót của các trại tập trung. Phục quốc Do-thái, như một anh chàng tí hon chống lại một người khổng lồ. Ari sẵn lòng trả giá rất đắt để có thể như David Ben Ami tin tưởng có sự can thiệp của Thượng đế. Nhưng một người thực tế không thể nào tin ở các phép mầu được.
Kitty Fremont chờ chàng ở quầy rượu mặt tiền của khách sạn. Nàng trông thấy chàng đẩy cánh cửa xoay và tiến về quầy tiếp khách để lấy chìa khóa phòng. Nàng gọi:
– Anh Ari!
Khuôn mặt chàng lại có cái vẻ hướng hoàn toàn vào nội tâm mà nàng đã trông thấy trong lần gặp gỡ đầu tiên ở đảo Chypre. Nàng lại gọi chàng, nàng ra dấu mời chàng rõ ràng, nhưng chàng hình như không trông thấy, không nghe thấy nàng. Trong khoảng thời gian vài giây, mắt họ gặp nhau. Rồi chàng quay đi và chậm chạp bước lên thang lầu.
__________

Chú thích:
(1) Một lối dùng chứ không thể dịch được. Lệnh giới nghiêm ban hành đối với người “Do-thái”, trong khi Ari chỉ nhận mình là người Israël. Tương tự như một người Việt dưới thời Pháp thuộc không nhận mình là “Annamite”, chỉ nhận làm người Việt-nam.

*

3-2

Hai chiếc xe ca mỗi chiếc chở hai mươi lăm đứa trẻ của tầu Exodus tiến vào thung lũng Houleh. Con lộ lên cao, quanh co, theo sườn núi, sau mỗi khúc quanh, mọi người lại nhìn rõ hơn những cánh đồng xanh tươi của các kibboutz và moshav, các khoảng vuông chói sáng của các ao nhân tạo dùng cho việc chăn nuôi dọc theo bờ lầy lội của những hồ nước.
Xe chạy chậm lại để băng qua làng Abou Yesha. Ở đây, các trẻ em trên xe không hề nhận thấy vẻ thù nghịch chúng đã nhận thấy trong tất cả các làng Ả-rập khác. Khi xe chạy qua, dân làng giơ tay vẫy, cười và la lên những lời chúc mừng thân hữu.
Con đường vẫn tiếp tục leo lên cao nữa. Khi đến một tấm bảng chỉ dẫn ghi độ cao sáu trăm thước, con đường chạy thẳng đến tận trung tâm thanh niên Dafna. Hai chiếc xe dừng lại trước một thảm cỏ rộng ở giữa trại. Trại nằm trên một khoảng phẳng lớn có hai con đường chạy ngang chia ra làm bốn khu. Chỗ nào cũng đầy những cây hoa và một thảm cỏ. Chính giữa thảm cỏ có dựng tượng Dafna to bằng thật, thiếu nữ trẻ tuổi đã chết thảm cho chính nghĩa mà tên nàng đã được chọn đặt cho trung tâm thanh niên này. Dong dỏng cao, kiêu hãnh, súng carbine cầm tay, nàng đứng nhìn xuống thung lũng trong dáng điệu hẳn nàng đã có ở Ha Mishmar ngày mà quân Ả-rập ám sát nàng.
Các trẻ em được người sáng lập trung tâm ra đón tiếp. Đó là một người nhỏ bé, hơi gù, hút một ống điếu cong và to. Qua một vài lời, bác sĩ Liebermann kể lại cho các trẻ nghe, sau khi rời Đức quốc năm 1934, ông đã làm thế nào để đến Gan Dafna năm 1940, trên khoảng đất do Kammal, vị cố moutak làng Abou Yesha, đã hảo tâm tặng cho. Rồi ông trà trộn vào trong đám trẻ, nói với từng em một bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Karen, đang quan sát ông, có cảm tưởng mơ hồ là hình như đã được gặp ông ở đâu rồi. Ông giống như các giáo sư đại học thường đến chơi nhà ba má nàng ở Cologne. Nhưng chuyện này quá xa trong quá khứ, cách không biết bao nhiêu năm tháng, qua biết bao nhiêu biến cố nên nàng không thể nhớ lại nổi một cách chính xác.
Mỗi trẻ em có một nhân viên trại chờ đợi sẵn. Karen được một cô gái gốc Ai-cập nhiều tuổi hơn nàng một chút đón tiếp.
– Karen Clement phải không? Tôi là Iona. Hai đứa chúng mình sẽ ở chung. Lại đây tôi chỉ cho phòng của bọn mình.
Karen la lớn báo cho Dov biết nàng sẽ gặp chàng sau rồi theo Iona đưa nàng qua khu hành chánh, trường học đến một khu nhà nằm hai bên một con đường có trồng cây nhỏ. Iona cắt nghĩa:
– Chúng ta gặp may đấy. Khu nhà này dành cho lớp tráng niên.
Căn buồng giản dị đơn sơ, nhưng đối với Karen, quả là chuyện thần tiên: một chiếc giường trải ra trắng tinh, một bàn làm việc, một ngăn tủ, một ghế bành – tất cả dành cho nàng!
Mãi đến tối nàng mới gặp lại Dov. Sau cơm chiều, các trẻ em dự một buổi trình diễn trên cỏ. Karen lảng xa để gặp Dov trước tượng của Dafna. Lần đầu tiên từ nhiều tuần, nàng mới thấy thèm được khiêu vũ, ca hát. Không khí miền núi lành mạnh và trong lành, và trại quả thật là một thiên đàng trên thế gian! Chưa kể tới thú vị về phương diện y phục – Karen tự thấy mình rất đẹp trong một chiếc quần mầu xanh ô-liu, một chiếc áo trắng kiểu thôn nữ và đôi dép da hoàn toàn mới.
– Ôi anh Dov! Một ngày thần tiên! Tôi chưa bao giờ sung sướng đến như thế!
Trong cơn vui lộ ra ngoài, nàng lăn ra cỏ. Nhăn nhó, Dov vẫn sững như cây cột. Nàng nắm tay Dov kéo xuống ngồi cạnh. Dov lầu nhầu:
– Thôi, để mặc tôi.
Nhưng nàng cứ năn nỉ, và sau cùng Dov cũng nhượng bộ. Nhưng khi Karen định ngã đầu vào vai chàng, Dov tránh sang một bên.
– Anh Dov, xin anh… hãy cố sung sướng, cả anh nữa.
– Không ai thèm lo tới tôi có sung sướng hay là không…
– Anh nhầm rồi. Tôi, tôi thắc mắc lo lắng về anh.
– Nếu thế thì em nghe đây: em cứ lo cho em thôi…
– Tôi không có quên anh đâu, đừng có vội…
Nàng quỳ trước chàng, hai tay nắm lấy vai chàng.
– Anh đã thấy phòng của anh, giường, ghế của anh chưa? Đã bao năm rồi anh không có một căn phòng như vậy?
Ngượng nghịu vì tay nàng chạm đến thân thể mình, Dov cúi đầu. Karen nói tiếp:
– Anh không chịu hiểu gì hết sao? Bây giờ là hết trại tạm cư, hết tầu phá phong tỏa. Giờ đây chúng ta đã được ở quê hương chúng ra, một xứ sở còn đẹp hơn tôi thường tưởng nữa.
Dov gỡ tay Karen ra, đứng dậy, quay lưng lại phía nàng, lầu nhầu.
– Nếu chỗ này làm em thích, càng tốt. Còn tôi, tôi có các dự định khác.
– Xin anh quên các dự định đó đi. Anh nghe này! Ban nhạc bắt đầu chơi rồi. Chúng ta hãy lại coi trình diễn đi anh.

Chiếc Fiat vừa rời Tel-Aviv, Kitty đã cảm thấy tâm trí nàng lại căng thẳng như bầu không khí của Palestine. Khi đi qua thành phố hoàn toàn Ả-rập Ramlé, nàng cảm thấy hàng trăm cặp mắt hận thù đang nhìn theo chiếc xe. Còn Ari chàng có vẻ như không biết tới những người Ả-rập cũng như sự hiện diện của Kitty bên cạnh mình. Từ lúc khởi hành, chàng không nói với nàng một lời.
Tuy vậy nỗi khó chịu của nàng giảm dần. Ngay sau các khúc quanh co của các quả đồi vùng Judée, sự quyến rũ thần diệu của Jérusalem đã xâm chiếm nàng trọn vẹn. Trong cái khung cảnh nặng nề đè nén một sự im lặng hư ảo, nàng bắt đầu hiểu cái nghĩa được sống ở Đất Thánh là như thế nào. Và khi từ trên một đèo cao, nàng trông thấy ở phía xa bức tường thành đô thị của David, nàng không còn chống cự nổi nữa với một niềm hân hoan thánh thiện đã dâng lên trong mình.
Họ đi qua Tân thành do người Do-thái xây cất, xuống con đường huyết mạch thương mại mới của khu vực đường Jaffa, dọc theo tường thành của Cổ thành đến khách sạn Đức vua David. Tòa nhà này có các kích thước lớn lao đáng chú ý – kiến trúc theo kiểu nặng nề của những năm 1900 – nhưng sự đối xứng đã bị hỏng vì cánh bên trái đã bị sập – cựu Bộ Tư lệnh của Anh – mà bây giờ người ta mới bắt đầu dọn những đống gạch đổ nát đi.
Đến giờ cơm trưa, Kitty là người đầu tiên xuống phòng ăn. Nàng đi thơ thẩn trên thềm từ đó ta nhìn thấy được tháp David, và bên kia một thung lũng nhỏ, một phần của dẫy tường thành. Từ trong phòng ăn ra, Ari đứng sững lại trên ngưỡng cửa: “Nàng thực đẹp!” Dầu sao trong chiếc áo mỏng nhẹ kiểu mặc trong buổi chiều, với chiếc mũ kiểu Florentine và đôi bao tay dài trắng, nàng có vẻ xa cách quá với vũ trụ của chàng – nàng, cô gái phù hoa đỏm đáng của La-mã hay Ba-lê, sống trong một thế giới mà các người phụ nữ thường hành động một cách khó hiểu, ít nhất cho một người như chàng. Cả một năm ánh sáng chia cách giữa Kitty và Dafna… Nhưng trời ơi, nàng đẹp làm sao!
Hai người ngồi xuống một chiếc bàn.
Ari nói:
– Tôi vừa điện thoại cho Harriet Salzman. Ăn xong, chúng ta sẽ đi gặp bà ta liền. Bà ấy sẽ làm cô cảm thấy dễ chịu ngay. Trước hết, đó là một đồng hương của cô, thứ hai là tại bà là một người rất đặc biệt. Chắc bà hiện giờ cũng tới hơn tám mươi tuổi rồi. Nếu Do-thái giáo có chuyện phong thánh, chắc bà sẽ là vị nữ thánh đầu tiên của chúng tôi. Cô nhìn đây, ngọn đồi ấy – đó là ngọn Scopus. Các tòa nhà chạy bao quanh đỉnh là trung tâm y khoa tối tân nhất Trung Đông. Tài chính thì do các phục quốc Hoa-kỳ tài trợ, trong một tổ chức do Harriet thành lập sau đệ nhất thế chiến.
– Như vậy bà quả là người đáng chú ý.
– Đó chỉ là một phần công cuộc của bà. Khi Hitler lên cầm quyền, chính bà đã đứng ra thành lập các trung tâm thanh niên của Mossad Aliya Bet. Nhờ có bà, hàng ngàn thanh thiếu niên nam nữ đã được sống một cuộc đời đáng sống.
Trong khi nói chàng đã liếc mắt nhận thấy một người nhỏ bé, nước da xám xanh, vừa xuất hiện trước lối vào. Chàng đã nhận ra hắn là ai: Bar Israël là một đoàn viên của Macchabée. Nhận thấy Ari đã nhận ra mình, Bar Israël gật đầu rồi đi ra. Ari nói:
– Xin lỗi cô một chút.
Chàng tiến ra tiền sảnh, mua thuốc lá, và đứng trước gian hàng báo, chàng lấy một tạp chí lật ra coi. Bar Israël uể oải tiến lại gần và giả vờ chú ý đến các bưu ảnh, rồi thì thào.
– Chú Akiba của anh hiện đang ở Jérusalem. Ông muốn gặp anh.
– Tôi có một cái hẹn ở Quỹ Lập nghiệp Do-thái. Sau đó tôi hoàn toàn rảnh.
– Hãy đến kiếm tôi ở khu Nga.
Bar Israël nói xong, rời xa.
Khu nhà của Quỹ Lập nghiệp nằm trong đại lộ King Georges. Một lối đi dài dẫn vào cửa chính.
– Shalom, Ari.
Harriet Salzman, với một vẻ linh hoạt trái với tuổi mình, đứng lên ra tiếp đón khách. Bà nhón chân, vòng tay ôm cổ Ari và hôn lên má chàng.
– Để thưởng cho công tác tốt đẹp chú đã làm ở đảo Chypre! Chú khá lắm.
Nhận thấy Kitty đang đứng chờ bên cửa, bà nói:
– Như vậy chắc cô là Katherine Fremont. Con ạ, con thật đẹp và duyên dáng.
– Xin cám ơn bà Salzman…
– À không được! Không có “bà Salzman” gì hết, lối xưng hô ấy chỉ tốt cho người Anh và người Ả-rập thôi. Cô gọi tôi như thế làm tôi già đi quá! Mời hai cô chú ngồi. Tôi sẽ gọi mang trà hay là cô chú thích ly cà-phê hơn?
– Cháu xin bà ly trà.
– Tốt lắm.
Tinh nghịch, bà Harriet Salzman quay lại phía Ari.
– Chú thấy không, các cô gái Mỹ như vậy đó.
– Cháu tin chắc rằng không phải tất cả các cô gái Mỹ đều xinh đẹp như Kitty. Bây giờ, chắc là bà không cần đến cháu, cháu xin rút lui. Kitty ạ, nếu tôi trở lại không kịp để đón, cô vui lòng lấy taxi về nhé.
Bà già nói:
– Đi đi chú. Bọn tôi không cần chú đâu. Tôi và Kitty sẽ ăn cơm tối với nhau.
Ari mỉm cười rồi đi ra. Harriet Salzman nhận xét:
– Một thanh niên ưu tú. May mắn thay chúng tôi có được một số người như vậy. Họ làm việc nhiều quá, và chết quá trẻ.
Bà châm một điếu thuốc và đưa bao mời Kitty việc
– Cô người vùng nào ở Hoa-kỳ?
– Indiana.
– Tôi, tôi người San Francisco.
– Thành phố đó đẹp lắm bà. Cháu đã tới thăm một lần cùng chồng cháu xưa kia. Cháu vẫn hy vọng được trở lại đó.
– Tôi cũng vậy. Tôi có cảm tưởng càng ngày càng nhớ không khí Hoa-kỳ. Từ mười lăm năm nay, tôi không ngừng thề với tôi rằng ngay khi nào có cơ hội đầu tiên đưa tới, tôi sẽ về Hoa-kỳ nghỉ một thời gian, nhưng khổ một nỗi ở đây công việc không lúc nào hết. Chắc tôi già yếu hẳn rồi!
Kitty cãi:
– Ồ, chắc chắn là không rồi!
– Tôi cũng chẳng hiểu rõ tôi nữa. Cô nghĩ coi, được làm người Do-thái và đóng góp vào công cuộc phục sinh quốc gia Do-thái là điều hay, nhưng làm người Hoa-kỳ cũng tốt nữa. Cô bé ạ, đừng có bao giờ quên điều ấy nhé. Kể từ vụ Exodus, tôi sốt ruột mong được biết cô, và tôi phải nói thẳng rằng tôi cảm thấy ngạc nhiên ghê lắm. Thế mà tôi cứ tưởng trên đời không còn gì làm tôi ngạc nhiên được nữa…
Mặc dù bị quyến rũ vì vẻ tử tế dễ mến của bà lão, Kitty cũng ý thức được rằng bà lão đang cân nhắc xét đoán mình. Vả lại, sau vài phút trao đổi các kỷ niệm về Hoa-kỳ, bà đã bàn thẳng đến vấn đề sự hiện diện của Kitty ở Palestine.
– Nếu tôi không lầm, cô thích cộng tác với chúng tôi?
– Vâng. Đáng tiếc hôm nay cháu không mang các chứng chỉ đến…
– Cô chẳng cần chứng nhận chứng chỉ nào cả. Chúng tôi đã được biết rõ cô, chúng tôi đã có năm hay sáu báo cáo về cô trong hồ sơ của chúng tôi. Xin cô đừng để ý tới chuyện đó: trong hoàn cảnh của chúng tôi, chúng tôi bắt buộc phải biết rõ đang phải đối diện với ai. Tôi cũng xin thú thật là tôi đã đọc lại báo cáo đó trước khi tiếp cô hôm nay. Nhưng đọc đi đọc lại các giấy tờ đó cũng không làm tôi hiểu tại sao cô đến với chúng tôi.
– Cháu tưởng không có gì khó hiểu cả: cháu là nữ điều dưỡng và bà thì đang cần… điều dưỡng.
Harriet lắc đầu.
– Đó không phải là một lý do đầy đủ cho một người Ki-tô giáo. Chắc cô phải có một động lực khác. Phải chăng cô tới Palestine vì Ari Ben Canaan?
– Không đâu bà. Dù rằng cháu thấy rất có cảm tình với anh…
– Đó cũng là ý kiến một nhiều phụ nữ khác cũng đồng ý. Chỉ khác mỗi một điểm là cô là người đàn bà duy nhất Ari có cảm tình thôi.
– Thế thì cháu ngạc nhiên đấy.
– Thế hả… tôi hy vọng là đối với cô mọi sự là như thế. Có cả một thế giới cách biệt giữa các kibboutz của chúng tôi và tiểu bang Indiana. Ari là một sabra, điều đó có nghĩa là chỉ một nữ sabra mới hiểu được Ari mà thôi.
– Một sabra?
– Đó là từ ngữ dùng để chỉ những người Do-thái sinh trưởng trong xứ Palestine. Sabra là tên trái cây cactus (xương rồng) dại ở Palestine đâu cũng có. Dưới một vỏ ngoài rất cứng, bên trong là múi rất mềm rất dịu. Ari, cũng như tất cả các sabra khác, hoàn toàn không có ý niệm nào về quan niệm của cuộc sống Hoa-kỳ – cũng như cháu không thể hiểu được cuộc sống của Ari. Cháu thấy không, cháu không phải là Do-thái, cháu cũng chẳng cảm tình gì với phong trào phục quốc của Do-thái. Cháu chỉ là một cô gái Hoa-kỳ duyên dáng ngơ ngẩn phân vân trước cách xử sự của dân Do-thái, tương tự nhà du lịch phân vân ngơ ngẩn trước cách xử sự của các bộ lạc man rợ vùng Amazone. Bởi thế tôi hỏi lại cháu lần nữa: tại sao cháu lại đến xứ này?
– Vì một lý do chẳng có gì bí mật cả: cháu thương mến một cô gái đã về xứ này bằng tầu Exodus. Cháu quen biết em ở đảo Chypre, trong trại Caraolos. Em hy vọng kiếm lại được người cha nhưng cháu e rằng nó sẽ thất vọng. Nếu người cha còn sống, cháu sẽ rút lui. Nhưng nếu ông ta đã chết hay mất tích, cháu muốn nhận em đó làm con nuôi để có thể cùng cháu về Hoa-kỳ.
– Bây giờ mọi sự mới rõ ràng sáng tỏ. Giải quyết điểm này rồi, bây giờ hai ta bàn đến công việc. Tôi có thể dành cho cháu một chân nữ điều dưỡng tại Gan Dafna, một trong các trung tâm thanh niên của chúng tôi ở phía bắc Galilée. Một chỗ có cảnh đẹp. Giám đốc trung tâm, bác sĩ Lieberman là một trong những bạn thân nhất của tôi. Trung tâm chứa chừng bốn trăm trẻ, đa số là những đứa sống sót khỏi các trại tập trung. Tôi không giấu cháu là công việc ở đó sẽ nhiều lắm. Ngược lại, cháu sẽ được ăn ở tiện nghi và lương bổng cao…
– Cháu mong được biết… Cháu muốn hỏi thăm về…
– Về Karen Hansen phải không?
– Bà biết cả tên cô bé đó sao?
– Chúng tôi là một cộng đồng nhỏ nên sau cùng rồi cái gì ai cũng biết. Karen Hansen lại đang ở Gan Dafna.
– Cháu không biết cám ơn bà ra sao…
– Cháu phải cám ơn Ari mới đúng. Chính chú ấy đã dàn xếp tất cả. Ari sẽ đưa cháu đến đó. Trung tâm chỉ cách kibboutz của Ari có vài cây số thôi. Bây giờ cháu cho tôi khuyên cháu một điều chót nhé?
– Xin bà cứ nói.
– Cháu ạ, tôi lo săn sóc trẻ mồ côi từ 1933 đến giờ. Lòng quyến luyến của các trẻ này đối với xứ sở này sâu đậm đến nỗi cháu khó có thể hiểu nổi. Một khi chúng đã được thở không khí tự do nơi đây, một lòng ái quốc xâm chiếm lấy chúng, chúng sẽ rất khó mà từ bỏ được Palestine. Đa số những đứa đã rời xứ này không bao giờ thích ứng được với môi trường mới. Ở Hoa-kỳ, người công dân coi khung cảnh hiện tại của cuộc đời mình như vĩnh cửu. Còn ở đây, mỗi buổi sáng khi thức dậy, chúng tôi lại tự hỏi kết quả của những nỗ lực của chúng tôi liệu có bị mất hết trong ngày hôm nay không nữa. Người Do-thái Palestine bắt buộc phải nghĩ đến xứ sở mình từ sáng đến tối. Đó là điểm hội tụ của toàn thể cuộc đời họ, đó là ý nghĩa sống của họ.
– Như vậy có phải bà muốn nói rằng cháu sẽ không thể thuyết phục nổi Karen về Hoa-kỳ với cháu?
– Tôi chỉ nói rằng cháu phải đo lường những trở ngại lớn lao mà cháu sẽ phải gặp.
Có tiếng gõ cửa và David Ben Ami tiến vào văn phòng.
– Shalom, Harriet. Shalom Kitty. Anh Ari gửi tôi tới đây. Tôi hy vọng là không làm phiền hai bà chứ?
– Không có chi. Chúng tôi đã giải quyết xong công việc rồi. Tôi sẽ gửi Kitty tới Gan Dafna.
– Tôi nghĩ là chị Kitty sẽ thích lúc khởi đầu của ngày sabbat. Tôi có thể sẽ đưa chị tới coi đường Mea Shearim.
Bà Harriet tán đồng:
– Ý kiến hay đó! Sau đó chú nhớ đưa Kitty trở lại dùng cơm tối với tôi. Rồi, chúng ta sẽ gặp lại…
Ra đến đường, Kitty nắm lấy tay người thanh niên.
– Chắc gia đình anh hận tôi vì đã giữ anh ở đây.
David cãi:
– Chị không hề làm phiền gia đình tôi chút nào hết. Gia đình tôi khá phân tán vào lúc này. Tôi có sáu anh em thì bốn đã ở trong Palmach. Dĩ nhiên là tất cả chúng tôi sẽ hội họp nhau một bận để mừng tôi trở về… Tất cả, trừ một người…
– Anh đó đau sao?
– Không, anh ấy là đặc công. Nói cho chính xác hơn, anh thuộc đoàn Macchabée. Ông bố tôi cấm anh không được về nhà nữa. Anh ở dưới quyền Ben Moshé, cựu giáo sư của tôi ở đại học đường Do-thái.
David đưa tay chỉ ngọn Scopus.
– Ở trên kia kìa, đàng sau là Trung tâm Y khoa. Những khối nhà trắng đó.
– Anh nhớ học hành lắm phải không?
– Vâng. Mong rằng một ngày kia tôi sẽ có dịp đi học lại.
Một âm thanh trầm nổi lên, nghe như một tiếng kèn ở xa. Các tiếng người gọi nhau dọc theo các đường phố đang chìm dần vào hoàng hôn.
– Sabbat! Lễ Sabbat!
David đội lên đầu một chiếc mũ tròn màu đen bao phía trên đầu. Rời bỏ đại lộ Các Bậc Tiên tri, chàng đưa Kitty về đường Mea Shearim, Bách môn của những người Do-thái chính thống.
– Tôi không thể đưa chị vào các giáo đường, bởi ở khu này các giáo đường chỉ dành cho đàn ông thôi. Nhưng chị có thể nhìn thấy bên trong qua các cửa sổ. Chị sẽ nhận thấy các cách cầu nguyện khác nhau. Thí dụ như người Yemen lắc lư đều đều như ngồi trên lưng lạc đà. Đó là cách họ thực hiện bình đẳng vào các thời kỳ những người Do-thái không có quyền được cưỡi lạc đà, làm như thế đầu họ sẽ cao hơn đầu những người Hồi giáo.
Kitty nói nhỏ:
– Thật kỳ lạ.
– Hay như những người Do-thái gốc Tây-ban-nha. Giáo hình đã bắt họ cải sang đạo Ki-tô, nêu không sẽ bị xử tử. Được rửa tội theo Ki-tô rồi, họ cầu nguyện lớn tiếng bằng la-tinh, nhưng thêm vào cuối mỗi câu một lời cầu nguyện bằng tiếng hébreu nói nhỏ như hơi thở. Ngày hôm nay họ vẫn còn chấm dứt cầu kinh bằng một tưởng niệm tới Thượng đế trong im lặng.
Ngay khi họ rẽ vào đường Mea Shearim, Kitty có cảm tưởng bước vào một thế giới khác. Giữa hai dẫy nhà thấp có bao lơn sắt uốn, một đám đông đủ mầu sắc đang vội vã đi. Do-thái Trung Âu râu rậm, đội những chiếc mũ tròn có viền lông thú, mặc những chiếc áo khoác dài bằng sa-tanh đen. Do-thái Yémen quấn khăn trắng. Do-thái Kurdistan, Boukharie, Ba-tư mặc áo lụa mầu thật chói mắt. Phố phường vắng rất nhanh trong khi các giáo đường đầy chật các tín đồ. Qua các cửa sổ nhỏ có chấn song, Kitty thấy những người gần như điên cuồng xúm xít trước cuốn kinh Torah, vừa khóc vừa rên la, những người già người cứ lắc lư đàng trước ra đàng sau, đọc bằng một giọng đều đều các bài kinh bằng tiếng hébreu. Họ thật khác xa với những người đàn ông khỏe mạnh, lực sĩ mà nàng đã gặp ở Tel-Aviv. David cắt nghĩa:
– Ở Palestine chúng tôi có đủ loại người Do-thái. Tôi đưa chị đến đây bởi vì tôi biết Ari sẽ không làm thế. Anh Ari cũng như đa số các sabra đều khinh bỉ những di tích của một thời đại này, những kẻ ăn hại không chịu cầy cấy, từ chối mang vũ khí. Dầu vậy, khi người ta sống ở Jérusalem, như tôi, người ta sẽ học biết khoan dung với họ hơn, đoán hiểu được những sự khủng khiếp xưa kia đã giam họ trong lòng cuồng tín như thế.

Ari đứng đợi ở lối vào khu Nga, gần nhà thờ Hy-lạp. Chàng bắt đầu sốt ruột thì Bar Israël xuất hiện, như ở dưới đất chui lên. Ari theo Bar đến một xe taxi đậu trong một ngõ hẻm. Khi chiếc xe mở máy, Bar lấy trong túi ra một chiếc khăn tay lớn. Ari có một cử chỉ lảng tránh.
– Quả thực tôi có phải chịu cái trò trẻ em đó không?
– Cá nhân tôi thì tôi tin anh, nhưng lệnh là lệnh.
Mắt bị bịt, Ari phải nằm dài xuống sàn xe, đầu gối một cái chăn. Chiếc xe chạy trong hơn hai mươi phút, quẹo cả trăm vòng trước khi dừng lại trước một nhà ở khu Katamon. Bar Israël đẩy người bạn đồng hành vào trong nhà, đưa vào một căn phòng rồi tháo khăn bịt mắt.
Ánh sáng chập chờn của một ngọn nén cho phép Ari nhận ra một chiếc ghế, một chiếc bàn trên có để một chai rượu mạnh và hai cái ly, và sát tường là hình dáng ốm yếu của chú là Akiba. Vị chỉ huy của các Macchabée đã già đi rất nhiều. Râu và tóc đã bạc trắng như tuyết, vai đã còng, mắt đầy nếp nhăn. Với một cử chỉ chậm chạp cố tình, Ari tiến về phía ông.
– Chào chú.
– Cháu Ari!
Hai người ôm nhau. Rõ rệt là Akiba cố nén một xúc động mạnh. Ông cầm nến đưa lại gần mặt cháu.
– Cháu có vẻ đương phong độ lắm, Ari. Chú có lời khen cháu về công tác tốt đẹp cháu đã hoàn tất được ở Chypre.
– Cám ơn chú. Thế còn chú, chú khỏe chứ?
Akiba nhún vai.
– Khỏe đến mức tối đa có thể khỏe được khi phải sống trong vòng bí mật. Thế mà chú không gặp cháu tới hai năm rồi đấy! Hồi trước khi em Jordana còn học ở đại học, chú ít nhất mỗi tuần gặp nó một lần. Nếu chú không nhầm, chắc con bé giờ hai mươi tuổi rồi chứ? Nó vẫn yêu cái anh chàng… chú không nhớ nổi tên là gì nữa…
– David Ben Ami. Vâng, họ vẫn yêu nhau say mê như ngày đầu gặp gỡ. David đã có bên cạnh cháu ở Chypre. Đó là một trong những hy vọng tương lai của chúng ta.
– Cháu có biết một đứa anh của nó là Macchabée không? Hắn thuộc khu của Ben Moshé. Jordana gia nhập Palmach rồi phải không?
– Vâng. Em cháu đặc trách các thiếu nhi ở Gan Dafna. Đôi khi các đài phát thanh lưu động di chuyển tới vùng này, Jordana cũng cộng tác với các chương trình phát thanh.
– Ở Gan Dafna? Chỗ này rất gần Ein Or, kibboutz cũ của chú. Thế con bé có nói với cháu về kibboutz này không?
– Chắc chắn là có chứ chú. Ein Or vẫn là một thiên đàng nhỏ.
– Có lẽ một ngày kia chú sẽ có thể trở về đó.
Akiba ngồi xuống, và bằng bàn tay run run, rót rượu vào đầy ly.
– Uống với chú ly rượu chứ…
– Xin vâng thưa chú. Hôm qua cháu có được gặp Avidan. Ông đã cho cháu coi lệnh hành quân của người Anh. Chú có biết không?
– Biết chứ. Chú cũng có các bạn ở trong Cơ quan Tình báo Anh.
Akiba đứng dậy để đi đi lại lại trong buồng.
– Haven-Hurst đã quyết định thanh toán một lần cho xong các Macchabée. Hắn cho tra tấn những người của chú mà hắn bắt được, treo cổ họ và đã lưu đầy toàn thể bộ chỉ huy của các Macchabée luôn. Các Macchabée một mình chống lại người Anh đã rồi, đàng này còn trầm trọng hơn nữa là còn phải khó khăn chống lại với những kẻ phản bội trong chính hàng ngũ chúng ta nữa. Than ôi, đúng vậy! Chú biết là Haganah đang bán các Macchabée cho người Anh…
– Sai chú!
– Đó là sự thực!
– Không! Mới ngay sáng nay thôi, ở trụ sở của “Trung ương”, Haven-Hurst đã yêu cầu chính người Do-thái tiêu diệt hệ thống Macchabée, và một lần nữa các cấp lãnh đạo của chúng ta đã không chịu.
– Từ chối cao thượng nhỉ! Vậy người Anh từ nguồn tin nào đã kiếm được những tin tức của họ? Các tên gà chết ở “Trung ương” đã để mặc bọn chú làm tất cả các công việc bẩn thỉu này, chúng để bọn chú hy sinh tính mạng, đồng thời còn phản bội bọn chú nữa. Ồ, chắc chắn là mấy ông nội đó tự cho mình là thông minh, kín đáo… Nhưng họ phản bội bọn chú.
Đột nhiên Akiba ngừng nói, ý thức được sự vô lý cơn giận của mình. Ông hạ giọng:
– Bây giờ nói về bố cháu đi. Bố cháu có biết đôi khi cháu, Jordana và cả Sarah gặp chú không?
– Có thể lắm.
– Thế… Có bao giờ bố cháu hỏi thăm về chú không?
– Thưa không.
Akiba nở một nụ cười không vui, buông mình ngồi xuống chiếc ghế, rót thêm một ly rượu nữa, nói nhỏ:
– Thật là một nghịch cảnh! Bao giờ chú cũng là người giận hờn và Barak là người tha thứ. Cháu Ari ạ, chú cảm thấy mệt, rất mệt. Chắc chú chỉ còn sống được một năm, hai năm nữa là cùng. Barak phải tìm sự ước muốn cùng sức lực để phá vỡ sự im lặng này. Cháu hãy nói với bố cháu… nói với bố cháu là phải tha thứ cho chú, dù rằng chỉ làm thế vì nhớ đến linh hồn ông nội mà thôi.

*

3-3

Buổi sáng ngày hôm sau Ari và Kitty rời Jérusalem trên con đường đi Galilée. Trước hết họ đi qua vùng thảm xanh của thung lũng Jezreel, một vùng xưa kia là đầm lầy nay đã thành vùng trù phú nhất Trung Đông nhờ ở các nỗ lực của phục quốc Do-thái. Rồi càng lại gần Nazareth, họ như trở lui lại mười chín thế kỷ. Trong một khung cảnh đồng ruộng điển hình Ả-rập, khô cằn và sỏi đá, đô thị Nazareth không thay đổi bao nhiêu kể từ ngày Chúa Ki-tô còn là thanh niên.
Họ dừng xe ở trung tâm thành phố, và Ari phải đẩy lui cuộc xung phong của cả một bầy trẻ con rách rưới. Một đứa hầu như bám chắc lấy cánh tay chàng.
– Thầy cần một người hướng dẫn, thầy hai…
– Không.
– Thầy hãy mua một kỷ vật cho cô hai nè. Tôi có thứ làm bằng gỗ lấy từ Thập tự giá ra, một mảnh vải liệm…
– Chú cút đi xéo lẹ cho tôi nhờ!
Hơi ngạc nhiên, Ari ném cho thằng nhỏ một đồng tiền.
– Giữ xe nghe. Xẩy ra cái gì tôi đập chú bể sọ đấy, hiểu chứ.
Nazareth như ngủ im dưới một đám mây đầy mùi hôi thối và ruồi nhặng. Trong các đường đầy rác rưởi, những kẻ ăn mày mù cầu khẩn lòng thương của những khách qua đường. Kitty nép sát vào Ari đang lôi nàng qua khu hàng tạp hóa để đến một địa điểm, theo truyền thuyết, nơi đây Đức Mẹ Maria đã đặt nhà bếp và Joseph đặt xưởng thợ mộc của họ.
Họ lại ra đi ngay. Kitty không giấu sự ngạc nhiên của mình.
– Chỗ gì mà ghê quá! Tồi tệ không thể ngờ nổi.
– Nhưng ít ra dân Ả-rập ở đây cũng không thù nghịch với chúng ta. Quả thật họ là những tín đồ Ki-tô giáo.
Kitty gằn giọng:
– Những thứ giáo dân cần mang tắm cho đỡ dơ.
Họ dừng lại một lần nữa ở Kaf Kanna, trước giáo đường mà Đấng Ki-tô đã thực hiện phép mầu đầu tiên bằng cách biến nước thành rượu vang. Thánh tích này nằm ở giữa một làng Ả-rập khung cảnh đẹp và chìm đắm trong một thứ thanh tĩnh ngoại thời gian.
Im lặng, Kitty cố gắng xác định những ấn tượng nàng đã tiếp nhận trong vài ngày gần đây. Chắc chắn là một quốc gia bé xíu rồi, nhưng mỗi phân đất đều gợi lại những kỷ niệm máu lửa và huy hoàng. Khi thì tính cách thần thánh của một địa điểm làm ta xúc động, khi thì lòng sùng kính biến thành kinh tởm. Các người Do-thái kêu than trong các giáo đường ở Mea Shearim, các ngọn lửa rực trời của xưởng lọc dầu bị tiêu hủy, các sabra kiêu hãnh của Tel-Aviv và các nông dân thung lũng Jezreel, tạo ra cả ngàn tương phản và nghịch cảnh.

Chiều xuống, khi chiếc Fiat vượt qua cổng Yad El để dừng lại trước một bungalow ẩn dưới những cây cối đầy hoa lá. Cửa nhà bật mở và Sarah Ben Canaan chạy về phía chiếc xe.
– Ari! Con tôi, con tôi!
Ari bế mẹ lên, hôn và đu đưa bà trong tay như một đứa trẻ.
– Đừng khóc, mẹ… Đừng khóc nữa, con đã về rồi mà…
Barak, hình dạng như một con gấu về già xuất hiện trên bực cửa, sải bước nhanh tiến tới để ôm cậu con trai của mình. Barak nhắc đi nhắc lại bằng một giọng trầm.
– Con khá lắm, khá lắm. Con có vẻ khỏe mạnh sung sức lắm, Ari!
Sarah phản đối:
– Tôi không đồng ý. Mình không thấy con nó mệt mỏi như vậy sao?
– Không đâu mẹ, con khỏe như voi. Con xin giới thiệu với bố mẹ một người bạn thân, Katherine Fremont, y tá trưởng mới của Gan Dafna.
Bà mẹ than:
– Con bao giờ cũng ngu hết. Đáng lẽ phải gọi điện thoại báo trước cho bố mẹ… Cô Fremont, xin mời cô vào. Cô hãy tắm một cái cho mát, thay đổi y phục cho dễ chịu trong khi tôi chuẩn bị cơm tối. Ông Barak! Mình đợi gì nữa mà không mang hành lý cho cô ấy vào.

Jordana Ben Canaan cho tập họp các thiếu nhi của tầu Exodus ở rạp hát ngoài trời. Mười chín tuổi, cao lớn, nàng vừa mảnh dẻ vừa khỏe mạnh, làn tóc hung buông thả xuống đôi vai của một thiếu nữ ham thể thao. Được Palmach giao phó cho việc huấn luyện quân sự cho các trẻ em dưới mười bốn tuổi, Jordana đã cho đặt chiếc ghế bố của nàng trong văn phòng mình. Nàng bắt đầu nói:
– Tên tôi là Jordana Ben Canaan. Tôi là thượng cấp, là người chỉ huy của các em. Trong những tuần lễ sắp tới, các em sẽ học quân sự sơ đẳng, nói cách khác nghĩa là sẽ học dọ thám, truyền tin, xử dụng và bảo trì vũ khí, chiến đấu bằng đoản côn. Chúng ta cũng làm nhiều cuộc di hành để tạo sự bền bỉ dai sức cho các em. Ở Palestine, các em không còn xấu hổ vì là người Do-thái nữa. Các em phải nỗ lực hết sức vì nước Israël của chúng ta rất cần tới các em. Ngày mai, trong cuộc di hành thứ nhất, tôi sẽ chỉ cho các em thấy bia của ngôi mộ Joseph Trumpledor, vị anh hùng của dân tộc chúng ta, ở Tel Hai. Trên bia của mộ này có khắc hàng chữ sau: “Chết cho tổ quốc là một điều tốt đẹp”. Tôi muốn thêm vào đó lời như sau: “Tốt đẹp thay khi ta có được một tổ quốc để hy sinh thân ta”.
Một lúc sau, khi nàng tiến vào khu hành chánh, có điện thoại gọi nàng.
– Jordana? Mẹ đây, Ari về rồi!
– Anh Ari? Con về ngay bây giờ.
Chạy một mạch ra tận chuồng ngựa, nàng nhẩy lên con ngựa bạch của ông bố và phóng như bay trên con đường về Yad El, làn tóc dài bay phất phới trước gió. Nàng quả là hiện thân cho cả một gương xấu đối với những người già cả Ả-rập của làng Abou Yesha khi nàng phi nước đại qua. Thật là xấu hổ cái cô gái cưỡi ngựa không yên và để hở đùi với chiếc quần cụt ngủn! Nhưng hiển nhiên người ta phải tha thứ rất nhiều điều cho con gái của Barak, em gái của Ari Ben Canaan.
Ari nắm lấy tay Kitty.
– Lại đây, tôi đưa cô đi một vòng quanh trại trước khi trời tối hẳn.
Sarah nói:
– Cố về đúng giờ cơm nhé. Mẹ đã điện thoại cho Jordana, chắc nó về ngay bây giờ.
Sau khi đi dạo trong khu vườn của Sarah, Ari và Kitty dừng lại ở hàng rào đơn sơ làm bằng gỗ cao chừng nửa thước. Một chân gác lên, Ari im lặng ngắm các cánh đồng. Làn bụi nước của các máy tưới làm mát đất, gió nhẹ buổi chiều tung mùi thơm của loài hoa hồng bà Sarah thích nhất trong các loại hoa. Kitty ngắm chăm chú và hơi ngạc nhiên về người thanh niên đứng cạnh mình. Lần đầu tiên kể từ khi quen biết chàng, Ari có vẻ tìm thấy bình an với chính mình và thế giới chung quanh. Vậy chàng cũng có thể tìm thấy hạnh phúc sao?
Ari nói:
– Tôi sợ rằng khung cảnh này không giống với Indiana bao nhiêu.
– Như thế này tôi cũng bằng lòng lắm rồi.
– Dĩ nhiên rồi. Các cánh đồng và vườn tược xứ cô đâu có phải tạo ra từ bùn lầy ở các đầm ao.
Chàng muốn nói nhiều hơn nữa, cắt nghĩa cho Kitty hiểu chàng mong ước biết bao được ở lại nhà, canh tác đất đai. Nhìn nàng, chàng thấy nàng đẹp, tươi vui. Chàng muốn ôm nàng trong tay, xiết nàng thật chặt vào lòng. Nhưng thứ kỷ luật thép chàng đã tự khép mình vào và một thứ rụt rè kỳ lạ đã ngăn cản chàng làm cử chỉ mà có lẽ nàng cũng đang chờ đợi. Chàng đột ngột nói:
– Chúng ta đi thăm chuồng gà vịt đi.
Sau khi ngắm nghía gà, vịt và ngỗng, hai người dừng lại trước một khu đất quây kín, trong đó một con heo nái to tướng đang điềm tĩnh chịu đựng cuộc xung phong bú mẹ của mười hai con heo con đang đói. Ari nói:
– Đây là những con ngựa rằn của chúng tôi.
– Vậy hả! Nếu tôi không có nhiều kinh nghiệm về loại ngựa rằn thì tôi thề với anh đây là đàn heo.
– Suỵt! Đừng nói lớn thế. Nếu một viên chức của Quỹ Lập nghiệp Do-thái nghe thấy… Chúng tôi không có quyền nuôi những con… những con ngựa rằn trên các đất đai của Quỹ đã bỏ tiền ra mua. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn cứ nuôi – sau khi đề phòng cẩn thận. Cũng vì thế ở Gan Dafna, trẻ con gọi chúng là chim bồ nông. Và trong một số kibboutz thực tế hết sức, họ gọi chúng là “thân hữu”. Cô nhìn kia, chỗ góc cánh đồng ấy, cô sẽ trông thấy Gan Dafna. Phía trên ấy, trong các quả đồi đó.
– Những ngôi nhà trắng kia phải không?
– Không phải. Đó là Abou Yesha, một làng Ả-rập. Gan Dafna ở phía bên phải và cao hơn nhiều. Cô có trông thấy cây cối trên vùng cao kia không?
– Thật như tổ chim ưng ấy! Còn cái khối nhà lớn trên đỉnh đồi?
– Đồn Esther, một đồn biên giới của người Anh. Nhưng thôi lại đây, tôi muốn cho cô coi nhiều điều khác.
Đi dọc theo các cánh đồng, hai người đến một khu rừng nhỏ ven một con sông nước chảy xiết.
– Ở Hoa-kỳ, người da đen ca những bài spirituals rất hay ca tụng giòng sông này.
– Sông Jourdain phải không?
– Đúng.
Chàng tiến lại gần nàng và mắt hai người gặp nhau.
– Cô có tin là cô có thể yêu xứ này không? Cô có thể thương mến bố mẹ tôi không, Kitty?
Cổ họng khô lại, Kitty chỉ có thể gật đầu. Sau hết, cũng đã tới lúc Ari sắp ôm nàng vào lòng. Hai bàn tay chàng mạnh mẽ đã xiết chặt lấy hai vai nàng…
Một giọng con gái vang lên:
– Anh Ari, Ari!
Chàng buông nàng ra, quay vụt lại. Một người kỵ mã đang lao thẳng tới phía hai người, hình dạng nổi đen thẫm trên ráng chiều. Kitty chỉ đủ thì giờ để nhận ra một khuôn mặt táo bạo với mái tóc hung đỏ bao quanh. Kéo cương một cái mạnh, người nữ kỵ mã dừng con ngựa sùi bọt mép lại. Rồi giơ hai tay lên trời, hét lên một tiếng la vui mừng, nàng chồm vào Ari mạnh đến nỗi hai người té ngã lăn ra đất. Mềm dẻo và khỏe mạnh, Jordana ngồi lên người anh như cưỡi ngựa để hôn như mưa. Ari kêu lên:
– Thôi em, thôi đi em nào!
Nhưng chàng phải đè ngửa Jordana, dùng vai chặn xuống mới gỡ được ra khỏi vòng tay em gái. Đột nhiên Jordana, đang vùng vẫy, nhận thấy có Kitty. Ngay lập tức, mặt nàng nghiêm chỉnh lại. Mỉm cười ngượng nghịu, Ari đỡ em đứng dậy.
– Kitty, xin giới thiệu với cô cô em gái quỷ sứ của tôi. Chắc cô nàng đã tưởng nhầm tôi là David Ben Ami.
Kitty giơ tay ra bắt:
– Chào Jordana! Tôi có cảm tưởng là đã được biết cô rồi. Anh David đã nói rất nhiều về cô…
– Chị là Katherine Fremont phải không? Tôi, tôi cũng được nghe nói về chị.
Kitty ngạc nhiên khi thấy Jordana bắt tay mình lạnh nhạt rõ ràng. Jordana quay đi, tay dắt ngựa đi trước hai người về phía nhà. Sau một phút, nàng hỏi anh:
– Anh có gặp David không?
– Có chứ. Chú ấy nói với tôi là chiều nay sẽ điện thoại, và sẽ tới đây nghỉ cuối tuần, ngoại trừ khi em thích tới gặp chú ấy ở Jérusalem.
– Em không đi được đâu với lũ trẻ vừa mới tới trại.
Ari lấy tay hích Kitty một cái trước khi tiếp tục nói:
– Anh cũng gặp cả bác Avidan ở Tel-Aviv. Bác có nhắc… xem nào, bác nói sao nhỉ… À, nhớ rồi, bác nói là David được thuyên chuyển đến lữ đoàn Galilée ở Ein Or.
Jordana quay lại, mắt mở hết cỡ.
– Anh nói thật chứ? Anh không định trêu em đấy chứ?
– Đời nào!
– Em thù anh quá! Sao anh không nói ngay cho em biết?
– Anh làm sao đoán được chuyện đó lại quan trọng đến vậy nhỉ.
Nếu không có sự hiện diện của Kitty, chắc Jordana dám chồm lên Ari vật lộn lần nữa. Nàng đành chỉ giơ nắm đấm lên dọa anh, nói nhỏ:
– Em sung sướng ghê đi!
Bữa cơm quá hoàn toàn dù rằng Kitty phải cố gắng hết sức để khỏi làm thất vọng bà chủ nhà. Sau món tráng miệng, bà Sarah vội vã xếp ra vườn những bàn ghế để tiếp đón khách khứa sắp ào ào kéo đến.
Một giờ sau quả thực là đông quan khách. Hầu như toàn thể dân cư Yad El đều muốn đến để chúc mừng con trai của Barak và Sarah, và cũng để thỏa mãn lòng tò mò về cô gái Mỹ xinh đẹp. Hoàn toàn tự nhiên, ngoài ra còn tin cậy ở sự hiện diện của Ari, Kitty đã khôn khéo trả lời hàng trăm câu hỏi. Dần dần, nàng cũng ý thức được rằng cả sự khéo léo lẫn lòng tử tế tự nhiên của nàng cũng không sao thắng được ác cảm của Jordana. Kitty hầu như có thể đọc rõ tư tưởng của thiếu nữ Palestine này: “Cô là loại người nào mà dám tới đây chinh phục anh tôi?”
Rất khuya sau nửa đêm, khi những khách sau cùng đã chịu ra về, Barak và Ari mới có thể nói chuyện riêng với nhau. Trong đống chai lọ lộn xộn của tủ rượu, Barak tìm ra được một chai rượu cognac chưa cạn hết. Ly cầm tay, hai người ngồi thoải mái, bình thản. Barak nói trước:
– Nói cho bố về cô Fremont đi. Bố mẹ cũng như mọi người đều hết sức tò mò muốn hiểu rõ về cô ta.
– Rất tiếc sẽ làm bố thất vọng. Kitty đến Palestine chỉ vì nàng chú trọng tới một cô bé của tầu Exodus. Con tin rằng nàng có ý đinh nhận cô bé đó làm con nuôi. Chúng con có cảm tình với nhau…
– Không có gì hơn sao?
– Hoàn toàn không, bố.
– Bố ưa cô ta lắm, ưa nhiều lắm. Nhưng đáng tiếc là cô khác chúng ta. Nhưng một khi giữa cô ta và con chưa có gì… Thôi nói chuyện khác, bố muốn con xuống Abou Yesha nói chuyện với Taha.
– Con cũng định hỏi bố xem có chuyện gì rắc rối. Tối nay con ngạc nhiên khi không thấy Taha tới.
– Có rắc rối thật con ạ… như hầu hết mọi nơi khác trong cái xứ này. Từ hai mươi năm chúng ta sống hòa thuận với dân Abou Yesha. Ông già Kammal đã là bạn thân của bố cả nửa thế kỷ. Bây giờ hai bên lạnh nhạt với nhau. Chúng ta đã gọi dân làng đó bằng tên tục, chúng ta đã được họ tiếp đãi ở nhà họ, họ đã từng cắp sách đến trường học của chúng ta, và hai bên đã cùng nhau cử hành không biết bao nhiêu là đám cưới nữa. Đó là những bạn thân của chúng ta. Nếu có một sự hiểu lầm nào giữa hai bên, chúng ta phải cố dẹp bỏ bằng bất cứ giá nào.
– Con sẽ tới thăm Taha ngày mai, sau khi đưa cô Fremont tới Gan Dafna.
Một khoảnh khắc im lặng. Ari đứng dậy, lại gần tủ sách, lơ đãng vuốt ve những tác phẩm cổ điển Hy-bá-lai, Anh, Pháp, Đức, Nga. Sau một do dự chót, chàng quay lại đối diện với bố.
– Con đã gặp chú Akiba ở Jérusalem.
Barak cứng người lại, la con:
– Không được nhắc tới tên con người ấy ở dưới mái nhà này.
– Chú đã già đi nhiều lắm. Con e chú chỉ còn sống được vài năm nữa thôi. Chú xin bố hòa giải với chú để tưởng nhớ ông nội.
Barak kêu lên bằng một giọng run run.
– Bố không muốn nghe nói tới chuyện này nữa!
– Mười lăm năm im lặng, bố không thấy là đã quá đủ rồi sao?
Đứng vươn thân hình cao lớn dậy, Barak nhìn thẳng vào mắt con.
– Chú ấy đã xúi giục người Do-thái chống lại người Do-thái. Lúc này đây, các Macchabée của chú ấy đang làm dân làng Abou Yesha chống lại chúng ta. Cầu Thượng đế tha thứ cho chú ấy – còn bố, bố không bao giờ tha thứ hết. Không bao giờ…
– Con xin bố, hãy nghe con…
– Chúc con ngủ ngon, Ari.

Sáng ngày hôm sau, Kitty từ giã gia đình Ben Canaan để lên đường tới Gan Dafna bằng chiếc xe Fiat. Khi đi qua Abou Yesha, Ari dừng xe lại, nhờ một đứa bé báo cho Taha là chàng sẽ trở lại thăm trong một giờ nữa.
Họ càng tiến lên cao trong vùng đồi, Kitty càng thấy sốt ruột muốn gặp lại Karen và cũng cảm thấy lo ngại gia tăng về sự tiếp đón sắp dành cho nàng. Jordana Ben Canaan chỉ xử sự như một cô em gái ganh với người tình tương lai của anh mình, hay nàng là một thứ tiền phong của một loại người hoàn toàn thù nghịch với “người ngoài”.
Ari nói:
– Tôi sẽ phải rời cô ngay lập tức.
– Chúng ta sẽ gặp lại nhau không anh?
– Gặp chứ, đôi khi. Cô có thành thực muốn chúng ta gặp lại nhau không Kitty?
– Có chứ anh.
– Trong trường hợp như vậy, tôi sẽ cố gắng trở lại.
Một khúc quanh sau cùng đưa họ lên tới bình nguyên nhỏ của Gan Dafna. Bác sĩ Lieberman, ban nhạc của trung tâm, tất cả nhân viên và năm mươi trẻ em Exodus đã tụ tập sẵn trước tượng của Dafna trên bãi cỏ chính của trại. Trước sự tiếp đón nồng nhiệt, tự nhiên này, các e ngại của Kitty tan biến hết. Được Karen ôm hôn và bị các trẻ em bao vây, nàng hầu như không còn ngoái đầu lại được để nhìn Ari ra đi.
Buổi lễ đón tiếp nhỏ chấm dứt, bác sĩ Lieberman và Karen đưa Kitty đến một căn nhà trắng xung quanh có nhiều hoa. Phòng chính là một phòng khách rộng cũng dùng làm phòng ngủ, đồ đạc giản dị nhưng mỹ thuật. Karen chạy ra cửa sổ để vén bức màn làm bằng voan Négev. Bên ngoài cửa sổ là thung lũng, quang cảnh tuyệt vời, dưới thấp sáu trăm thước. Phòng thứ hai được dùng làm nơi làm việc, bên kia hành lang là một căn bếp nhỏ và một phòng tắm. Đâu đâu cũng là hoa lá, cây kiểng. Kitty nở một nụ cười làm rạng rỡ khuôn mặt nàng. Bác sĩ Lieberman nói:
– Thôi, thôi, thôi! – Ông giơ tay chỉ cửa ra cho Karen – Chốc nữa em sẽ gặp bà Fremont.
Ông chờ cho cô gái đã bước ra mới nói tiếp:
– Thế nào, bà bằng lòng về nơi ở chứ?
– Rất bằng lòng, bác sĩ.
Ông ngồi xuống một góc đi-văng.
– Khi những trẻ em của Exodus biết bà sắp đến, chúng liền chuẩn bị. Chính chúng đã sơn lại nhà, làm màn cửa. Chúng đã làm cả một cuộc bố ráp hoa và cây cảnh của chúng tôi, nghĩa là nói tóm tắt chúng đã vất vả lắm để có thể tiếp đón bà một cách long trọng.
Kitty nói nhỏ:
– Tôi cảm động lắm. Tôi không hiểu tại sao tôi lại được đối đãi tử tế quá như vậy.
– Trẻ con chúng có một bản năng chắc chắn để biết ai là bạn chúng. Bà có muốn tôi đưa bà đi một vòng quanh trung tâm không.
Hai người trở lại nhà hành chánh. Bác sĩ, thấp hơn Kitty một cái đầu, nóng nẩy vỗ túi tìm hộp quẹt để hút píp. Ông kể:
– Tôi từ Đức đến đây năm 1933. Tôi có cái may mắn là đã tiên đoán được rất sớm những gì sẽ xẩy ra tại Âu châu. Vợ tôi mất trước khi tôi đến đây. Cho tới 1940 tôi làm giáo sư văn học tại đại học đường Jérusalem. Rồi bà Harriet Salzman đã yêu cầu tôi giúp đỡ bà thành lập trung tâm thanh niên này. Ngày hôm nay tôi chỉ còn một ước vọng: được ở lại đây trong nhiều năm nữa. Bình nguyên này do vị cố mouktar của Abou Yesha tặng, một con người rộng rãi và thông minh. Nếu sự giao thiệp của chúng tôi với các dân làng này được dùng làm gương cho tất cả những người Do-thái và Ả-rập khác… Bà có một que diêm không?
– Rất tiếc tôi không mang theo.
– Không quan trọng! Dầu sao tôi cũng hút nhiều quá.
Họ ngừng lại ở bãi cỏ trung tâm từ đó nhìn xuống thung lũng Houleh đẹp nhất. Viên bác sĩ nói tiếp:
– Những đồng ruộng của chúng tôi ở phía dưới. Bà hãy nhìn bức tượng này: đó là Dafna, một thiếu nữ của Yad El chết trong khi phục vụ cho Haganah. Vị hôn thê của Ari Ben Canaan. Trung tâm của chúng ta mang tên nàng…
Đột nhiên Kitty cảm thấy đau đớn. Không còn nghi ngờ gì nữa: nàng đang ghen. Quyền lực của Dafna vẫn còn tồn tại công khai ở nơi đây, trong bức tượng đồng bất diệt này, mẫu người điển hình cho một Jordana Ben Canaan và nhiều thiếu nữ tiền khu khác mà nàng đã gặp tối hôm qua ở nhà Ari.
Viên bác sĩ đã nắm lấy tay nàng để dẫn đi xa hơn.
– Người Do-thái chúng tôi đã tạo ra một nền văn minh khác thường ở Palestine. Ở khắp mọi nơi trên thế giới, sự phát triển của các dân tộc đều phát xuất từ các thành phố. Ở đây điều đó xẩy ra ngược hẳn lại. Nỗi tiếc nuối ngàn năm một xứ sở trước đã thuộc về chúng tôi lớn đến nỗi ngày nay sự phục sinh của chúng tôi lại bắt đầu từ nông thôn. Âm nhạc, văn chương, nghệ thuật tượng hình, các nhà trí thức và thậm chí đến cả các quân sĩ của chúng tôi nữa đều xuất phát từ các kibboutz và các moshav. Bà trông thấy dẫy nhà dành cho trẻ ở chứ?
– Vâng, tôi thấy.
– Bà để ý thấy tất cả các cửa sổ đều mở ra phía đồng dưới thung lũng. Như vậy cái nhìn đầu tiên và cuối cùng mỗi ngày của chúng đều hướng về đồng ruộng. Một nửa chương trình giáo dục của chúng tôi dành cho canh tác. Chưa chi nhiều nhóm do chúng tôi đào tạo đã thành lập được bốn kibboutz mới nữa rồi. Chúng tôi sản xuất tất cả thực phẩm chúng tôi cần, chúng tôi có đàn bò sữa, sân nuôi gà vịt và dệt được đa số lượng vải cần dùng nơi đây. Chúng tôi chế lấy đồ đạc và có các xưởng sửa chữa riêng cho các nông cụ cơ giới. Vậy mà tất cả đều là công trình của lũ trẻ. Chúng tự quản trị lấy và nói cho thật, nhiều quốc gia phải lấy chúng làm gương.
Khi họ đi tới đầu bãi cỏ rộng, Kitty để ý tới một địa đạo hình như chạy vòng quanh trung tâm. Viên bác sĩ thở dài:
– Than ôi, đúng đấy bà! Địa đạo này, những công sự bê-tông này đều xấu xí vô kể. Tôi cũng biết là các trẻ quá tôn thờ chủ nghĩa anh hùng quân đội. Tôi e rằng tình trạng này còn kéo dài cho tới khi chúng tôi giành được độc lập. Đến lúc đó hẳn chúng tôi sẽ có thể mang lại cho cuộc sống một căn bản xứng đáng hơn, nhân bản hơn là căn bản dựa trên sức mạnh vũ trang.

Ari đứng trong phòng tiếp khách của Taha, mouktar của Abou Yesha. Người thanh niên Ả-rập, bạn từ thiếu thời của chàng, đang vừa nhấm nháp ăn một trái cây vừa nhìn khách đang bắt đầu đi đi lại lại trong phòng. Ari nói:
– Chúng ta hãy để những lời đạo đức giả và các lời quả quyết nọ kia cho các nhà ngoại giao của chúng ta đang họp ở Luân-đôn. Giữa anh và tôi, tôi nghĩ là chúng ta có thể nói thẳng với nhau không ngoắt ngoéo gì hết.
Taha cãi:
– Tôi làm sao cắt nghĩa cho anh được những gì đã xẩy ra? Nhiều áp lực mạnh ghê gớm đã bắt tôi… tôi đã chống cự lại…
– Chống cự? Anh quên anh đang nói với bạn anh, Ari Ben Canaan sao?
– Tôi không có quên, nhưng chỉ vì… thời thế đã thay đổi…
– Sao mà nhanh thế được. Sự hòa hợp giữa các dân ở Abou Yesha và Yad El đã sống thoát được hai đợt khủng bố. Còn chính anh, anh đã cắp sách đến học trường của Yad El, anh đã sống trong nhà của bố tôi, dưới sự che chở bảo vệ của người.
– Đúng. Tôi đã sống sót được là nhờ lòng tốt của các anh. Bây giờ các anh cũng đòi hỏi dân tôi chấp nhận cùng thứ sinh tồn kiểu ấy. Thế mà các anh đang vũ trang. Chúng tôi cũng có quyền làm như vậy chứ? Chúng tôi đã tin cậy các anh khi các anh mới có súng. Bây giờ chỉ vì đến lượt chúng tôi cũng có súng, các anh lại khước từ không tin chúng tôi sao?
– Chỉ có anh nghĩ thế đấy chứ!
Thanh niên Ả-rập nhún vai chịu đựng.
– Tôi hy vọng sẽ không bao giờ có cái ngày chúng ta, anh và tôi, hai đứa chúng ta phải đối diện nhau với vũ khí cầm tay. Nhưng anh phải ý thức rằng, đối với tất cả chúng ta, thời kỳ thụ động đã qua mất rồi.
Bực tức, Ari đến đứng trước mặt bạn.
– Quả thực tôi không còn nhận ra anh nữa đấy, Taha. Tôi muốn tránh nhắc lại với anh một số bằng chứng, nhưng tôi có cảm tưởng là tôi đã lầm. Mặc kệ anh và lòng kiêu hãnh của anh. Những ngôi nhà bằng đá thay thế cho những nhà ổ chuột của làng anh trước kia, ai đã vẽ kiểu và xây cất lên? Chúng tôi. Ai đã cho phép con trẻ của các anh được học đọc học viết? Chúng tôi. Chính cũng nhờ chúng tôi các anh mới có hệ thống cống rãnh tối tân. Cũng vẫn nhờ chúng tôi mà trẻ em của các anh mới không chết trước khi lên tám lên chín. Chúng tôi đã dậy các anh cách gia tăng canh tác, đã mang lại cho các anh một đời sống dễ chịu tối thiểu. Chúng tôi đã mang lại cho các anh những gì mà các effendi của các anh chưa chắc đã chịu ban ra trong cả ngàn năm nữa. Thân phụ anh đã hiểu thế, và ông đã khá khoan dung để chấp nhận rằng chẳng có ai khinh ghét và bóc lột người Ả-rập. Và ông đã chết vì tin tưởng rằng sự giải thoát của các anh là ở nơi sự hợp tác với chúng tôi, những người Do-thái.
Taha đứng dậy.
– Tất cả những điều đó, tôi công nhận là đúng. Nhưng anh có thể bảo đảm rằng đêm nay các Macchabée không tàn sát chúng tôi không?
– Anh biết thừa rằng tôi không thể mang lại một bảo đảm loại này cả. Nhưng anh cũng biết là các Macchabée cũng chiến đấu cho chính nghĩa của chúng tôi, anh thừa biết các ý định thật sự của mufti rồi đó.
– Dẫu sao, dù dưới bất cứ trường hợp nào, tôi cũng không bao giờ tấn công Yad El. Tôi hứa danh dự như vậy, Ari.
Sau khi bạn về khá lâu, Taha còn đứng im lặng giữa phòng. Mỗi ngày, thiên hạ càng gây áp lực mạnh hơn đối với chàng và ngay trong làng nữa, nhiều em thật khó cưỡng nổi tiếng nói đe dọa đã cất lên đòi hỏi chàng, với tư cách làm người Ả-rập và Hồi giáo, chàng phải chọn lựa. Biết làm gì bây giờ? Đứng lên chống lại Barak Ben Canaan, người đã tiếp đón nuôi dưỡng chàng trong lúc lâm nguy tới tính mạng; chống lại Ari, người chàng coi thân hơn cả anh ruột nữa? Không thể tưởng tượng được!
Dầu vậy… Chàng quả thực là một người em của Ari không, hay chỉ là một thứ bà con nghèo? Câu hỏi này, Taha đặt đi đặt lại mỗi ngày, và mỗi ngày qua, chàng càng cảm thấy rõ câu trả lời là thế nào. Chàng chỉ là em ngoài miệng của Ari mà thôi.
Cái thứ bình đẳng người Do-thái thường rao giảng ấy, trên thực tế ra sao? Liệu chàng có thể, chàng, một người Ả-rập thú nhận chàng yêu Jordana từ nhiều năm rồi – trong im lặng, một thứ im lặng làm chàng đau đớn đến muốn hét lên. Gia đình Ben Canaan liệu có chịu nhận người Ả-rập Taha làm con rể không? Các đoàn viên của moshav liệu có đến dự đám cưới của chàng không? Cái gì sẽ xẩy ra nếu chàng tìm đến Jordana xin cưới nàng làm vợ? Chắc chắn là nàng sẽ nhổ vào mặt chàng rồi, chắc chắn thế.
Chàng không thể chống lại Ari, chàng lại càng không thể thú nhận tình yêu của chàng đối với Jordana. Chàng không thể chiến đấu chống lại bạn bè Ả-rập, chàng lại càng không thể chống lại những kẻ tuyên bố rằng Do-thái là kẻ thù của Ả-rập, và chàng, xã trưởng của một làng Ả-rập, chàng phải ủng hộ các đồng bào của mình. Và chàng phải làm như vậy dù tiếng nói của lương tâm chàng có như thế nào chăng nữa.

*

3-4

Các đứa trẻ mà bác sĩ Lieberman yêu thương biết bao ấy đều phát xuất từ các chỗ cặn bã trên thế gian: các ghetto và các trại tập trung. Dầu thế, ở Gan Dafna, hầu như mọi người không biết đến vấn đề kỷ luật. Sự bất tuân hầu như không có, và mọi người chưa hề nghe thấy nói tới một vụ trộm, hay vụ gian dâm nào. Trong trung tâm này – biểu tượng của đời sống của những kẻ sống thoát khỏi các phòng hơi ngạt – các trẻ em tự cai trị lấy mình với một vẻ trang trọng, kiêu hãnh biểu lộ niềm tin tưởng là chúng được mọi người thương yêu.
Ban giảng huấn của Gan Dafna gồm những đàn ông đàn bà đến từ hai mươi hai nước khác nhau. Kitty, người Hoa-kỳ và cũng là người Ki-tô giáo duy nhất, đã được mọi người tiếp nhận với một sự dè dặt thương mến. Niềm sợ hãi một sự thù nghịch với nàng đã tiêu tan nhanh chóng. Ở Gan Dafna ngự trị một không khí trí thức làm ta nhớ tới một viện đại học hơn là một cô nhi viện. Nàng được coi một cách giản dị như là thuộc thành phần có mục tiêu chính yếu là đem lại hạnh phúc cho các trẻ. Cũng như vấn đề do tính cách hoàn toàn Do-thái của cộng đồng này mang lại cũng được đơn giản đến mức độ chẳng còn gì nhiều. Do-thái ở Gan Dafna được xây dựng trên một lòng ái quốc nồng nhiệt trong đó yếu tố tôn giáo ít liên quan tới. Vả lại trung tâm cũng chẳng có một giáo đường nữa.
Cơ sở y tế gồm có một phòng chẩn bệnh, một bệnh viện trang bị đầy đủ với hai mươi giường và một phòng giải phẫu. Gan Dafna và Yad El chung nhau một y sĩ: ngoài ra còn có một nha sĩ, bốn y tá có bằng cấp đầy đủ đặt dưới quyền của Kitty và một nhà tâm bệnh học tại gia nữa.
Sau khi cải tổ lại hoàn toàn tổ chức đã có, Kitty điều khiển phòng chẩn bệnh và bệnh viện với một hiệu năng hoàn toàn Hoa-kỳ. Kể từ giờ, việc khám bệnh, thăm bệnh viện, giờ mở phòng chẩn bệnh đều phải tuân theo một thời dụng biểu cứng rắn. Đồng thời nàng đòi hỏi – và đòi được – mọi người kính trọng nàng theo đúng địa vị của nàng, đến nỗi rằng chuyện này trở thành đề tài cười cợt cho mọi người trong trung tâm. Đối với các điều dưỡng dưới quyền, nàng giữ một lễ độ xa cách, và khước từ điều khiển công việc thiếu thủ tục; đó là đặc điểm của trung tâm, chống lại các kiểu biểu lộ thân mật mà đa số các nhân viên ưa thích. Thái độ này làm nàng được mọi người dành cho nàng một kính nể miễn cưỡng chấp nhận: trong tất cả công việc trong trung tâm, trung tâm y tế hoạt động tốt hơn cả. Các người Do-thái Palestine, vì quá ước muốn tự do, thường hay xa rời thứ kỷ luật mà Hoa-kỳ đã giáo huấn cho Katherine Fremont.
Nàng cứng rắn trong công việc bao nhiêu, nàng lại càng khoan dung bấy nhiêu đối với các đứa trẻ “của nàng”. Quả thật năm mươi em từ tầu Exodus hợp thành một nhóm riêng biệt và rõ ràng là Kitty thuộc về nhóm này. Đến nỗi rằng, một cách hết sức tự nhiên, sau cùng nàng quan niệm như việc riêng một vài trường hợp xáo trộn tâm lý nghiêm trọng trong các đứa trẻ thuộc Exodus. Sau khi đã đưa ra đề nghi hợp tác mà nhà chuyên chữa tâm bệnh nhận lời ngay, đối với các bệnh nhân này nàng tỏ ra tận tâm như một bà mẹ. Chắc chắn là Gan Dafna và Palestine có các đặc tính trị liệu tốt, nhưng các kinh hoàng quá khứ vẫn còn tiếp tục gây ra các cơn ác mộng, duy trì cảm tưởng bất an, một thái độ thù nghịch mà chỉ một lòng kiên nhẫn vô tận và một tình yêu kèm hiểu biết mới làm dịu bớt đi được.
Mỗi tuần lễ một lần, nàng xuống Abou Yesha để giúp viên y sĩ dành một buổi chữa trị cho dân Ả-rập. Hình ảnh những trẻ em Ả-rập không được săn sóc, gầy ốm, làm nàng đau lòng. Quang cảnh trong các nhà mà gà chó và lừa sống chung với người trong cùng một căn phòng làm nàng gần như muốn nôn. Dầu vậy nàng không thể khinh khi những con người giản dị, hiếu khách và duyên dáng ấy. Họ cũng mơ tới một tương lai tốt đẹp hơn, họ cũng đang chờ đợi được giải thoát khỏi thân phận khốn cùng từ bao năm rồi. Rất nhanh, nàng lấy được cảm tình của Taha, thường bao giờ cũng dự khán những buổi chữa trị này. Hơn một lần, nàng cảm thấy vị mouktar trẻ tuổi này muốn bàn với nàng những vấn đề vượt quá tình trạng vệ sinh của làng. Nhưng Taha vẫn còn là một người Ả-rập: người Ả-rập chỉ có thể nói chuyện với đàn bà về bếp núc được thôi – chắc chắn không thể bàn tới những gì đang làm chàng băn khoăn khổ sở.
Mọi sự cứ như thế tiếp diễn và đã đến những ngày cuối đông của năm 1947.
Kitty và Karen trở thành bất khả phân ly. Karen, cô gái đã từng biết khám phá ra tia sáng mặt trời ngay ở những nơi khốn cùng nhất ấy, bây giờ nẩy nở trông thấy trong một bầu khí hoạt động lành mạnh ở Gan Dafna. Kitty ý thức rằng mỗi một ngày qua ở nơi này lại càng giảm bớt hy vọng thuyết phục được Karen theo nàng về Mỹ. Bởi thế nàng cố gắng tối đa nói về Hoa-kỳ với Karen và chờ đợi trong lo lắng công cuộc tìm kiếm lại cha của Karen.
Tuy vậy vấn đề chính là vấn đề Dov Landau. Đã hơn một lần Kitty định xen vào can thiệp giữa Karen và Dov, nhưng nàng đã kìm lại được vào phút chót: sự can thiệp của nàng dám làm cho đôi trẻ gần nhau hơn nữa. Dầu vậy, sự tận tâm tuyệt đối của Karen đối với Dov thật khó mà hiểu nổi: âu sầu, khép kín, Dov không làm gì để đáp lại mọi ân cần của Karen cả. Nếu Dov có tỏ ra bớt ít nói, thì đó chỉ là công của Karen.
Sự kiện đáng ngạc nhiên là Dov hình như lại ham học hành. Có thể nói chàng như muốn đền bù lại những năm không được ngồi trên ghế nhà trường mà lại phải sống dưới các đường cống Varsovie và các căn nhà thê thảm của Auschwitz. Đọc nghiến ngấu tất cả những sách vở nào kiếm được, Dov học ngày học đêm. Xử dụng các năng khiếu tự nhiên, chàng chú trọng đặc biệt đến cơ thể học, hội họa và kiến trúc. Đôi khi, một bức tranh sơn dầu vẽ xong trong cơn sốt đã mang lại cho chàng một lỗ thoát hơi an toàn, và đó cũng là dịp chứng tỏ tài năng cùng lòng hăng hái của chàng. Khi ấy, chiếc vỏ cứng chàng vẫn thu hình vào ấy hình như sắp vỡ tung – nhưng ngay ngày hôm sau, Dov lại trở về vỏ ốc của mình, khép kín hơn bao giờ hết.
Các tuần lễ kế tiếp nhau qua, mỗi ngày làm Kitty thêm thất vọng: Ari vẫn không trở lại và cũng không gửi cho nàng một bức thư nữa. Thỉnh thoảng, khi đi qua Yad El, nàng dừng lại để nói chuyện với bà Sarah Ben Canaan – những cuộc viếng thăm ngắn ngủi nhưng làm hai người đàn bà hiểu rõ nhau hơn. Ngược lại, Jordana không thèm giấu giếm thái độ thù nghịch của mình đối với “cô gái Mỹ”. Có thể nói là Jordana tìm cách tỏ ra khó chịu với Kitty.
Một ngày nọ, khi trở về nhà, Kitty thấy Jordana đang đứng trước gương trong phòng khách, cầm một chiếc áo dự tiệc rượu chiều lấy từ trong tủ ra, ướm vào người. Jordana không hề ngượng, đem áo treo lại vào móc và nói:
– Đẹp lắm khi người ta yêu thích những thứ như thế này.
Kitty lạnh lùng hỏi:
– Xin cô cho biết tại sao tôi được hân hạnh cô tới thăm viếng như vậy?
– Hiện giờ ở kibboutz Ein Or đang có nhiều đơn vị của Palmach đang theo học một khóa huấn luyện. Họ thiếu huấn luyện viên. Do đó, mọi người yêu cầu tôi tới gặp chị để xem chị có bằng lòng tới huấn luyện họ về cứu thương mỗi tuần một lần không.
Kitty lật tấm phủ giường, tháo giầy rồi ngồi thoái mái trên đi-văng.
– Nói cho thẳng thắn, tôi không muốn đâu. Tôi muốn tránh dấn thân…
Jordana cười mỉa mai:
– Đúng như tôi đã nói với mọi người ở Ein Or. Việc tôi đi vận động này quả là mất toi thì giờ.
– Tôi thấy cô quả thật không sao tôn trọng được quan điểm của tôi.
– Bà Fremont ạ, bà có thể làm việc ở bất cứ nơi nào trên thế gian với tư cách trung lập. Ngoại trừ ở Palestine. Đối với những kẻ không muốn dính dấp gì tới thời cuộc, không hiểu sao họ lại có cái ý kiến kỳ cục là tới nơi này! Này, xét cho cùng, tại sao bà tới xứ này?
Tức giận, Kitty ngồi dậy:
– Điều đó không có liên quan gì tới cô cả!
Jordana châm chọc:
– Chị tức giận vô ích. Tôi biết tại sao chị đến đây: chị muốn anh tôi. Tôi biết thừa: chị nhìn anh Ari hau háu.
– Cứ cho thế là đúng đi thì cô sẽ là người sau cùng tôi phải chú tâm tới.
– Tôi biết đúng như thế. Nhưng tôi cũng biết chị sinh ra không phải để hợp với một người như anh Ari. Chị không đứng về phía chúng tôi, chính nghĩa của chúng tôi chị đâu thèm để ý tới.
Kitty quay đi, châm một điếu thuốc. Jordana đến đứng ngay sau lưng nàng.
– Chị Dafna, chị ấy hợp với anh Ari. Chị ấy hiểu anh Ari trong khi một phụ nữ Hoa-kỳ như chị làm sao hiểu anh cho nổi.
Kitty quay lại đối diện với Jordana:
– Chắc tại tôi không mặc quần soọc đi dạo cùng khắp; chắc tại tôi không làm những chuyến leo núi đổ mồ hôi, không biết bắn trọng pháo, không thích ngủ trong bất cứ một cái hố nào! Cô tưởng rằng sống một cách văn minh làm tôi ít nữ tính hơn cô chứ gì. Cô với cái bức tượng đẹp đẽ của cô ngoài kia kìa, trên bãi cỏ ấy. Tôi sẽ nói tại sao cô ghét tôi như vậy: tôi làm cô sợ.
– Ý kiến gì nghe khôi hài quá.
– Không khôi hài như cô tưởng đâu. Cô không phải là người có thể dậy tôi làm đàn bà đâu – cô chẳng có một ý niệm gì về vụ này hết. Cô không phải là đàn bà, bất quá cô chỉ là một con cái đi kiếm một chàng Tarzan chúa tể rừng xanh thuộc địa hạt của cô. Tốt hơn, cô nên bắt đầu lại bằng cách đi mua một cái bàn chải tóc và một cái lược.
Đi qua thiếu nữ, nàng lại mở rộng cửa tủ chứa quần áo:
– Cô nhìn kỹ đây: đây là những gì một người đàn bà xứng được đàn ông yêu thương mặc.
Kitty khoan khoái khi thấy nước mắt tức giận ứa ra từ mắt Jordana. Nàng nói tiếp:
– Kể từ giờ, có việc gì, xin mời cô lại văn phòng làm việc của tôi. Tôi không phải là một kibboutzik, tôi muốn có đời sống riêng.
Jordana đi ra, đóng sầm cánh cửa lại thật mạnh.

Karen đợi cho buổi chẩn bệnh chiều chấm dứt mới lẻn vào phòng làm việc của Kitty. Kitty nói:
– Chào cưng. Ngày hôm nay vui chứ?
Ngồi bịch xuống một ghế bành, Karen giơ tay làm như nắm lấy vú một con bò cái tưởng tượng, than thở với một vẻ tuyệt vọng khôi hài.
– Có lẽ tại tay em yếu quá. Chẳng bao giờ em học được vắt sữa bò một cách đến nơi đến chốn quá. Em khóc uất lên được, cô. Em phải nói với cô một chuyện, cô Kitty.
– Em nói đi, cô nghe đây.
– Không nói bây giờ đâu. Trung đội của em sắp phải lau một loạt súng mới từ Hung-gia-lợi tới. Cô không biết súng dơ đến thế nào đâu!
– Súng ống Hung-gia-lợi có thể chờ thêm một phút được. Bây giờ em nói cho cô em đang thắc mắc cái gì.
– Tại Iona, cô gái cùng buồng với em. Chúng em đã trở thành bạn thân, thì đùng một cái Iona lại đầu quân vào Palmach.
Kitty đột nhiên thấy lo ngại. Trong chừng bao lâu nữa, Karen sẽ lại đây loan báo là nàng sẽ đi thi hành bổn phận của một thánh nữ Palestine? Suy nghĩ, Kitty đẩy một xấp giấy tờ sang một bên.
– Từ một thời gian gần đây, cô nhận thấy mọi người thiếu nữ điều dưỡng giỏi, trong các nông trường cũng như trong Palmach. Thế thì trong khi săn sóc các trẻ em ở các trại trước kia, em đã có được một kinh nghiệm đáng kể. Cô, về phía cô, đã phải phụ trách một số trẻ em tâm tính bất thường. Cô có thể yêu cầu bác sĩ Lieberman cho em làm việc với cô, và như vậy em có cơ hội để trở thành một điều dưỡng giỏi. Em nghĩ sao?
Karen cười tươi tắn.
– Em nghĩ như vậy là tuyệt lắm cô. Lý do bởi vì – cô đừng nói lại với ai nghe cô – em chắc chắn sẽ là một thôn nữ dở nhất đời cô ơi. Em thích điên được trở thành điều dưỡng, cô.
Kitty đứng dậy. Vòng tay ôm vai thiếu nữ, nàng kéo lại sát mình.
– Karen này… sau khi Iona ra đi, em có thích lại ở với cô không?
Vẻ mặt biến đổi của Karen đủ là một câu trả lời hùng hồn.
Bác sĩ trưởng trung tâm chấp thuận ngay lời yêu cầu của Kitty: trung tâm sẵn lòng mất đi một thôn nữ tập sự vụng về để đổi lấy một nữ điều dưỡng tương lai. Sau khi cám ơn bác sĩ, Kitty ra đi dạo trên bãi cỏ trung tâm, trước tượng Dafna. Trong vài ngày nữa, Karen sẽ đến ở gần nàng, và như vậy thoát khỏi một phần nào ảnh hưởng của các sabra hung hăng ấy… của một Jordana chẳng hạn… Tội nghiệp Jordana thèm muốn có được vẻ lịch thiệp và duyên dáng của mình.
Nàng giật mình khi nghe thấy một giọng cất lên gọi tên nàng trong bóng tối. Giọng Ari…
– Kitty! Tôi không làm cô giật mình chứ, Kitty?
Khi chàng lại gần, nàng lại cảm thấy mình mất hết sức lực, vô phương tự vệ.
– Tôi rất tiếc là đã không lại thăm cô sớm hơn được, Jordana chắc đã chuyển hộ thư tôi?
Nàng ngạc nhiên nhưng giấu đi:
– Jordana? Có, có chứ!
Tôi muốn hỏi xem cô có thể rảnh ngày mai không. Một nhóm Palmach sẽ leo lên đỉnh ngọn Tabor. Đó là một cuộc du hành mà cô không nên bỏ qua. Cô có muốn đi cùng tôi không, Kitty?
– Có chứ anh.

*

3-5

Ngọn Tabor, không đủ cao để đáng gọi là núi, nhưng cũng lại quá cao để có thể gọi là đồi, là một khối thẳng đứng một mạch bẩy trăm thước nằm giữa một đồng bằng phẳng đều.
Sau một bữa điểm tâm đến nơi đến chốn ở kibboutz Beth Alonim dọn ra ở chân núi, Ari và Kitty lên đường trước tất cả mọi người để tận hưởng khí mát buổi sớm mai. Con đường mòn bám theo sườn núi, mỗi quãng lại cho ta nhìn thấy một thung lũng. Đột nhiên, sau chừng một giờ leo dốc, Ari đứng sững lại, lắng nghe, rồi nói nhỏ:
– Có đàn dê. Cô ngửi thấy mùi chúng không?
Kitty hít không khí một cách cẩn thận.
– Không. Tôi chẳng ngửi thấy gì hết.
– Dân Bédouin, chắc thế. Ở kibboutz hôm qua mọi người đã báo cho tôi biết là có họ. Lại đây, Kitty.
Quả đúng vậy, ở khúc quẹo sau, hai người thấy chừng mười cái lều cắm dọc theo sườn đồi và chung quanh là các con dê đang gặm cỏ. Hai người dân du mục cầm súng tiến lại. Ari nói vài câu bằng tiếng Ả-rập rồi nắm lấy cánh tay Kitty đưa nàng theo hai người kia đến chiếc lều lớn nhất, chắc hẳn là lều của cheik. Kitty muốn bịt mũi lại luôn. Nếu nàng vẫn không ngửi thấy mùi dê, nàng nhận thấy mùi đàn bà ăn mặc rách rưới, đen cáu ghét, và mùi những trẻ con cởi truồng, trông da thì đủ biết là chúng không hề biết đến nước và xà phòng là gì kể từ khi ra đời.
Một người râu tóc tiêu muối tiến ra và trao đổi với Ari những cái chào đầy nghi lễ. Sau vài phút trò chuyện náo nhiệt, Ari quay lại Kitty:
– Ngoại trừ khi muốn làm hắn cảm thấy bị xúc phạm nghiêm trọng, chúng ta phải nhận lời mời. Và cũng phải ăn luôn những cái gì hắn mời nữa. Sau đó cô vẫn có cách nôn những gì đã ăn ra.
Trong lều, mùi còn kinh khiếp hơn nữa. Họ ngồi xuống những tấm da dê và thảm len. Ari làm thông ngôn. Rất xúc động khi biết Kitty từ Mỹ châu tới, vị cheik nói một cách kiêu hãnh rằng trước kia ông đã từng có một tấm hình của phu nhân tổng thống Roosevelt.
Sau đó mọi người dọn bữa ăn. Kitty thấy mình một tay cầm một miếng đùi cừu lầy nhầy những mỡ, tay kia cầm một nắm cơm trộn tủy. Nàng đủ sức gặm gặm miếng thịt, rồi khi thấy chủ nhân quan sát, nàng cố nở một nụ cười tán thưởng miếng thịt. Tráng miệng gồm có những trái cây chưa rửa và cà-phê cho nhiều đường đến lợm giọng lên được, rót vào những chiếc ly bám đầy đất. Về khăn ăn, mọi người dùng quần để chùi tay và dùng tay áo để chùi miệng.
Một thời gian sau, vẫn trịnh trọng, Ari từ giã chủ nhân. Khi họ đã rời trại Bédouin được vài bước, Kitty dừng lại và thở hắt ra:
– Chúa ơi! Những con người đáng thương!
– Cô đừng có thương cho họ. Họ tin họ là những con người tự do nhất trên thế gian này. Cô có nhớ phim “Tiếng hát sa mạc” không, phim mà cô coi hồi còn nhỏ ấy?
– Nhớ chứ. Nhưng bây giờ thì tôi biết rằng nhà đạo diễn phim này chưa từng bao giờ trông thấy một trại của người Bédouin cả. Anh nói gì với vị cheik vậy? Hai người nói chuyện có vẻ hăng lắm.
– Tôi nói với hắn là đừng có rắc rối tối nay, và đừng có tìm cách tịch thu các nhẫn và đồng hồ của các thanh niên Palmach.
– Còn ông ta, ông ta nói những gì với anh?
– Hắn đề nghị mua cô. Hắn trả giá cho tôi là sáu con lạc đà.
– A, tên cướp! Thế anh trả lời hắn ra sao?
– Tôi trả lời là hắn nhìn cô không kỹ đấy, cô đáng giá ít nhất là mười con lạc đà, ai cũng biết là thế…
Ari đưa mắt nhìn trời quan sát: mặt trời đã lên tới đỉnh.
– Trời sắp nóng bỏng đến nơi rồi. Tốt nhất chúng ta nên cởi bỏ quần áo ngoài đi.
Khi thấy Kitty mặc chiếc quần sọc xanh cổ điển do ban tiếp liệu của Gan Dafna cấp phát, chàng nở một nụ cười tán thưởng.
– Có lời khen cô! Bây giờ cô hoàn toàn có vẻ là một sabra.
Con đường mòn leo lên sườn phía nam ngọn Tabor. Mới sáng trời đã nóng bức. Và hơn nữa, con đường thỉnh thoảng lại biến đâu mất, và lúc đó hai người bắt buộc phải trèo bằng tay và đầu gối. Gần xế chiều hai người mới lên tới khoảng phẳng trên đỉnh núi.
Họ chậm chạp đi vòng quanh, khám phá ra cả một khung cảnh bao la kỳ diệu. Về phía nam, thung lũng Jazreel với ô vuông của các cánh đồng chung quanh kibboutz và những chấm trắng của các làng Ả-rập xa dần đến tận ngọn Carmel và Địa trung hải. Phía bắc hồ Tiberiade. Theo lời chỉ dẫn của Ari, Kitty có thể nhìn thấy bằng ống dòm địa điểm Ein Or, nơi Saül đã gặp nhà nữ phù thủy, cùng đỉnh trơ trọi của núi Gilboa, nơi mà Saül và Jonathan đã chết khi chiến đấu chống lại quân Philistins.
Ari cất tiếng đọc:
– Ôi các ngọn Gilboa, các cánh đồng của mi sẽ không được mưa, không được sương thấm xuống nữa. Vì chính trên sườn của mi tấm mộc của Saül đã vỡ…
Kitty ngạc nhiên nói:
– Tôi không ngờ là anh lại có thể thi sĩ như vậy.
– Chắc tại hậu quả của cao độ và cảm tưởng mình đang ở xa, rất xa các làng xóm thị thành. Và cũng vì tôi đang ở trên ngọn Tabor, chiến trường thường xuyên kể từ khi con người phát minh ra chiếc rìu đá, vị trí đã nhìn thấy trận đánh sau cùng của người Do-thái chống lại các binh đoàn La-mã, vị trí mà các Thập tự quân và quân Ả-rập đã chiếm được và để mất cả năm chục lần. Mỗi một phân vuông của núi này đều đẫm máu – cũng như nhiều địa điểm khác ở xứ này. Chắc cô chưa biết câu nói đùa cợt này: “Giá Moïse đưa các bộ tộc của Israël lang thang thêm bốn mươi năm nữa và kiếm cho họ một xứ ít xáo trộn thì có lẽ tốt hơn!”
Ở giữa vùng đất phẳng trên đỉnh núi, họ đi qua một rừng tùng mà người La-mã, Byzance, Thập tự quân và Ả-rập đều để lại các di tích: những mảnh chén lọ vỡ, các mảng tường, cột đá sụp đổ. Xa hơn một chút là hai tu viện, một của Chính thống giáo, một của Ki-tô giáo, bao quanh lấy nơi mà đấng Ki-tô đã biến hình để nói với Moïse và Elie.
Bên kia rừng là một gò cao tạo thành điểm cao nhất của ngọn Tabor, một pháo đài của Thập tự quân mà di tích lẫn lộn với di tích của một lâu đài của dân Sarrasin. Phía đông là một bức tường xây thẳng đứng sát bờ vực dốc thẳng, từ đó có thể nhìn thấy toàn thể hồ Tibériade, đến tận Cornes Hattin, nơi Saladin đã đánh tan lực lượng của Thập tự quân.
Sau khi đã ngắm cảnh, hai người trở lại lâu đài Sarrasin và mặc lại quần áo ngoài. Ari trải tấm chăn ra và Kitty nằm dài lên trên khoan khoái.
– Nhờ anh mà tôi có được một ngày tuyệt vời, anh Ari. Nhưng rồi tôi sẽ đau mỏi cả tuần cho mà xem.
Tì cằm lên khuỷu tay, Ari nhìn nàng chăm chú trong im lặng. Nàng liệu có biết rằng chàng phải kiềm chế hết sức mới khỏi đưa tay ôm nàng không?
Đến khi chiều xuống, nhóm người leo núi đầu tiên mới lên tới đỉnh: Do-thái Đông phương da rám nắng, Do-thái Phi châu da đen như gỗ mun, Do-thái Bắc Âu cao lớn tóc vàng mắt xanh. Và dĩ nhiên đó là các sabra, con gái khỏe mạnh vú cao thẳng, con trai lực sĩ để ria lớn, dáng điệu kiêu hãnh. Kitty thích thú được gặp lại cả Joab Yarconi lẫn Zev Zilboa. Trong một nhóm khác, nàng nhận ra hình dáng cao và mái tóc hung đỏ của Jordana đứng cạnh David Ben Ami.
Lúc đêm xuống, chừng hai trăm thanh niên nam nữ của Palmach đã tập hợp đủ trên đỉnh. Người ta đào một cái hố để quay ba con cừu. Rồi mọi người ngồi vòng tròn quanh một đống lửa trại lớn. Chưa chi những tiếng hát đầu tiên đã cất lên ca tụng mầu nhiệm của nước đã làm phục sinh những đất đai khô cằn, ca tụng vẻ đẹp của miền Galilée và Judée, sự quyến rũ huyền bí của sa mạc Négev.
Rồi Joab, ngồi theo kiểu Thổ-nhĩ-kỳ, bắt đầu đập trống cầm nhịp cho một bài ca cổ Do-thái. Một tiếng tiêu cất lên theo điệu đó và một vài thiếu nữ gốc Đông phương bắt đầu khiêu vũ cùng với những cử động chậm, lắc lư, dâm tình mà các vũ nữ thời xưa đã trình diễn cho vua Salomon. Dần dần, các ngón tay và mu bàn tay được Joab đánh nhanh hơn, các thiếu nữ nhảy nhịp nhanh theo để rồi sau cùng gục xuống với một điệu quay tròn. Một nhóm chừng mười trai và gái khác ra thay thế, nhẩy hora, điệu vũ của các nông dân Do-thái. Một tay Ari nắm, một tay Joab cầm, Kitty cũng nhẩy vòng tròn theo một chiều này, rồi đột ngột đổi sang chiều kia.
Không ai để ý là David và Jordana đã biến đâu mất. Tay nắm tay, họ chạy băng qua lâu đài đổ nát để dừng lại trong một chỗ giống như một căn phòng nhỏ đào sâu vào trong tường. David trải chiếc chăn ra và hai người nằm xuống hôn nhau và xiết chặt lấy nhau. Các ngón tay David hối hả trên một nút khuy áo, một núm kéo phéc-mơ-tuya mà thiếu nữ giúp chàng cởi hộ, và sau cùng, khi cả hai đã trần truồng, các thân thể của họ hòa lẫn vào nhau. Và khi đã thỏa mãn, họ chìm đắm vào trong giấc ngủ, tiếng trống đã im để cho tiếng gió từ thung lũng lên như để ru họ.
Vào lúc bốn giờ sáng, mọi người dọn ra món cừu quay vừa chín tới và cà-phê nóng bỏng. Vì là khách danh dự, Kitty phải nhận miếng thịt đầu tiên. Khi cắn miếng thịt ngon lành, với hàm răng đẹp nàng nhìn dò xét những khuôn mặt chung quanh. Phải chăng đúng đây là đạo quân mà thành phần chiến đấu ưu tú là lớp người trẻ này? Một đạo quân không quân phục, không phân biệt cấp bực, trong đó đàn bà chiến đấu bên cạnh đàn ông, cùng trải qua những thử thách, xử dụng cùng thứ vũ khí.
Một đạo quân tân tiến? Chắc chắn là không rồi. Nói cho đúng, đây chỉ là sự tái hiện của những người hébreu ngày xưa, một đạo quân đầy rẫy những Samson, những Deborah, Saül, một lực lượng vô địch vì sức mạnh của Chúa ở trong họ!

*

3-6

Chatham House
Viện Giao tế Quốc tế
Luân-Đôn

Nhà chuyên viên của chính phủ Đức Vua về những vấn đề Trung Đông, Cecil Bradshaw từ ba ngày nay đang cố gắng tổng kết rất nhiều bá cáo đang về tràn ngập văn phòng ông. Trong ba mươi bẩy năm phục vụ, tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết phải hòa hợp với người Ả-rập, ông đã gỡ rối nhiều vụ rắc rối, và kết thúc biết bao là âm mưu, bôi xóa che giấu rất nhiều vụ bội phản và xăng-ta của các bạn đồng minh yêu quí phương đông ấy của ông. Tuy vậy, lần này, các rắc rối đó đã vượt mức. Các hội nghị bàn cãi bất tận ở Luân-đôn đã chấm dứt bằng một thảm bại toàn diện. Đáp ứng với thái độ tiêu cực, điên khùng của những người Ả-rập là hành động khủng bố của các Macchabée, các tay liều mạng đáng sợ nhất mà người Anh phải chống lại từ xưa đến nay.
Mặc dù các lời yêu cầu khẩn cấp và nhắc đi nhắc lại nhiều lần, (Trung ương) Phục quốc Do-thái vẫn khước từ không chịu trợ giúp chức quyền Anh chiến đấu chống lại các phần tử sát nhân kết hợp dưới danh xưng là các Macchabée. (Trung ương) quả quyết là họ không có quyền hành gì đối với bè lũ mà họ tuyên bố kết án công khai này. Vậy mà một phần khá lớn cộng đồng Do-thái lại tán đồng bí mật đường lối khủng bố của các Macchabée mà hoạt động đã lan rộng đến tỉ lệ mà chúng tôi xin khuyến cáo tản cư tất cả những người Anh nào mà sự hiện diện không là tối cần thiết ở Palestine.
Hay đây nữa:
Cuộc đột kích vào xưởng lọc dầu ở Haïfa đã làm chúng ta thiệt hại mất hai tuần lễ sản xuất. Cuộc tấn công phi trường Lydda đã cho phép tụi khủng bố phá hủy một phi đội khu trục cơ đang đậu dưới đất. Ngoài ra chúng tôi còn ghi nhận phục kích qui mô cùng mười lăm trận đột kích quan trọng vào các cơ sở của chúng ta. Theo các tin tức đã được phối kiểm, Haganah cùng đoàn xung kích của họ là Palmach, cũng đã bắt đầu hoạt động mạnh. Có thể chính họ cũng đã tham dự vào các trận đánh đã liệt kê trên.
Ở một đoạn khác:
Mặc dù đã tăng cường cho các đơn vị hải quân tuần duyên, hoạt động của Mossad Aliya Bet đã gia tăng rất nhiều kể từ vụ Exodus. Sáu tầu đã thành công trong việc phá phong tỏa và đổ bộ chừng tám ngàn di dân nhập nội bất hợp pháp. Theo các báo cáo của các sứ quán và lãnh sự quán của chúng ta ở các quốc gia ven Địa trung hải, Mossad đang trang bị ít nhất là năm tầu nữa.
Và để bổ túc cho đủ bảng tình hình đen tối trên:
Kể từ khi chúng ta khước từ không chịu nhận các khuyến cáo của ủy ban Anh-Pháp đề nghị cho nhập nội thêm một trăm ngàn người Do-thái nữa vào Palestine, uy tín của Anh quốc đối với các bạn đồng minh đã suy giảm rất nhiều, nhất là vì các thất bại tủi nhục mà một số hành động do các Macchabée đã gây ra cho chúng ta. Cũng vì thế vụ bắt cóc mới đây là một thẩm phán Anh vừa kết án một tay khủng bố Do-thái, đã làm suy sụp thêm những gì còn lại của uy tín chúng ta.
Bradshaw đẩy hồ sơ sang một bên, tháo kính và lấy khăn lau trán. Quả là một vụ lộn xộn thảm hại! Quả thực vụ ủy trị xứ Palestine dám chấm dứt bằng một thảm họa. Dầu thế…Vị trí chiến lược của cái xứ bé nhỏ này, trên cả phương diện quân sự lẫn chính trị, có một sự quan trọng chính yếu. Với căn cứ hải quân Haïfa ở ngay kế cận kênh đào Suez, Palestine là trụ của cả Đế quốc. Do đó, cần phải giữ, cần phải bảo vệ xứ này với bất cứ giá nào.
Điện thoại nội bộ reo. Bradshaw cầm máy lên.
– Thưa Ngài, Đại tướng Tevor-Browne đã đến.
– Mời ông ấy vào.
Hai người chào nhau với vẻ lạnh lùng rõ rệt. Tevor-Browne chưa bao giờ giấu giếm cảm tình thân Do-thái của mình. Khác với Bradshaw và gần như toàn thể Thuộc địa vụ, ông cho rằng Anh quốc phải nương tựa ở Trung Đông, không phải thứ thiện chí vì tiền và hay thay đổi của người Ả-rập, mà vào một liên minh chắc chắn với những người phục quốc Do-thái, bạn trung thành và đáng kính. Ông còn đề nghị tới cả việc biến ủy trị Palestine thành một Quốc gia Do-thái nằm trong Khối Thịnh Vượng Chung.
Bradshaw nói:
– Tôi vừa đọc lại bản tóm tắt các tờ trình mới nhất.
Tevor-Browne châm một điếu xì gà, nhận xét:
– Sự đọc rất là hữu ích. Nếu những người Do-thái muốn làm chúng ta vui lòng, họ sẽ lùi thẳng xuống biển. Nhưng đáng tiếc thay là họ không hề muốn làm như thế.
Bực dọc, Bradshaw lấy tay gõ nhịp xuống bàn.
– Sir Clarence, tôi xin đại tướng miễn cho những lời ám chỉ. Tôi yêu cầu đại tướng đến đây để cùng xét xem có nên duy trì Haven-Hurst hay thay thế ông ta bằng một người khác cương quyết hơn. Theo ý tôi, đã tới lúc thay đổi thái độ của chúng ta đối với người Do-thái.
– Đối với tôi, Haven-Hurst hoàn toàn thích hợp với công cuộc ngài dự trù – ngoại trừ khi ngài thích dùng tới một vài tướng lãnh S.S. Nhưng cũng xin ngài đừng quên cho rằng chúng ta vẫn còn một chính quyền dân sự ở Palestine, dưới quyền của một cao ủy đại nhân.
Đỏ bừng mặt, Bradshaw phải hết sức cố gắng mới trấn áp được mình. Những ngày gần đây đã làm thần kinh ông phải trải qua một thử thách khó nhọc. Ông nói:
– Tôi có ý định cho tăng thêm quyền hành cho tướng Haven-Hurst. Tôi đã chuẩn bị một dự án…
Ông đưa một tờ giấy cho Tevor Browne. Đó là một bức thư gửi cho Tư lệnh các Lực lượng Anh quốc đồn trú tại Palestine, trong đó Luân-đôn trao phó cho tướng Haven-Hurst chuẩn bị toàn thể các biện pháp “có thể mang lại ngay lập tức trật tự tại Palestine”. Tevor Browne lắc đầu.
– Công thức nghe hay lắm. Tôi chắc chắn rằng ngài sẽ thấy những đề nghị của Haven-Hurst hết sức là đáng chú ý – nếu ngài là người thích đọc những truyện kinh khủng toát mồ hôi lạnh.

Safed (Palestine)

Sau khi tầu Exodus nhổ neo vài ngày, việc cho Sutherland hồi hưu được thực hiện rất là kín đáo. Sutherland lập tức đi ngay Palestine để đến ở trong một biệt thự đẹp đẽ trên sườn ngọn Canaan cách Safed năm cây số, thành phố thánh nằm ở đường vào thung lũng Houleh.
Lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay – nói cho đúng hơn, kể từ khi bà mẹ chết – Sutherland được biết tới thứ hạnh phúc của một tâm hồn thanh thản toàn diện. Lần đầu tiên ông có thể đi ngủ mà không sợ bị giật mình thức tỉnh vì một cơn ác mộng. Biệt thự của ông quả là một tiểu thiên đường. Một cơn gió nhẹ mát thường xuyên thổi vào nhà, ngôi nhà trắng mái ngói đỏ, nền lát đá đen, và sau hàng hiên nhà, là một khoảng đất rộng bốn sào trải ra như một thềm cao. Ông định biến khu đất thành vườn cảnh, bao quanh bằng bốn trăm cây hoa hồng xứ Galilée.
Ngày ngày ông cuốc vườn, đi thăm rất nhiều thánh địa trong vùng, học tiếng Ả-rập và tiếng hébreu, hay lang thang trong muôn ngàn con đường hẻm nhỏ của thành phố Safed. Khu Do-thái, chiếm chừng một phần mười thành phố này, chứa đựng một cộng đồng toàn đàn ông rất sùng đạo và rất nghèo, sống tằn tiện qua ngày bằng các khoản tiền phước thiện do các đồng đạo giầu hơn gửi tặng. Trong trung tâm của Kabbalah này, một giáo phái thần bí của Do-thái giáo, mọi người chỉ sống để cầu nguyện và nghiên cứu kinh thánh. Trong một xứ mà nội chiến đang bùng nổ dữ dội từ bắc chí nam, các tín đồ của Kabbalah ở Safed vẫn cương quyết sống một cuộc đời bình an, như ở ngoài thế gian, dù rằng lối sống này đặc biệt làm họ dễ hứng chịu những cơn cuồng nộ sát nhân của đám quần chúng do mufti xúi giục.
Thành phố Ả-rập thì bao gồm những nhà lụp xụp thường thấy trong bất cứ nơi thị tứ nào của thế giới Hồi giáo Trung Đông. Tuy vậy, khí hậu đặc biệt và cảnh đẹp đã làm cho nhiều effendi xây cất ở đây nhiều nhà ở rộng rãi và sang trọng. Sutherland biết cách kết bạn với cả người Ả-rập lẫn Do-thái.
Ngoài các cổ tích, như giáo đường các Nữ tử của Jacob xây cất trên di tích hoang tàn của một tu viện của các Thập tự quân Hung-gia-lợi, Safed còn có cả một bảo ngọc nữa: đó là acropole. Các con đường nhỏ leo lên đồi chạy qua một Kraal của các hiệp sĩ giáo phái Temple và các di tích của một chiến lũy của người Hébreu. Đỉnh cao nhất nhô lên khỏi một rừng tùng, từ đó cho ta một quang cảnh duy nhất, đi từ hồ Tibériade phía nam đến tận giòng Jourdain. Rất xa ở chân trời là hình dáng cô đơn của ngọn Hebron. Trong khung cảnh của một vẻ đẹp toàn thiện này, chỉ có một đồn Taggart nằm trên đường dẫn lên đỉnh Canaan.
Một buổi chiều, sau khi đi dạo thăm Gan Dafna về, Sutherland ngạc nhiên khi nhận thấy viên sĩ quan tùy viên cũ của mình, thiếu tá Caldwell, đang ngồi đợi ở thềm hiên.
– A, anh Fred! Anh sang Palestine từ bao giờ vậy?
– Dạ, các vài hôm rồi. Thượng cấp đã bổ nhiệm tôi vào ngành phản tình báo thuộc bộ Tư lệnh. Tôi được trao phó nhiệm vụ liên lạc với An ninh. Họ vừa bị một vụ nặng: hình như một số sĩ quan đã mật báo các tin tức cho Haganah, và cho cả Macchabée nữa. Ngài có thể tưởng tượng nổi một điều như vậy không?
Sutherland tưởng tượng nổi điều đó dễ dàng lắm, nhưng ông thích giữ im lặng hơn là nói ra. Caldwell nói tiếp:
– Chiều nay, việc tôi đến thăm viếng ngài có một tính cách hơi chính thức một chút. Nhưng cũng xin ngài ghi nhận cho là dù không có là thế, tôi cũng vẫn cứ tới đây để vấn an ngài. Nhưng vì trước đây tôi đã có vinh dự được phục vụ dưới quyền ngài… Nói tóm tắt, đại tướng Haven-Hurst đã trao phó cho tôi nhiệm vụ tới đây. Chắc ngài cũng đã được biết chúng tôi đang chuẩn bị chiến dịch Polly: di tản tất cả những người Anh không là tối cần thiết cho Palestine…
Sutherland ngắt lời:
– Tôi đã nghe thấy mọi người gọi cuộc hành quân này là “Điên đi”.
Caldwell nở một nụ cười lễ độ trước khi nói tiếp:
– Đại tướng Haven-Hurst mong được biết dự tính của ngài.
– Tôi chẳng có dự tính nào cả. Tôi đang ở nơi đây, nhà tôi, và tôi dự tính tiếp tục ở nhà của tôi.
Caldwell nằn nì:
– Đại tướng Haven-Hurst muốn nhấn mạnh với ngài là một khi cuộc di tản đã hoàn tất, đại tướng sẽ không còn đủ sức bảo vệ an ninh cho ngài nữa. Việc ngài cư ngụ tại Safed đã tạo rất một vấn đề… một vấn đề tế nhị…
Sutherland gật đầu: hiển nhiên là Haven-Hurst đã hay biết các cảm tình của ông đối với phục quốc Do-thái và sợ ông sẽ mang kinh nghiệm quân sự ra giúp cho Haganah.
– Thiếu tá nói hộ với đại tướng là tôi xin cám ơn lòng ân cần của đại tướng đối với tôi, và tôi rất thông cảm với địa vị của đại tướng.
Caldwell bĩu môi và định thử nhắc lại vấn đề. Nhưng chàng không có thì giờ để khai triển các luận cứ của mình. Sutherland đã đứng dậy, nhờ chàng chuyển lời hỏi thăm đại tướng và tiễn chàng đến tận đường, nơi một chiếc xe tham mưu đang đợi dưới sự canh gác của một trung sĩ. Dựa vào cột ngoài cổng, Sutherland nhìn chiếc xe đi xa dần về phía đồn Taggart. Một lần nữa anh chàng Fred đáng thương này lại “hư sự” nhiệm vụ mình.
Đi từng bước nhỏ chậm rãi trở về biệt thự, Sutherland suy nghĩ. Về một điểm nào đó, Haven-Hurst chắc chắn là có lý: mạng sống của ông đang lâm nguy. Nếu Haganah hoàn toàn thích thú trong việc giao thiệp với ông, thì các Macchabée lại rất dễ nghĩ đến việc thanh toán một tướng lãnh Anh hồi hưu thường hay giao thiệp với Ả-rập. Cũng như bất cứ một tay giết người nào của mufti cũng có thể bực tức khi thấy ông giao thiệp với người Do-thái. Chưa kể đến chuyện có thể rằng trong những người Do-thái ông giao thiệp, có trà trộn vài đoàn viên của Macchabée, và như vậy sẽ là cả một hoàn cảnh hết sức rắc rối…
Ông xuống vườn. Những bông hồng đầu tiên đã nở, đêm vừa xuống bao phủ thung lũng. Sutherland cảm thấy những lo ngại của ông tiêu tan trước bao vẻ đẹp và an bình. Không, ông sẽ không ra đi, dầu là ngày mai hay một ngày xa hơn.

Vừa tới đồn, Caldwell đã được mời lên phòng An ninh Quân đội.
– Thiếu tá có về ngay Jérusalem bây giờ không?
Caldwell coi đồng hồ.
– Có. Khởi hành ngay bây giờ, tôi có thể về kịp đó trước khi trời tối hẳn.
– Tốt lắm. Ở đây chúng tôi có một tên Do-thái cần phải đưa về trụ sở An ninh. Một Macchabée – một tên rất nguy hiểm. Thế mà các bạn của hắn biết chúng tôi đang giữ hắn và trong trường hợp đúng như vậy, bọn chúng có thể tổ chức một cuộc phục kích đoàn xe chở tên này về. Chính vì thế áp tải hắn về trụ sở bằng một xe thường có lẽ tốt hơn.
– Rất vui lòng được giúp các ông ở đây.
Viên thanh tra mở cửa và ra lệnh. Hai binh sĩ tiến vào, lôi theo một anh chàng bé con chừng mười bốn mười lăm tuổi. Tay chân đều bị xiềng xích, mặt đầy vết đấm đá thâm tím, một băng keo dán kín miệng, rõ ràng là hắn đã bị thẩm vấn đúng mức. Viên thanh tra tiến đến trước mặt kẻ bị trói, nói:
– Thiếu tá đừng để hắn đánh lừa bởi cái vẻ thiên thần tuẫn nạn. Chúng tôi bắt được hắn đêm hôm qua. Tên nhóc khốn kiếp này đã tham dự vào toán tấn công đồn cảnh sát Safed. Chính hắn đã giết chết hai cảnh binh bằng lựu đạn. Mi đúng là một tên Do-thái dơ dáy khốn kiếp, Ben Salomon.
Im lặng, kẻ bị bắt nhìn viên thanh tra bằng một con mắt khinh bỉ.
– Thiếu tá đừng có tháo băng dính ra nghe, hắn sẽ lợi dụng ngay để ca kinh thánh cho thiếu tá nghe ngay. Tụi nhóc này cuồng tín lắm! Bao giờ mày mới thôi nhìn tao cái kiểu này hả thằng khốn!
Viên thanh tra vả cho cậu bé một cái vào miệng thật mạnh trước khi đương sự ngã lăn ra đất.
– Tống cái tên khốn này ra cho khuất mắt tôi!
Mọi người ném Ben Salomon vào xe, cho nằm trên sàn giữa hai hàng ghế. Caldwell lên ngồi cạnh tài xế, để một binh sĩ võ trang canh người tù. Cửa đồn mở ra, chiếc xe vọt nhanh.
Khi họ tới gần thị trấn hoàn toàn Ả-rập Naplus, Caldwell tự dưng một có ý kiến. Chàng quay lại người lính đang chặn một chân lên đầu tù nhân cười khẩy.
– Đây, chúng ta sẽ làm như sau. Chừng một hai cây số nữa, chúng ta sẽ đến một làng Ả-rập căn cứ của mufti. Khi đi qua, chúng ta sẽ chạy chậm lại và ném tên nhóc này ra khỏi xe.
– Nhưng thưa thiếu tá, tụi Ả-rập sẽ giết chết hắn mất!
Người lính cũng tiếp lời người tài xế:
– Tôi, tôi thú thật là cũng ghét tụi Do-thái lắm. Nhưng khi người ta trao phó cho mình một tù nhân, chúng ta bắt buộc phải áp tải tới nơi…
Caldwell hét lên:
– Các anh im cái mồm! Tôi đã nói là ném thằng khốn này ra khỏi xe. Các anh chỉ việc thề là chúng ta bị tụi Macchabée chặn lại và cứu thoát hắn là xong. Nếu anh nào sau này phản tôi, anh đó sẽ chấm dứt cuộc đời trong một cái hố với một viên đạn trong đầu. Hiểu rõ rồi chứ?
Hai người lính sợ hãi, ưng thuận
Khi qua làng, ngang qua quán cà-phê xe chạy chậm lại một khoảng thời gian đủ để mở cửa xe và ném tù nhân xuống. Rồi xe lại rồ ga chạy về hướng Jérusalem.
Mọi sự đã xẩy ra đúng như Caldwell đã dự đoán. Trong khoảng thời gian một giờ, Ben Salomon đã bị tra tấn, xẻo tai mũi rồi chặt đầu. Chừng hai mươi tên Ả-rập tươi cười hí hởn đứng quanh tên chỉ huy để chụp hình, đầu nạn nhân giơ cao. Sau đó, hình này được phổ biến thành hàng trăm bản để cảnh cáo cho dân Do-thái biết số phận sẽ được dành cho họ.
Tuy thế, thiếu tá Caldwell đã phạm một lỗi lầm tai hại. Trong những người Ả-rập đứng ở cửa quán cà-phê nhìn thấy tù nhân bị ném ra khỏi xe, có một đoàn viên của Macchabée.

Đại tướng Haven-Hurst giựt mình vừa đi đi lại lại trong văn phòng, ông vừa đọc đi đọc lại bức thư của Cecil Bradshaw.
“… các biện pháp có thể mang lại ngay trật tự…”
Nếu các quí ông ở Luân-đôn cứ để mặc cho ông làm, thì tình hình hẳn không đến nỗi như thế này. Ông đã chẳng báo trước cho họ cả mười, cả trăm lần rằng cho các tên Do-thái khốn kiếp ấy gia nhập quân lực Anh là nhầm sao? Nhưng Bộ Quốc Phòng không thèm biết tới ý kiến ông. Thế mà bây giờ ở Luân-đôn mọi người còn bàn tới bàn lui! Quả là một sự điếm nhục, ô nhục thực sự!
Mỗi lúc thêm tức giận, đại tướng ngồi vào bàn, viết văn thư phúc đáp.
“Tôi kính đề nghị chấp thuận cho thi hành các điểm sau, những điều mà tôi tin chắc khi đưa ra áp dụng sẽ mang lại an ninh trật tự trong xứ:
1. Hủy bỏ tạm thời các tòa án dân sự. Kể từ giờ, tất cả các vụ xử án đều do vị tư lệnh quân sự quyết định.
2. Giải tán “Trung ương” Do-thái, Quỹ Lập Nghiệp, cùng tất cả các cơ cấu tổ chức Do-thái khác.
3. Thủ tiêu nhanh chóng và bí mật từ năm mươi tới sáu mươi nhân vật quan trọng của phục quốc Do-thái, phương pháp mà hiệu lực đã được chứng tỏ qua vụ mufti tiêu diệt phe đối lập trong Hồi giáo. Việc thi hành biện pháp này có thể giao phó cho một nhóm Ả-rập.
4. Cấm chỉ hoàn toàn báo chí Do-thái.
5. Xử dụng ào ạt Lữ đoàn Ả-rập võ trang của Transjordanie.
6. Bắt giữ chừng vài trăm cấp chỉ huy địa phương của tổ chức Do-thái, cùng đầy họ sang một thuộc địa cô lập bên Phi châu.
7. Chấp nhận trao quyền cho cấp chỉ huy quân sự được tiêu hủy tất cả các kibboutz, moshav, làng hay khu trong thành phố nào mà ta khám phá ra vũ khí. Bố ráp đại qui mô để khám phá ra những di dân nhập nội bất hợp pháp, kế đó cho họ đi đầy.
8. Để trả thù tất cả các hành động khủng bố, phạt toàn thể cộng đồng Do-thái ở Palestine một số tiền lớn đến nỗi họ phải thôi hợp tác với Macchabée.
9. Xử tử ngay (nên xử giảo) tất cả các Macchabée nào bị bắt quả tang khủng bố.
10. Tổ chức những ngày tẩy chay thương mại và nông phẩm Do-thái. Tổ chức kiểm soát gắt gao sự di chuyển của tất cả các xe cộ nào thuộc người Do-thái.
11. Tiêu diệt Palmach bằng cách cho quân đội tấn công các kibboutz mà ai cũng biết là nơi trú ngụ của các đơn vị Palmach này.”

Chathom House
Viện Giao tế Quốc tế
Luân-đôn

Mặt của Cecil Bradshaw đã xám lại. Tướng Tevor-Browne nhận thấy ngay điều đó và đoán được lý do.
– Ngài Bradshaw, ngài đã yêu cầu Haven-Hurst đưa ra các đề nghị. Chắc hẳn là các điều trong thư trả lời của đương sự đã làm ngài khó chịu chăng?
Bradshaw không còn đủ sức để trả đũa giọng mỉa mai của viên tướng nữa. Ông nói bằng một giọng khổ sở.
– Tôi tự hỏi không biết Haven-Hurst có mất trí không. Trời, đọc thư của hắn, tưởng như hắn đã sao chép nguyên văn lại “giải pháp sau cùng” của Hitler. Dĩ nhiên là chúng ta muốn giữ Palestine rồi, nhưng không phải với giá như thế: ám sát, đốt phá làng mạc, xử giảo… toàn những điều kinh tởm. Sir Clarence, Trời làm chứng cho tôi, cả đời tôi đã chiến đấu để cứu vãn Đế Quốc, và đã hơn một lần tôi đã phải dùng tới những biện pháp bất công và hà khắc. Nhưng tôi thành thực tin ở Chúa và luật của Ngài. Nếu chúng ta phải trả giá như thế để giữ được Palestine, thì này, tôi thích chúng ta mất xứ đó còn hơn. Ngoại trừ khi có một kẻ nào khác có cái can đảm thê thảm nhận lãnh trách nhiệm về những cơn khát máu của Haven-Hurst… Còn tôi, tôi xin khước từ.
Ông vò nát bức thư của Haven-Hurst, bỏ vào gạt tàn thuốc rồi châm lửa đốt. Ông nói nhỏ:
– May mắn là chúng ta còn đủ can đảm trả lời cho những tội lỗi của chúng ta.
Vấn đề ủy trị xứ Palestine được mang ra trước Liên Hiệp Quốc.

*

3-7

Vào cuối mùa xuân năm 1947, Ari biến mất hoàn toàn khỏi cuộc đời của Kitty Fremont. Nàng không gặp lại chàng từ chuyến đi leo ngọn Tabor. Và nếu chàng có gửi thư cho nàng qua Jordana, thì cô em gái này cũng chẳng chuyển lại.
Liên Hiệp Quốc cố gắng thành lập một ủy ban gồm đại diện của các nước nhỏ và trung lập để tới điều tra tại chỗ với mục đích để rồi đưa ra khuyến cáo. Các tổ chức Do-thái đã chấp nhận sự điều giải cùng các quyết nghị sau chót của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Còn về các quốc gia Ả-rập, họ xử dụng các phương sách thường lệ – tẩy chay, xăng-ta – để nghiêng cán cân về phía lợi cho họ.
Ở Gan Dafna, mọi người tăng cường việc huấn luyện quân sự. Trại thanh niên trở thành một kho vũ khí. Mỗi khi Karen sung vào một đoàn lo việc chuyên chở lậu vũ khí, Kitty lại run sợ cho nàng. Nhưng nàng cảm thấy nàng không thể nào phản đối được. Hơn nữa càng ngày Karen càng thuộc vào chính nghĩa phục quốc Do-thái hơn.
Nếu trong khi hành sự chức vụ y tá trưởng, Kitty đã lấy được lòng kính trọng thương mến của tất cả mọi người – đặc biệt của bác sĩ Lieberman bây giờ đã hoàn toàn tin cậy vào nàng – thì vẫn còn một bức rào ngăn sau chót tồn tại giữa nàng và các dân khác trong trại. Một bức rào một phần lớn do nàng cố ý dựng lên bằng các xử sự của mình. Nàng chỉ thực sự cảm thấy hoàn toàn thoải mái với tướng Sutherland, bây giờ là khách thường xuyên của trung tâm. Với ông, nàng cảm thấy mình sống trong môi trường thực sự của mình, cảm tưởng mà nàng không bao giờ tìm thấy khi sống với một người Do-thái. Đến nỗi bây giờ nàng sốt ruột chờ đợi một vài kỳ nghỉ để thỉnh thoảng tới sống trong biệt thự của viên cựu tướng già.
Đối với Karen, địa vị của nàng là địa vị của một người chị cả thay thế cho cha mẹ đối với cô em út. Kitty sung sướng khi biết mình là tối cần thiết cho Karen: mặc dù trao đổi rất nhiều thư từ với gia đình Hansen, Karen không thể tưởng tượng tới việc có thể một ngày kia trở về Copenhague, và các công cuộc tìm kiếm người cha vẫn chưa đạt kết quả nào. Còn về Dov, bao giờ cũng ủ ê, luôn luôn bị những cơn lãnh đạm và tuyệt vọng, và vẫn nhận sự ân cần của thiếu nữ mà không bao giờ đền đáp lại gì. Thành thử càng ngày Karen càng bám vào người bạn gái lớn tuổi của mình. Đối với Kitty, sự quyến luyến này là yếu tố hay nhất: có lẽ rằng một ngày kia lòng quyến luyến này sẽ thắng được địch thủ ghê gớm là sự quyến rũ mạnh mẽ của xứ Israël.
Khi mùa mưa chấm dứt và tháng năm tới, thung lũng và đồi núi đều bao phủ bằng một tấm thảm xanh điểm hoa rừng, Gan Dafna chuẩn bị ăn mừng hoa lợi đầu mùa.
Ngay từ buổi sáng, hàng dẫy xe vận tải chở đầy quan khách đã tiến lên Gan Dafna. Họ đến từ Yad El, từ các kibboutz biên thùy Liban, từ phía bên kia hồ và các nơi xa tiếp giáp với Syrie. Tuy vậy chính bác sĩ Lieberman đã đưa ra nhận xét này bằng một giọng e ngại – phía đoàn Ả-rập của làng Abou Yesha đã ít người hơn năm ngoái, và mouktar Taha thì cho rằng mình không cần đến dự. Ngược lại, có rất nhiều quân sĩ của đồn Esther, những bạn thân bao giờ cũng báo trước cho trại biết mỗi khi có toán quân nào tới lục soát trung tâm, kiếm vũ khí.
Trình diễn súc vật, thi điền kinh, vũ điệu bình dân – ngày lễ trôi qua trong một bầu không khí vui vẻ và cuồng nhiệt. Đêm xuống, tất cả ra dự đêm kịch nhạc trình diễn ngoài trời. Trên sân khấu, các đèn rọi đang chiếu sáng một vũ điệu ballet thiếu nhi, diễn tả lại cuộc đời của Ruth, người thiếu nữ Moabite đã lấy người Do-thái Booz.
Vai Ruth do Karen đóng. Cổ họng thắt lại, Kitty nghe nàng nói những lời nổi danh của một lòng chung thủy không gì bôi xóa được.
“Chàng đi đâu, thiếp theo đó; nơi nào chàng ở là nơi thiếp ở. Dân tộc chàng sẽ là dân tộc của thiếp, và Thượng đế của chàng là Thượng đế của thiếp.”
Kitty nhắm mắt lại. Một ngày kia liệu nàng có đủ sức nói với thiếu nữ: “Dân tộc của em là dân tộc của tôi, Chúa của em là Chúa của tôi”? Và nếu nàng không đủ sức, liệu nàng có cam chịu mất Karen hay không?
Nàng giật mình khi cảm thấy có người đặt tay lên vai mình. Viên thư ký của bác sĩ Lieberman nói nhỏ:
– Xin mời lại ngay văn phòng bác sĩ cho.
Lo ngại mơ hồ, nàng đi theo người đó. Vừa mở cửa văn phòng nàng đã thốt lên sợ hãi:
– Trời ơi! Chuyện gì vậy? Bác sĩ có vẻ như vừa trông thấy…
– Mọi người đã tìm thấy cha của Karen.

*

3-8

Ngày hôm sau, Kitty và Karen đến Tel-Aviv bằng xe của tướng hồi hưu Sutherland. Kitty chỉ nói cho cô gái biết là nàng cần đi mua bán nhiều thứ nên lợi dụng dịp này để đưa Karen đi thăm thành phố luôn. Đến nơi vào khoảng buổi trưa, hai người thuê một phòng ở khách sạn Gat Rimon ven biển. Ngay sau khi tướng Sutherland đã cáo từ ra về, hai người ra bãi biển tắm, thật là thoải mái sau cơn nóng nực khi đi đường.
Vào xế chiều, một chiếc taxi đưa hai người đến chợ trời Jaffa: một dẫy cửa hàng dài bất tận đào sâu ở trong một bức tường thành xây từ thời các Thập tự quân. Hai người chọn một cửa hiệu đầy kín bát chén bằng đồng: lọ, chảo, đĩa nhiều hàng trăm cái, đủ hình dạng, kích thước. Chủ nhân, một dân Ả-rập mập bệu đang ngủ gà ngủ gật thấy khách vào vội cười tươi, chào hỏi rối rít. Hắn ra lệnh cho con trai mang cà-phê tới, và Kitty cùng Karen vừa nhấm nháp cà-phê, vừa cố gắng bắt chuyện – một cách vô ích- cả hai người cộng lại nói được bẩy thứ tiếng khác nhau, nhưng chủ tiệm lại chỉ biết tiếng thứ tám: tiếng của ông ta. May mắn thay đứa con trai sau cùng khám phá ra trong đường bên cạnh nhà thông ngôn chính thức của khu chợ này, kẻ biết nói tiếng Anh, dĩ nhiên không phải thứ tiếng Anh của Shakespeare, nhưng cũng còn gần như hiểu được.
Bây giờ mọi người có thể bắt đầu vào chuyện đứng đắn. Kitty và Karen lục soát cẩn thận cửa tiệm, làm tung cả đám mây bụi, cạo từng lớp đất bẩn cáu ngoài các đồ vật để xác định mức độ đồ cổ. Sau bốn mươi lăm phút, hai người đã thu thập được một lô gồm hai cái bình, ba bình pha cà-phê Ả-rập rất đẹp và dễ thương, một cái mâm Ba-tư vĩ đại mà các hình khắc thuật lại cuộc diễn biến của một huyền thoại. Kitty quay lại người thông ngôn:
– Anh hỏi xem ông chủ tính bao nhiêu, sau khi đã lau chùi đánh bóng kỹ và trao tại khách sạn.
Ngay lập tức thông ngôn và chủ tiệm lao vào một cuộc tranh luận hết sức hăng hái. Cứ nhìn các cử chỉ, các khoa chân múa tay, có thể tưởng là hai người sắp túm lấy tóc nhau đến nơi. Sau cùng, người thông ngôn lắc đầu, thở dài:
– Ông Akhim đáng thương này, ông tan nát cõi lòng. Thấy các báu vật ra đi, ông buồn, rất buồn. Cái đĩa Ba-tư – ông thề có Allah – đã cổ đến ba trăm năm. Nhưng đối với phu nhân đây cùng tiểu thư, ông Akhim cũng xin đưa một giá. Mười sáu livre sterling tất cả.
Kitty thì thào vào tai Karen.
– Hắn tự ăn cắp của chính hắn, tội nghiệp chưa. Rẻ quá sức.
Karen phản đối:
– Cô không trả giá hắn đòi chứ! Nếu cô không muốn làm hắn mất vui buổi chiều nay, cô phải mặc cả đi cô!
– Không có dại mà mặc cả. Tôi lấy tất và ôm đi luôn thật lẹ. Ở Hoa-kỳ, riêng cái khay thôi cũng giá ba trăm đô-la rồi.
– Cô đừng làm thế cô!
Karen cương quyết bước lại trước chủ nhân Akhim làm nụ cười đang nở trên môi ông tắt hẳn. Karen nói bằng một giọng chắc nịch:
– Chín livre, không thêm một penny nào.
Viên thông ngôn dịch. Akhim giơ tay lên trời. Sau nhiều than vãn như khóc và nhiều nghiến răng bứt tóc, ông bằng lòng hạ giá xuống mười ba livre. Quả thực ông không thể hạ hơn được nữa, ông có một gia đình phải nuôi, chưa kể nỗi buồn của ông khi phải rời xa những cổ vật vô giá này…
Đến mười hai livre mười shilling, ông đành chịu. Kitty cho địa chỉ khách sạn và hứa sẽ thanh toán khi đồ vật mua đã được mang đến nơi “sau khi đã được lau chùi và đánh bóng đến mức coi được”. Viên thông ngôn được thưởng một nụ cười và một món tiền hậu hĩnh. Sau cùng hai người ra đi để tiếp tục thám hiểm con đường đầy rác rưởi và các đồ vật thần tiên của Đông phương.
Đột nhiên một người đàn ông có vẻ một sabra lại gần Karen, nói nhỏ vài câu vào tai rồi đi xa.
– Hắn muốn gì em đó?
– Chắc hắn nhìn bộ đồng phục biết em là người Do-thái. Hắn khuyên chúng ta nên lập tức trở về Tel-Aviv. Sắp có lộn xộn ở đây. Chắc đó là một đoàn viên Macchabée.
Kitty lo cuống, thì thào:
– Chúng ta về, lẹ lên.
Kitty chỉ yên tâm khi về đến đại lộ Rothchild với vỉa hè rộng trước những căn nhà kiểu tối tân nhất, các dẫy xe chạy dài, các bộ hành rảo bước như trong các đô thị lớn. Karen nhận xét:
– Trái ngược hẳn với Jaffa! Một khi nghĩ rằng tất cả những gì ở đây đều được nghĩ ra, làm ra, tạo ra bởi người Do-thái. Cô không biết được điều này có nghĩa như thế nào với người Do-thái chúng em đâu – một thành phố mà tất cả, toàn thể, đều thuộc về người Do-thái.
Bực dọc, Kitty nói:
– Cô chẳng thấy gì là kỳ lạ hết. Ở Hoa-kỳ, rất nhiều người Do-thái giữ những địa vị quan trọng, họ đều rất sung sướng và tự coi mình như người Hoa-kỳ…
– Nhưng đó là chuyện khác. Ít nhất là ở đây chúng em chắc chắn là đang ở trên đất nước mình, nơi chúng em có quyền thở hít, làm việc và sung sướng theo cách thế của mình.
Kitty thích lảng tránh câu chuyện hơn. Nàng lấy trong ví một mẩu giấy đưa cho Karen.
– Em có biết địa chỉ này ở đâu không? Một người đã cho tôi địa chỉ này…
Đó là một địa điểm cách đó hai con đường, một cửa hàng bán y phục phụ nữ đủ loại. Kitty nói:
– Vào đây đi. Cô định mua cho em một loạt quần áo tối thiểu. Đây là một ngạc nhiên mà cô cùng tướng Sutherland định dành cho em từ lâu rồi.
Karen đứng sững lại.
– Không được đâu cô… em biết nói sao với các bạn em ở Gan Dafna, và em thấy y phục do trại cấp cũng không có gì đáng chê…
– Y phục này rất hợp với Gan Dafna, nhưng…
Karen bướng bỉnh trả lời:
– Em có đủ quần áo dư dùng rồi cô.
Kitty suýt nữa phát cáu: đôi khi Karen ăn nói y hệt như Jordana.
– Thôi, Karen, em đừng quên em đã là một cô gái lớn rồi, một tiểu thư rồi. Thỉnh thoảng em có mặc một chiếc áo đẹp thì cũng không phải vì thế em đã phản bội chính nghĩa đâu.
– Em rất kiêu hãnh về…
Kitty ngắt lời:
– Thôi, xin em. Cả tôi lẫn tướng Sutherland đều kiêu hãnh về em. Như vậy khi em đi chơi với chúng tôi ngoài Gan Dafna, em hãy làm vui lòng bọn tôi bằng cách ăn mặc cho thích hợp, chứ không ăn mặc như một cô sabra man rợ.
Karen vừa tìm cách rút lui, vừa liếc nhìn những quần áo trưng bầy trong tủ kính. Nàng thì thào không mấy tin tưởng:
– Như vậy không mấy tử tế so với các bạn gái của em, cô.
– Nếu em muốn an lòng, cô không cấm em giấu những quần áo mới trong một thùng đựng súng.
Karen không chiến đấu nữa. Năm phút sau, nàng lượn lờ trước gương trong phòng thử quần áo, điên lên vì vui sướng. Những hàng vải này mới êm ái làm sao, những áo này sang trọng làm sao! Trong lúc kích thích này, nàng không để ý đến vẻ ngây ngất của Kitty khi nhìn thấy một thôn nữ biến hình thành một thiếu nữ Tây phương.
Sau cùng hai người rời nhà hàng, hai tay ôm đầy các hộp quần áo. Sau khi dí mũi vào nhiều cửa kính đại lộ Allenby, họ ngồi phịch xuống thềm hiên quán cà-phê đầu tiên của đường Ben Yehouda. Kitty gọi kem. Karen nói, miệng còn dính đầy kem:
– Một ngày tuyệt đẹp! Đáng tiếc là anh Ari và Dov không đi cùng với chúng ta! Cô Kitty, cô biết không, đôi khi em tự hỏi không biết có phải chúng ta đã lạc vào những bến không thích hợp hay không?
– Chúng ta?
– Vâng. Cô với anh Ari, em với Dov.
– Cô chẳng thấy có cái gì có thể mang lại cho em cảm tưởng là giữa tôi và ông Ben Canaan có một liên hệ gì. Dầu thế nào, em cũng nhầm hoàn toàn rồi… cô có thể đoan chắc với em…
Karen cười:
– Em thì em tin chắc đấy cô. Chắc chắn có lẽ tại không hề có liên hệ giữa cô và anh Ari nên cô mới ngoái nhìn đến suýt sái cổ mỗi khi có tiếng xe tiến vào cổng trại.
Kitty càu nhàu, vội vã cầm thìa xúc ăn:
– Im đi cái cô này, cô nói ngu không chịu được.
– Vậy hả cô? Nếu đúng thế thì tất cả mọi người ở Gan Dafna đều ngu như em hết cô ơi. Bởi vì tất cả mọi người ở đó đều biết cô có cảm tình nặng với anh Ari. Còn em, em biết hơn mọi người một điều: Anh Ari, anh ấy cần cô lắm.
Cảm động, Kitty đưa tay vỗ nhẹ vào Karen:
– Tôi muốn được trẻ lại, mười sáu tuổi như em quá! Ở tuổi này, cuộc đời có vẻ giản dị biết bao. Em biết đó, anh Ari đâu có phải là một người như trăm ngàn người khác. Anh thuộc loại siêu nhân mà đức tính tốt nhất và cũng là nhược điểm xấu nhất là hoàn toàn tự tin. Anh chẳng cần bất cứ ai trên đời kể từ khi anh biết xử dụng ngọn roi da của ông bố anh. Còn về huyết thống, trong máu anh pha trộn thép với nước đá lạnh băng, còn về con tim, tim anh xử dụng không hao mòn và không biết xúc động gì hết. Ông Ben Canaan vươn lên trên các xúc động thường tình của nhân loại. Nói tóm lại, em có lý đấy, hai chúng ta đã làm thân con gái trôi nhầm bến nước rồi. Thôi, về khách sạn đi. Em sẽ thay đổi xiêm y, trang điểm cho đẹp, như một nàng công chúa, nhất là em cần phải thanh toán hai cái bín kỳ cục này đi – bởi vì ông Sutherland và tôi còn dành cho em một ngạc nhiên nữa. Bọn tôi đưa em đi dự trình diễn vũ bộ Pháp, vở Lac des Cygnes, tại Viện Kịch trường Quốc gia.
Quả là một buổi tối thần tiên. Karen, hầu như đã quên luôn là còn có các ban vũ ballet, đã ngồi coi say mê, nét mặt biến đổi. Kitty quan sát nàng chăm chú và có cảm tưởng đã khơi dậy trong lòng thiếu nữ những xúc động đã im ngủ từ nhiều năm qua. Rõ ràng là Karen đã khám phá lại được thứ hạnh phúc sâu xa đã được biết từ ngày xưa, một niềm thỏa mãn cũng quan trọng như các cánh đồng và vườn cây vùng Galilée. Kitty quyết định để Karen chỉ bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa phục quốc Do-thái mà thôi: dĩ nhiên chính nghĩa Do-thái đã chinh phục Karen một phần lớn, nhưng trong nàng, vẫn còn tiềm tàng một cái gì mà Israël không bao giờ chiếm nổi.
Rất khuya sau nửa đêm, họ mới trở về khách sạn. Kitty bắt Karen đi ngủ rồi xuống quầy rượu uống một ly chót với Sutherland. Viên cựu tướng hỏi:
– Cô đã nói với cô bé là đã tìm thấy ông cụ của cô bé chưa?
– Chưa.
– Cô có muốn tôi đi cùng với cô sáng mai không?
– Không cần đâu. Nhưng nếu ông muốn có mặt tại đó… sau khi…
– Cô cứ tin cậy ở tôi.
Kitty đứng dậy, và do một xúc động đột ngột, hôn lên má ông bạn già:
– Chúc bác ngủ ngon, bác Bruce.
Nàng đã tắm rửa xong và nằm xuống khi nghe tiếng chân đi nhẹ làm nàng mở mắt. Karen vừa lại quì gối bên giường và đặt đầu lên ngực nàng, nói nhỏ:
– Em yêu cô lắm, em yêu cô biết bao. Nếu cô có là mẹ em, em cũng không thể yêu cô hơn thế được.
Kitty vuốt tóc nàng.
– Đi ngủ đi cưng. Ngày mai hai ta sẽ có một ngày vất vả lắm.
Nhưng chính nàng lại không sao ngủ được. Hút hết điếu này đến điếu khác, sau cùng nàng ngồi dậy ra ngồi bên cửa sổ. Và khi đã hết sức mệt mỏi vào lúc bốn giờ sáng, nàng thiếp đi, giấc ngủ của nàng khó khăn và đầy ác mộng.
Sau khi ăn điểm tâm, và nàng trả lời rất mơ hồ những câu hỏi của Karen về chương trình dự trù cho ngày, thiếu nữ đột nhiên có một linh cảm.
– Cô Kitty… chắc vụ ba của em phải không cô?
– Cô không định giấu em… cô chỉ định tìm cách…
– Em van cô, cô nói cho em biết sự thực đi.
– Ba em đau, hết sức nặng.
Karen đưa một bàn tay run rẩy lên che miệng, thì thào:
– Em muốn gặp ba.
– Chắc ông không nhận ra em đâu.
– Dù thế em cũng vẫn muốn gặp… Em chờ đợi biết bao nhiêu lâu nay rồi… Mỗi tối, khi đi nằm, em tưởng tượng như có ba đứng gần… Ở trại Caraolos, hầu như đêm nào em cũng mơ tới ba… Em xin cô, cô dẫn em tới gặp ba đi, ngay bây giờ.
Ra tới đường, Kitty nắm lấy cánh tay nàng.
– Dù xẩy ra việc gì, em cũng đừng quên là có cô bên cạnh em. Nhớ không…
Viên y sĩ tiếp hai người có vẻ nghiêm trọng.
– Cô Karen, thân phụ cô đã bị Gestapo tra tấn. Chuyện này xẩy ra vào lúc đầu chiến tranh: tụi Quốc xã muốn cưỡng ép ông cụ làm việc cho bọn chúng. Nhưng vì ông kháng cự, chúng cũng đành chịu. Thân phụ cô không thể hợp tác với Quốc xã, với Hitler, ngay khi chúng đe dọa giết thân mẫu cùng các em của cô.
Karen thì thào:
– Bây giờ tôi nhớ được rồi. Ở Đan-mạch, đột nhiên chúng tôi không nhận được thư nhà nữa… Tôi sợ không dám hỏi ông bà Hansen tại sao gia đình tôi không gửi thư sang nữa.
Viên y sĩ nói tiếp:
– Họ gửi thân phụ cô đến trại Theresienstadt, trong khi bà cụ và các em thì…
– Tôi biết.
– Tụi Quốc xã hy vọng là ở Theresienstadt, “trại kiểu mẫu”, sau cùng ông cụ sẽ đổi ý kiến. Sau chiến tranh, ông cụ biết tin bà cụ và các con đã chết. Ông cảm thấy mình có lỗi: chính tại ông đã chần chờ, tìm cách rời nước Đức quá trễ nên vợ con mới chết như thế. Cảm thấy phạm tội này, cộng với các hậu quả của tra tấn, đã làm ông mất trí. Tôi có thể diễn tả như thế này: dù ông còn sống, ông cũng không còn là ở thế gian này nữa.
– Tình trạng của ông liệu có thể khá hơn sau này không?
Viên y sĩ quay về phía Kitty.
– Suy sụp tinh thần… Một trường hợp bệnh buồn cực độ…
Karen ngắt lời:
– Những chữ đó đúng ra có nghĩa là gì?
– Là thân phụ cô không bao giờ tỉnh trí được nữa.
– Tôi không tin. Tôi muốn gặp ba tôi.
– Liệu cô còn nhớ ông cụ không?
– Mơ hồ thôi.
– Tốt hơn, cô nên giữ một cách cẩn trọng những kỷ niệm mơ hồ ấy còn hơn nhìn thấy ông cụ trong tình trạng hiện giờ.
Kitty can thiệp:
– Không được, bác sĩ. Phải để cho nàng gặp ông ấy, dù cuộc gặp gỡ này có làm đau đớn hết sức. Không thể nào để vấn đề lơ lửng không giải quyết.
Viên y sĩ đưa hai người qua một hành lang rồi ngừng trước một cánh cửa khép kín. Ông mở cửa cho hai người rồi lảng ra.
Karen tiến vào một căn phòng nhỏ, chỉ có một ghế bành, một lavabo, một giường. Nàng tiến một hai bước, nhìn quanh quẩn rồi đột nhiên sững sờ. Trong một góc phòng, một ông già đang ngồi bệt dưới đất. Chân không, tóc bù xù, ông vòng tay ôm đầu gối, nhìn lơ đãng thất thần vào khoảng tường đối diện.
Karen tiến lại, nàng thấy người này râu không cạo, mặt đầy sẹo. Đột nhiên Karen cảm thấy tim nàng bớt đập mạnh. Nàng nghĩ: “Chắc lầm rồi, lầm một cách thảm hại… Người này không phải bố mình… mình không hề nhận ra…” Nàng nghiêng người để dò xét cặp mắt vẫn nhìn vào tường đối diện. Xa quá, xa xôi quá sức, nàng không sao nhớ lại nổi… Nhưng chắc chắn kẻ này không phải là kẻ nàng vẫn gặp trong các giấc mộng.
Chậm chạp, nàng quỳ gối xuống trước con người đang ngồi bất động, mất trí.
Có một cái lò sưởi lớn, và căn phòng thơm mùi thuốc hút từ ống điếu của ba tỏa ra. Không giống như ở nhà ba, nơi bao giờ cũng thơm một mùi bánh ngọt.
Ô ba này, hãy nhìn lũ khỉ! Chúng ngộ quá ta! Có thật là ở Cologne chúng ta có một sở thú đẹp nhất thế giới không ba?
Lo lắng, nàng dò xét cái xác người chân trần, trán đầy những vết sẹo không đều này. Không có gì… không có một chi tiết nào làm cho nàng nhớ lại được ba nàng cả. Đưa tay ra, nàng vuốt nhẹ má người đang ngồi.
– Ba, ba ơi!
Không có một phản ứng nào cả.
Có một đoàn tầu lớn và rất nhiều trẻ con phải khởi hành đi Đan-mạch… “Chào ba, ba cầm này, cầm con búp bê của con.” Nó sẽ coi sóc ba. Qua cửa kính toa tầu, nàng nhìn thấy ba, đứng trên sân ga, nhỏ dần và cứ nhỏ dần.
Nàng nghiêng mình xuống thấp hơn nữa.
– Ba ơi ba! Con đây. Karen đây, con gái ba đây. Con đã lớn nhưng vẫn là con gái của ba. Ba cố nhớ lại đi, ba!
Ngoài hành lang, viên y sĩ đang nắm lấy tay Kitty đang run rẩy từ đầu đến chân.
– Để tôi vào, tôi phải ở gần Karen, buông tôi ra, bác sĩ!
– Không được đâu, bà Fremont. Cần phải để thảm kịch này diễn ra tới hết, nếu bà muốn cô bé thoát ra và quên đi được sau này.
Karen, nàng nhớ lại được những kỷ niệm đã tưởng quên đi vĩnh viễn rồi. Những cử chỉ, vài câu nói… Đúng rồi, nàng không còn ngờ gì nữa, đây chính là ba của nàng… Karen hét lên, vòng tay ôm quanh cổ ông:
– Ba! Ba! Nói với con đi ba… nói với con một câu đi ba, bất cứ câu gì… nhưng ba nói đi, nói với con đi!
Kẻ sống như chết rồi, xưa kia là giáo sư Johann Clement ấy, mấp máy cặp mắt như bị chói ánh sáng. Khi nhận thấy có một người lạ đang ôm mình, ông tỏ ra tò mò. Vẻ ngạc nhiên này xuất hiện trong vài giây. Hình như ông đang cố gắng ghi nhận một tia sáng chiếu vào khoảng trống rỗng tối đen đang bao quanh mình. Rồi đột nhiên, tia sáng lại tắt phụt. Karen hét lên:
– Ba! Ba… đừng bỏ con, ba…
Viên bác sĩ phải cố gắng mới lôi được Karen ra khỏi ông già vẫn ngồi thù lù trong góc. Ông dịu dàng đưa nàng trở ra hành lang. Một nữ điều dưỡng đóng cửa phòng, khóa lại và Johann Clement đã mất con gái mình – có lẽ là cho mãi mãi. Khóc nức nở, Karen gục vào vòng tay Kitty.
– Ba không nhận ra cả em nữa… Trời ơi, tại sao, tại sao lại có thể như vậy được.
– Cố trấn tĩnh lại đi em. Cô có đây mà, ôm lấy cô đi.
– Cô đừng bỏ em nhé cô, hứa là đừng bao giờ bỏ em!
– Em biết rõ là không bao giờ cô rời em cả mà…

*

3-9

Tấn thảm kịch được tin về tới Gan Dafna trước khi Kitty và Karen về đến nơi. Đối với Dov Landau, đây là một xúc động mạnh cho chàng. Kể từ ngày rất xa xôi anh Mundek đã ôm chàng vào lòng trong một căn hầm ở Varsovie, Dov chỉ biết xót thương chính thân mình. Bây giờ lòng thương xót cho Karen đã soi sáng cả vũ trụ tối tăm chàng đã thu hình vào.
Karen, người duy nhất trên đời chàng yêu… tại sao số mệnh lại độc ác với nàng như vậy? Nhưng chắc chắn nàng không cô đơn, nàng còn có bà Fremont… và chính chàng. Bây giờ cha nàng đã bị gạt bỏ hẳn vĩnh viễn, vùi sâu trong phòng nhỏ ở bệnh viện thần kinh, có lẽ nàng sẽ chấp nhận theo bà Fremont sang Mỹ.
Điều đó có nghĩa là chàng, Dov, là một trở ngại, một cái cùm xích mà chàng nhất định quấn vào chân. Karen sẽ không bao giờ rời chàng. Như vậy, chính chàng phải rời bỏ nàng.
Một trong những thanh niên trong trại, Mordechaï, là nhân viên tuyển mộ người bí mật của Macchabée. Dov đã thành công trong việc làm Mordechaï chịu đưa đủ tin tức chỉ dẫn để chàng liên lạc được với tổ chức Macchabée. Chặng đường còn lại rất dễ dàng: các nhà của giáo sư cùng huấn luyện viên không bao giờ khóa. Một đêm, khi tất cả mọi người đang ăn cơm, Dov lẻn vào trong ba bungalow và vơ vét một số nữ trang.
Một giờ sau chàng lẻn ra khỏi trung tâm để trốn về Jérusalem.

Thể theo lời khẩn khoản thân hữu của Sutherland, Kitty và Karen đến cư ngụ tại biệt thự của viên cựu tướng cho Karen có đủ thời gian và hoàn cảnh để dịu bớt nỗi đau khổ.
Karen chịu đựng nỗi buồn của mình với cùng thứ tâm trạng mà nàng đã có nhiều dịp chứng tỏ trong đời – một khoảng đời ngắn ngủi mà nàng đã có quá nhiều thảm kịch và đau khổ. Kitty không rời nàng một bước, đối với Kitty, sự mất trí của cha Karen và vụ Dov mất tích là cả một chiến thắng cay đắng đối với nàng. Bây giờ nàng tin chắc rằng một ngày kia, nàng sẽ đưa Karen về Hoa-kỳ. Nàng thù ghét mình vì thế nhưng cũng không thể đồng thời ngăn cản mình vui mừng vì tình trạng đã xẩy ra. Kể từ khi gặp Karen lần đầu ở trại Caraolos, cả cuộc sống của nàng quanh quẩn bên cạnh thiếu nữ này.
Một ngày nọ, sau buổi cơm trưa, hai người ngạc nhiên khi thấy Ari Ben Canaan. Ari ngồi chờ trong phòng làm việc cho tới khi Sutherland bước vào. Họ bàn chuyện với nhau trong một giờ. Khi Ari sắp cáo từ, Sutherland giữ chàng lại.
– Tôi hiện đang có một người bạn gái rất thân tới thăm viếng, đó là bà Fremont, một trong những phụ nữ đáng chú ý và đáng khen nhất tôi được gặp từ trước tới giờ. Ở Gan Dafna, bà ta đã thực hiện được nhiều vụ chữa trị như có phép mầu đối với một số đứa trẻ bị rối loạn thần kinh. Một trong các bệnh nhân, một chú bé cách đây sáu tháng còn không nói được, bây giờ đã diễn tả được bằng lời như anh và tôi. Hơn nữa, chú bé đó bây giờ còn sắp chơi kèn đồng trong ban nhạc của trung tâm.
– Tôi cũng đã được nghe nói tới…
– Gần như là tôi đã đòi hỏi bà ta phải tới tạm thời ở đây cùng cô bé Karen. Cô bé đáng thương chỉ tìm lại được cha mình sau khi người cha đã mất trí. Dĩ nhiên cô bé xúc động mạnh lắm. Anh lại đây chào họ.
– Rất tiếc, nhưng quả thật tôi không có thì giờ.
– Không lẽ anh lại nói với tôi là anh lập thời dụng biểu tính sát tới từng năm phút một.
Nắm lấy tay Ari, Sutherland gần như kéo chàng ra hiên, nơi Kitty và Karen đang nằm dài dưới ánh sáng mặt trời. Kitty, không gặp lại Ari kể từ chuyến leo núi Tabor, thấy buồn khi chàng thay đổi một cách rất lạ: mặt để râu mấy ngày chưa cạo, quần áo nhầu nát, Ari có vẻ lơ là cẩu thả một cách đặc biệt. Ngược lại, chàng tử tế với Karen đến độ làm cho nàng ngạc nhiên. Phải chăng con người thép này chỉ dành tình thương mến của mình cho người đồng chủng mà thôi chăng? Bực tức, nàng ý thức rằng cứ xét từng lời nói, từng cử chỉ dưới khía cạnh duy nhất tương quan với Do-thái giáo, nàng đã đi tới chỗ thường gán cho những lời ám chỉ đơn giản những ý nghĩ thường chỉ là do óc tưởng tượng của nàng.
Một lát sau, nàng đi dạo cùng chàng trong vườn hồng của Sutherland. Đến đầu con đường nhỏ, họ ngồi xuống một bức tường thấp, phía bên kia tường là thung lũng dốc thẳng xuống.
– Anh Ari, cho tới giờ tôi chưa bao giờ yêu cầu anh giúp cho tôi việc gì. Ngày hôm nay, tôi sẽ có việc nhờ anh giúp đỡ.
– Cô biết là tôi sẽ hết lòng.
– Tôi tin chắc là Karen sau cùng sẽ vượt qua được nỗi thống khổ vì biết cha nàng đã điên. Nhưng nàng vừa bị một xúc động thứ hai khó mà vượt qua được. Dov Landau đã trốn khỏi trại, chắc là để đi gia nhập vào đoàn Macchabée. Đối với Karen, Dov là một người cần được cứu giúp và chỉ có nàng mới làm nổi việc này mà thôi. Tôi biết là con bé lo cho Dov đêm ngày. Tôi xin anh kiếm Dov – anh có những đường liên lạc cần thiết – và đưa hắn trở về Gan Dafna. Hắn sẽ trở về nếu anh có thể thuyết phục hắn tin là Karen đang cần tới hắn.
Ari tò mò nhìn nàng.
– Quả thực cô làm tôi ngạc nhiên không hiểu. Ngày hôm nay cô bé này thuộc về cô. Trở ngại duy nhất cho cô là anh chàng Dov đã tử tế biến đi ấy. Cô còn muốn gì hơn nữa.
– Đáng lẽ ra tôi phải bất bình với những gì anh vừa nói. Nhưng tôi đã không thế bởi vì anh đã có lý. Đáng tiếc thay là tôi không thể, không bao giờ có thể xây dựng hạnh phúc của tôi trên bất hạnh khổ đau của kẻ khác. Điều đó nghĩa là tôi không thể đưa Karen về Mỹ ngày nào vấn đề Dov chưa được giải quyết.
– Quả là những luận cứ rất cao đẹp.
– Cứ cho là ích kỷ sáng suốt đi. Bình thường Karen có lương tri, trừ ra đối với những gì liên quan tới Dov. Ai trong chúng ta cũng có điểm yếu phải không anh? Con bé sẽ chóng quên buồn nếu biết Dov ở Gan Dafna. Trong khi nếu cứ biết Dov ở trong đoàn Macchabée, Karen sẽ gắn hào quang cho hắn đến mức độ quá đáng.
– Mong cô tha lỗi cho tôi về câu nói này: cô khôn khéo lắm. Cô thu xếp sao cho Karen không thể còn một lựa chọn nào khác, ngoài một nơi ẩn trú duy nhất: là ở gần cô.
– Tôi không thích tí nào vài chữ anh vừa nói. Thành thật mà nói, tôi có hành động xấu trong khi tìm cách đưa Karen về Mỹ?
– Không. Chắc chắn là không rồi.
– Nếu như thế thì anh đưa Dov trở lại Gan Dafna đi.
Ari không trả lời ngay. Sau cùng, chàng nói:
– Điều cô nhờ, tôi không thể làm được.
– Với người khác kia, không phải anh. Dov rất kính trọng anh mà.
– Ồ! Chắc chắn là tôi có thể tìm thấy hắn. Tôi còn có thể bắt hắn trở về Gan Dafna nữa. Nhưng vấn đề không ở chỗ đó. Dov đã quyết định, như bất cứ một người Do-thái Palestine nào, sớm hay muộn, đã phải quyết định, tùy theo lương tâm của mình đòi hỏi. Về điểm này, các tình cảm cá nhân có một giá trị quan trọng ghê gớm. Chính vì đã có những quyết định trái ngược hẳn nhau mà cha tôi và chú tôi đã không thèm nói với nhau một lời từ mười lăm năm qua. Còn về Dov Landau, thái độ của hắn dễ hiểu lắm: toàn thể con người hắn đều kêu gào báo thù. Thứ đam mê cuồng nộ thúc đẩy hắn lao về phía trước mạnh đến nỗi chỉ có Thượng đế, hay một viên đạn thôi, mới chặn hắn lại được.
– Nghe anh nói, có thể tưởng là anh ủng hộ các tay khủng bố!
– Đôi khi tôi tán thành họ, đôi khi tôi kết án họ. Nhưng, không phải vì thế mà tôi cho tôi cái quyền phán xét họ. Dov, hắn đã chịu quá nhiều khổ đau để có thể thuộc thẩm quyền xét đoán của một tòa án thường. Vả lại, tôi nghĩ là cô lầm: trở về Gan Dafna, Dov chỉ làm tăng thêm nỗi đau buồn của Karen mà thôi. Vậy chúng ta cứ để hắn hành động theo chiều hướng hắn cho là phải.
Kitty đứng dậy, đưa tay vuốt lại cho thẳng chiếc áo, nói nhỏ:
– Có lẽ anh có lý đấy.
Sutherland tiến ra gặp hai người ở vòng rào. Trước lời mời khẩn khoản thân hữu, Ari hứa sẽ trở lại dùng cơm tối. Hai người nhìn chàng lại ra đi trong chiếc Fiat cũ kỹ. Kitty nhận xét:
– Anh ấy có vẻ kiệt lực rồi.
Sutherland cãi:
– Tôi không thấy thế. Tôi còn thấy anh ta rất sung sức là khác, đối với một kẻ làm việc một trăm mười giờ một tuần lễ.
– Tôi chưa hề thấy ai tận tụy như thế bao giờ. Ngoại trừ trường hợp có lòng cuồng tín chăng? Tôi ngạc nhiên khi được gặp anh Ari ở đây, bác Bruce ạ. Tôi không biết là bác lại dính dấp vào loại công cuộc đó đấy.
Sutherland nhồi thuốc vào ống điếu một cách phương pháp:
– Cô nói dính dấp thì không đúng. Cách đây một thời gian, Haganah có yêu cầu tôi ước tính giùm lực lượng của các đạo quân Ả-rập quanh Palestine, đây là một công việc của một chuyên viên, hoàn toàn khách quan. Nhân tiện đây, cô Kitty, cô không thấy là đã đến lúc cô thử thành thực đối với chính mình sao?
– Tôi đã nói với bác là tôi khước từ việc dấn thân, dù cho bất cứ phe nào.
– Nói tóm tắt thì đó là chính sách đà điểu. Cô đứng giữa chiến trường mà cô vẫn cứ ngoan cố kêu lên: “Đừng bắn vào nhà tôi, quý vị không thấy là tôi đã đóng các cửa lại rồi sao!”
– Dầu thế nào tôi cũng sắp rút lui ra khỏi trận địa, bác ạ.
– Trong trường hợp như thế, tốt nhất cô nên rút lui gấp. Cô đừng có tin là cô có thể tiếp tục mãi mãi đứng trung lập đâu.
Kitty thốt lên một tiếng thở dài.
– Tôi không thể nào ra đi ngay lập tức được. Chưa kể nỗi xúc động mạnh Karen đang chịu đựng, tôi cũng chưa tin chắc nó có thể ra đi cùng tôi bây giờ, khi thì tôi có cảm tưởng là đã giải thoát được con bé ra khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa phục quốc, khi thì – như lúc này chẳng hạn – tôi run lên khi nghĩ tới việc phải đặt vấn đề đó ra với nó.
Trong bữa cơm chiều, Ari cho mọi người biết là ngày mai chàng định lên vùng ven hồ Tibériade.
– Cô đến đó bao giờ chưa Kitty?
– Chưa. Cho tới giờ tôi ít có dịp khám phá xứ này.
– Đó là một chuyến đi chơi rất đẹp. Cô nên thực hiện bây giờ đi. Vài tuần nữa, tiết trời sẽ quá nóng.
Karen đề nghị:
– Sao chú không đưa cô Kitty đi theo?
Một im lặng ngượng nghịu bao trùm mọi người. Ari cất tiếng:
– Ý kiến hay đấy. Tôi có thể thu xếp để được nghỉ ít ngày. Hay chúng ta đi cả bốn người?
Karen lắc đầu:
– Không có em rồi đó. Em tới đó hai lần rồi.
Sutherland vội vàng nói hùa theo:
– Tôi cũng không nốt anh bạn trẻ ạ. Có lẽ tôi đã ngắm hồ ấy tới cả chục lần.
Karen quay lại với Kitty:
– Thôi, cô cứ việc đi với chú Ari đi.
– Cô không muốn rời xa em…
Sutherland can thiệp:
– Đó không phải là một lý do! Karen và tôi hợp nhau hết sức, hai chúng tôi sẽ rất hài lòng khi không có hai ông bà ở đây. Còn về ông bạn trẻ Ben Canaan của tôi, rõ ràng ông ta đang cần bỏ yên xếp giáp một thời gian.
Kitty bật cười:
– Anh Ari nghe mọi người nói không đấy! Cứ như là hai nhân viên môi giới sở hôn nhân vậy. Ông Ari đáng thương ơi, tôi đang có cảm tưởng là mọi người đang giăng bẫy bọn mình đó.
Ari quả quyết:
– Tôi không than phiền tí nào việc đó đâu, Kitty.

*

3 -10

Hai người đến ven hồ qua thung lũng Genossar nằm dọc bờ phía bắc. Bên kia là mặt nước hồ như gương, các đường vòng của ngọn đồi khô khan xứ Syrie như đang rung rinh trong không khí nóng bức.
Tại khoảng ven hồ cong về phía nam, Ari đưa Kitty tới viếng di tích của giáo đường Capharnahum. Thị trấn mà xưa kia Đức Ki-tô giảng đạo, đã chữa khỏi những người bệnh kinh niên. Thiếu phụ ngạc nhiên khi thấy mình nhớ lại những lời kinh mà nàng tưởng mình đã quên mất rồi: Đức Ki-tô, khi đi dạo ven hồ, thấy hai anh em một nhà kia, người anh tên là Simon, thường được gọi là Pierre, và người em là André, hai người đang tung lưới trên mặt hồ… Rồi hai người tiến vào Carpharnaum, và đúng vào ngày sabbat, Đức Ki-tô tiến vào giáo đường và bắt đầu thuyết pháp…

Ta có thể nói là hình như Đức Chúa chưa bao giờ rời nơi chốn này. Ven bờ nước, các ngư phủ vẫn tung lưới, các con dê đen vẫn ngậm ngọn cỏ hiếm hoi, thời gian hầu như bị xóa nhòa.
Sau đó Ari đưa nàng đến giáo đường xây cất để đánh dấu chỗ đã xẩy ra phép mầu. Một miếng bánh hóa thành nhiều bánh. Những hình khảm trên đất tượng hình các con chim cốc, cò và vịt trời – cũng vẫn thứ chim hiện nay còn sinh sống ven bờ hồ này.
Rồi hai người trèo lên ngọn Béatitudes, nơi Đức Ki-tô đã thuyết pháp Bài giảng Trên Núi:
Sung sướng thay cho những kẻ bị đọa đầy vì công lý bởi vì vương quốc trên trời thuộc về họ. Sung sướng thay cho các con khi người ta mạ lỵ các con, truy lùng các con, người ta nói dối bằng đủ mọi cách để thóa mạ các con, vì Ta. Các con hãy vui đi vì thế, bởi vì phần thưởng của các con sẽ lớn ở trên trời. Người ta đã đọa đầy các vị tiên tri tiền bối của các con như thế đấy.

Những lời của Ngài, đọc trên đỉnh ngọn đồi này… Khi đi thăm những thánh địa Ki-tô, Kitty nghĩ rằng Ari Ben Canaan, David Ben Ami, và cả Karen nữa sống trong một niềm thân cận với Chúa trong đó nàng bị loại trừ. Đó là một ý nghĩ làm nàng khổ sở đến nỗi nàng ít chú ý đến ngôi làng Ả-rập Migdal, nơi Marie Madeleine đã sinh ra đời, cũng như chẳng buồn ngó kỹ Cornes de Hattine, nơi chôn Jethro, anh vợ của Moïse. Nàng chỉ ra khỏi sự trầm tư đau đớn khi thấy một vùng đỏ chói: một thảm hoa dại, cánh đỏ chói huy hoàng.
– Anh Ari, ngừng lại một chút đi.
Nàng xuống để hái một bông. Nàng đưa lên ngắm nghía gần hơn rồi đột nhiên ánh mắt e sợ, giọng run rẩy:
– Tôi chưa bao giờ thấy một cái gì tương tự.
– Tất nhiên rồi: loài hoa này chỉ mọc lên ở đây, trong cánh đồng này. Chúng tôi gọi chúng là “Máu của Macchabée” vì các Macchabée trong lịch sử đã sống trong các hang động vùng này.
Kitty vẫn nhìn đăm đăm bông hoa: trông nó giống như một chùm các giọt máu dính lại với nhau. Đột nhiên, nàng buông nó ra rồi chùi tay vào váy.
Xứ này, với vô vàn kỷ niệm xưa cũ, đang xâm chiếm nàng để đoạt hồn nàng, như cốt để làm nàng đau khổ hơn nữa. Đột nhiên nàng sợ. Ngoại trừ khi rời bỏ ngay Palestine, nếu không nàng sắp rã rời buông mình vào các cánh tay bạch tuộc vô hình đang tìm cách quấn chặt lấy để tiêu hủy nàng.
Sau khi đã đi qua thành cổ của Tibériade với những căn nhà làm bằng các khối đá basalte đen, họ dừng lại trước khách sạn Galilée. Trong bữa cơm trưa, Kitty rất ít nói. Nàng hối tiếc là nàng đã tới đây. Ari nói:
– Tôi chưa dẫn cô đến coi thánh địa linh nhất trong những thánh địa.
– Cái gì vậy?
– Kibboutz Shoshannah. Nơi tôi sinh ra đời.
Kitty đã cười sau câu nói của Ari. Hiển nhiên là chàng đã đoán được tâm trạng rối loạn của nàng nên đã cố làm cho nàng vui lên. Nàng hỏi:
– “Thánh địa” này nằm ở đâu vậy?
– Cách đây vài cây số, đúng chỗ sông Jourdain đổ vào hồ Tibériade. Nói cho đúng, tôi suýt nữa ra đời ở Tibériade, trong đồn cảnh sát Thổ-nhĩ-kỳ.
Chàng đột nhiên đổi đề tài:
– Về mùa đông, thị trấn này tràn ngập du khách. Bây giờ còn quá nóng. Hay chúng ta ra lao xuống hồ tắm, Kitty?
– Ý kiến hay nhất thế kỷ!
Gần khách sạn, có một cầu tầu tiến ra hồ chừng bốn mươi thước đến tận chỗ nước sâu. Ari ra trước. Vài phút sau mới xuống, Kitty không ngăn được mình thán phục bộ ngực cứng, đầy bắp thịt mạnh mẽ của Ari, không có lấy một chút mỡ nào.
Chàng vui vẻ vẫy tay.
– Cô liệu có đủ sức ra tới cái bè ngoài kia không?
Tinh nghịch, nàng nhận lời:
– Thách xem ai tới trước.
Cởi áo khoác ngoài, nàng đội mũ bơi lên. Ari nhìn thẳng vào nàng. Thân thể Kitty không có vẻ khỏe mạnh với những nét của các thiếu nữ sabra, thân hình của nàng dịu hơn, tròn trĩnh hơn, hoàn toàn hòa hợp đều đặn.
Mắt hai người gặp nhau để rồi vội vã rời nhau, ngượng nghịu mơ hồ. Kitty lấy đà rồi nhẩy xuống nước. Ari bắt chước nhẩy theo. Chàng ngạc nhiên khi thấy vất vả mới đuổi kịp nàng. Kitty bơi sải rất đều, không phí sức. Thở hổn hển, vui cười, hai người leo lên bè. Ari nói:
– Tôi đã tưởng cô sẽ thắng tôi lúc nẫy.
– Đáng lẽ tôi phải báo anh biết trước…
– Tôi đoán ra rồi: chắc chắn trước kia cô ở trong đoàn bơi lội của nhà trường.
Nàng nằm ngửa ra bè, thốt lên một tiếng thở dài thoải mái. Nước mát tuyệt vời và trong vắt hầu như đã mang đi tất cả những lo âu thắc mắc của nàng.
Tới xế chiều họ mới trở về khách sạn. Sau khi đã uống với nhau một ly rượu pha ở quầy hàng trong khách sạn, họ lên phòng để nghỉ ngơi trước bữa ăn tối.
Kitty trang điểm xong, mở cửa tủ và do dự ngắm nhìn ba chiếc áo nàng đã mang theo. Sau cùng nàng chọn chiếc không cầu vai để hở những đường nét cong đầy của phần trên bộ ngực. Trong tiền sảnh, tất cả đàn ông đổ dồn mắt vào khi nàng xuất hiện. Sững sờ trước vẻ đẹp của nàng, Ari quên cả việc tiến ra đón nàng nữa. Sau cùng chàng ý thức được mình đang nhìn nàng như muốn nuốt chửng. Chàng vội vã nói:
– Tối nay có một buổi hòa nhạc ở kibboutz Ein Gev bên kia hồ. Ca-nô sẽ khởi hành ngay sau bữa cơm tối.
– Anh có thấy tôi nên thay áo khác không?
– … Không, không… Đẹp lắm rồi.
Khi chiếc ca-nô rời cầu tầu, mặt trăng tròn nhô lên khỏi các quả đồi bên Syrie, trải một vệt bạc lớn trên mặt nước phẳng lặng. Vượt hồ chỉ mất chừng nửa giờ. Kibboutz Ein Gev do các di dân gốc Đức xây dựng trên một địa điểm trơ trọi một cách nguy hiểm, gần sông Yarmonk được dùng làm ranh giới giữa Syrie và Transjordanie. Ban nhạc của kibboutz này, nổi tiếng khắp Palestine, là một trong những gì quyến rũ du khách trong vùng. Trong khi chờ đợi xây cất được một thính đường, các buổi hòa nhạc được trình diễn ngoài trời tại một khoảng đất đào sâu vào sườn đồi, đối diện với hồ.
Ari trải một chiếc chăn ở tít phía ngoài các bậc thềm đất sau cùng, hai người nằm dài ra ngửa mặt nhìn trăng lên cao trên bầu trời lấp lánh muôn ngàn sao. Một điệu nhạc – một bản concerto của Beethoven – đã mang lại cho Kitty một niềm thoải mái bình an. Khi bản nhạc chấm dứt, các tiếng vỗ tay nổi lên như pháo. Ari nắm lấy tay nàng để kéo ra khỏi đám đông, tiến về một con đường nhỏ chạy dọc ven hồ. Hai người ngồi xuống một chiếc ghế dài làm bằng ba phiến đá lớn, di tích của một ngôi đền xưa cả mấy ngàn năm. Dù không muốn, nàng vẫn quay người về phía Ari. Chưa bao giờ nàng thấy chàng đẹp và quyến rũ như vậy. Nàng phải cố gắng cưỡng lại sự ước muốn để ép sát người vào thân chàng, đưa tay vuốt ve mái tóc chàng. Nàng muốn nói là nàng cảm thấy rất gần chàng, muốn cầu xin chàng hãy tiến thêm bước nữa, thôi đừng làm người xa lạ nữa. Nhưng nàng nhớ lại được rằng Ari Ben Canaan là một người xa lạ mà chẳng bao giờ nàng dám thổ lộ tâm tình.
Một cơn gió làm nàng rùng mình. Bàn tay Ari chạm vai trần của nàng. Chàng nói nhỏ:
– Cô lạnh rồi, hãy quàng khăn vào đi.
Trong khoảng thời gian vài giây, mắt hai người gặp nhau, chan chứa hứa hẹn.
Đột nhiên Ari lui ra xa, đứng dậy.
– Ca-nô đã trở lại kia. Chúng ta nhanh lên thôi.
Một cơn gió mạnh đẩy nước mặt hồ lên và mũi ca-nô làm tung các làn nước rơi lả tả vào hành khách. Ari và Kitty là những người sau cùng bước lên bờ. Tay cầm tay, hai người chậm rãi trở về khách sạn. Thiếu phụ dừng lại trước cổng vài thước, dưới một cây liễu cổ thụ cành mềm lả ngọn chấm xuống mặt hồ. Với một cử chỉ dịu dàng ít khi có. Ari nắm lấy hai vai nàng kéo lại sát mình. Nhắm mắt lại, mắt ngửa lên dâng hiến, nàng thì thào:
– Hôn em. Hôn em đi anh…
Đám lửa nung nấu âm ỉ từ bao ngày tháng bùng cháy lên dữ dội. Chưa bao giờ Kitty cảm thấy xúc động dữ dội đến như thế, chưa bao giờ nàng muốn hiến dâng đến như vậy. Ari tách ra trước. Im lặng, hai người đi qua tiền sảnh, lên cầu thang. Đến trước cửa phòng mình, Kitty do dự, hết sức bối rối. Khi Ari sắp rời xa, nàng nắm lấy tay chàng. Lại đối diện nhìn nhau, họ xúc động quá không sao nói được. Sau cùng, nàng quay đi, vào phòng và đóng cửa lại.
Nàng cởi áo quần trong bóng tối, khoác áo ngủ lên người, tiến ra bao lơn có ánh đèn từ cửa sổ phòng Ari hắt sang soi sáng. Sau cùng khi ánh sáng tắt đi, Kitty lùi lại, hồi hộp. Một vài giây trôi qua, một bóng người cao lớn leo qua thành bao lơn. Ari nói nhỏ:
– Anh cần có em.
Một thoáng sau, nàng đã ở trong tay chàng, hôn trả từng chiếc hôn, vuốt ve lại từng vuốt ve. Chàng bồng nàng lên, đặt trên giường, quì gối xuống bên. Các ngón tay cào sâu vào vải giường, nàng cảm thấy từng cơn rung động chạy suốt người nàng từ đầu đến chân. Một bàn tay hối hả đặt lên vai nàng, kéo cầu vai áo ngủ tụt xuống rồi đặt lên vú nàng.
Nàng vùng đẩy chàng ra, nhẩy ra khỏi giường, hổn hển:
– Không, không đâu anh! Em không muốn…
Ari sững sờ, nàng tới ngồi gục xuống ghế bành. Dần dần tiếng nức nở của nàng dịu dần, hơi thở điều hòa hơn. Đứng trước mặt nàng, Ari nhìn bằng cặp mắt cứng rắn. Kitty thì thào:
– Chắc anh ghét em lắm.
Ari không trả lời. Nàng năn nỉ:
– Anh nói anh ghét em đi. Nói một lời gì, bất cứ điều gì đi anh.
Nàng đứng dậy một cách khó khăn.
– Em không muốn chuyện đó. Em không muốn để mình bị quyến rũ một cách bé dại như thế. Chắc em vừa trải qua một lúc yếu lòng, xiêu lòng vì ánh trăng, vì vẻ thơ mộng của đêm trên hồ…
Ari ngắt lời nàng, nói bằng một giọng lạnh giá:
– Tôi không bao giờ tin được là tôi đã theo đuổi một trinh nữ nhát sợ thẹn thò. Tôi không có mất thì giờ với các trò trẻ con, những lời vô ích. Tôi đã là một người đàn ông trưởng thành và cô, một người đàn bà đã là đàn bà…
– Anh diễn tả chính xác quá!
Ari nhún vai:
– Nếu cô không thấy có gì bất tiện, tôi sẽ về phòng tôi bằng cửa chính.
Còn lại một mình, Kitty hãy còn choáng váng, cố gắng một cách tuyệt vọng để tìm hiểu thái độ của mình. Chưa bao giờ nàng thèm ước một người đàn ông mạnh mẽ đến như vậy. Bây giờ, tình cảm sâu xa của nàng làm nàng hoảng sợ. Nàng nghĩ: “Có lẽ Ari chỉ nhìn thấy ở mình một cô gái đẹp mà thôi, một cô gái chàng thích được cùng sống qua một đêm. Nếu anh yêu mình thành thực sao anh lại cư xử đối với mình một cách sỗ sàng như vậy?”
Sau cùng, quá mệt mỏi, nàng ngủ thiếp đi. Khi thức giấc, những kỷ niệm về những gì đã xẩy ra trong đêm qua làm nàng đỏ mặt. Vừa mặc được áo quần, nàng vừa tự hứa sẽ xin lỗi Ari, nói với chàng một cách hợp lý, khác với cách cư xử của nàng đêm qua, thứ cư xử mà chàng hẳn phải cho là ngô nghê và đần độn.
Trong phòng ăn khách sạn, nàng gọi một ly cà-phê và chờ đợi. Sau chừng nửa giờ, nàng tới hỏi quản lý.
– Ông có thấy ông Ben Canaan sáng nay không?
– Dạ, ông ấy đã rời khách sạn chúng tôi lúc 6 giờ sáng nay.
– Ông có để thư từ gì lại cho tôi không?
Người quản lý quay lại các ô để chìa khóa, chỉ một ô rỗng không.
– Tôi hiểu… thôi… cám ơn ông.

.

3-11

Sau khi quá giang xe đến Jérusalem, Dov Landau tìm thuê một căn phòng tồi tàn trong khu Cổ thành. Rồi tuân theo đúng lời chỉ dẫn, chàng đến quán cà-phê Saladin, gần cửa Damas, để gửi chủ quán tên và địa chỉ của chàng cho Bar Israël.
Sau khi đem cầm ở một tiệm cầm đồ những nữ trang đã lấy cắp ở Gan Dafna, chàng đi thám hiểm thành phố. Đối với một tay cựu chuyên viên đi dưới ống cống như chàng, những đường phố ngõ hẻm nghèo của đô thị này không có gì là khó nhớ. Trong khoảng thời gian ba ngày, chàng biết rõ đến từng hẻm nhỏ trong khu buôn bán, kiến thức rất quí giá cho một kẻ phải sống còn bằng những gì ăn cắp được. Rồi sau khi đã mua chừng hai mươi cuốn sách về nghệ thuật, hội họa và kiến trúc cùng nhiều tờ giấy lớn và bút chì, chàng ở lỳ trong phòng.
Trong hai tuần lễ liền, chàng chỉ ra ngoài để mua thực phẩm. Từ sáng tới chiều, chàng nghiên cứu học hỏi như điên, chỉ đôi khi ngừng lại khi hình ảnh Karen hiện ra làm chàng không sao tập trung vào công việc được. Khi chạy trốn khỏi Gan Dafna, chàng không ngờ mình đã mang theo biết bao nhiêu là kỷ niệm, kỷ niệm nào cũng liên hệ mật thiết với Karen đến nỗi bây giờ, không có nàng, chàng đau đớn từ tâm hồn đến tận thể xác. Đôi khi, niềm đau dâng lên đến mức độ không sao chịu nổi, chàng vẽ khuôn mặt của Karen, qua từng nét mặt vui buồn của nàng. Rồi tức giận, chàng vò nát tờ giấy, ném vào một góc, không bao giờ chàng vẽ nổi vẻ đẹp duyên dáng của nàng.
Sau hết, sau hai tuần lễ, khi chàng ra ngoài để đi cầm vài thứ đồ linh tinh ăn cắp được ở một cửa hàng, một người đàn ông đang chờ đợi chàng. Tay xiết chặt khẩu súng bao giờ cũng để trong túi, chàng đi qua người lạ mặt, sẵn sàng quay phắt lại nếu có tiếng động nào khả nghi. Một tiếng nói cất lên, ra lệnh:
– Cấm động đậy, không được quay lại.
Dov đứng lại bất động.
– Chú đã hỏi thăm về Bar Israël. Chú muốn gì?
– Anh biết tôi muốn gì mà.
– Tên chú là gì?
– Dov, Dov Landau. Tôi từ Gan Dafna tới.
– Ai gửi chú tới đây?
– Mordéchaï.
– Chú đã vào được Palestine như thế nào?
– Bằng tầu Exodus.
– Tốt. Bây giờ chú tiếp tục đi thẳng, không được quay lại. Chúng tôi sẽ tiếp xúc với chú sau.
Ngày hôm sau, khi chàng vừa thiếp ngủ, có người tới gõ cửa. Ngay lập tức, chàng đứng dậy, súng lục cầm tay. Một giọng nói cất lên ngoài hàng lang.
– Bọn tôi là bạn của chú đây.
Dov đã nhận ra tiếng nói đó là của người đã nói với chàng hôm trước ở cửa khách sạn. Chàng mở cửa nhưng không nhìn thấy ai.
Giọng nói lại cất lên:
– Chú quay mặt vào tường đi.
Chàng tuân lời, ý thức được rằng sau mình có tới hai người. Một người bịt mắt chàng, cặp tay dẫn chàng ra đến tận xe. Chàng phải lên phía sau, nằm dài ra sàn xe, và phải chịu để mọi người phủ lên một cái chăn. Xe rồ máy chạy ngay lập tức. Tài xế có thể chẳng phải mất công chạy quanh co vòng vèo làm gì. Dov, tất cả giác quan vận dụng tối đa, từng quen thuộc với việc tìm đường trong các đường hầm cống tối đen, chàng xác định được lộ trình không khó khăn gì. Đường dốc lên này, hẳn là đường lên ngọn Olives. Đoạn đường êm và rộng này, chắc chỉ có thể nằm trên vùng phẳng ngọn Scopus, nơi có Viện Đại học Do-thái và Trung tâm Y khoa.
Sau cùng, xe dừng lại. Dov được dẫn vào một căn nhà và đẩy vào một căn phòng đầy những khói thuốc lá. Chắc phải có tới năm hay sáu người trong phòng. Mọi người cho chàng ngồi trên một chiếc ghế rồi thẩm vấn gắt gao trong hai giờ liền. Vừa trả lời cả ngàn câu hỏi, Dov, vừa hiểu được vài điều: nhờ ở các tình báo viên, các Macchabée đã biết được chàng là tay làm giấy tờ giả hữu hạng – tài năng mà họ lại đang cần nhất. Chắc những người đang thẩm vấn chàng thuộc vào bộ chỉ huy của tổ chức.
Một giọng cất lên:
– Tôi nghĩ rằng như thế đủ rồi. Cho hắn thề đi.
– Dov Landau, có một tấm màn trước mặt chú. Giơ hai tay lên để chúng tôi có thể đưa qua tấm màn.
Dov thi hành. Có người cầm lấy tay chàng, đặt một tay lên cuốn kinh thánh, tay còn lại trên khẩu súng lục. Rồi nhắc lại những lời mọi người đọc cho chàng, Dov tuyên thệ:
– Tôi, Dov Landau, tôi hiến dâng thân xác tôi, tâm hồn tôi, ý chí tôi cho Macchabée, Chiến sĩ của Tự do, không một hạn chế dè dặt nào. Tôi sẽ thi hành lệnh nhận được, lệnh sao thi hành vậy. Dù bị tra tấn hay bị giết chết, tôi cũng không khai tên các đồng chí cùng các bí mật tôi đã các biết. Tôi sẽ chiến đấu không ngừng chống lại các kẻ thù của dân tộc Do-thái, cho tới khi nào thành lập được một Quốc gia Do-thái nằm hai bên bờ sông Jourdain. Tôi sẽ chiến đấu theo khẩu hiệu: mắt đổi mắt, răng đổi răng. Tất cả những điều trên, tôi xin thề sẽ tuân theo trước sự chứng giám của Abraham, Isaac và Jacob, Sarah, Rébecca và Rachel, các bậc tiên tri cùng anh hồn của tất cả các người Do-thái đã bị giết chết.
Sau cùng, mọi người tháo khăn bịt mắt. Chàng nhìn thấy mình ở giữa sáu người đàn ông và hai người đàn bà đang nghiêm trọng đưa tay xiết chặt tay chàng. Ông già Akiba ngắm kẻ mới gia nhập với một nụ cười suy tư.
– Các kiến thức khá đặc biệt của chú rất quí giá cho chúng tôi. Chính vì thế chú mới được chấp nhận mặc dù chú chưa được huấn luyện theo thường lệ.
Dov phản đối:
– Cháu không gia nhập Macchabée để ngồi vẽ.
– Chú sẽ làm cái gì chúng tôi bảo chú làm. Chú lo thành lập một xưởng chế tạo mọi thứ giả mạo đủ loại. Nếu chú làm việc khá, thỉnh thoảng chú sẽ được tham dự vào một cuộc đột kích.

Thiếu tá Caldwell đang chơi bridge trong đại tiền sảnh của câu lạc bộ Sĩ quan Anh thì có người gọi điện thoại.
– Kính chào thiếu tá. Đây là văn phòng trung ương An ninh. Đứa con gái Do-thái mà chúng tôi thẩm vấn bây giờ đã sẵn lòng khai. Thanh tra Parkington mong có thiếu tá dự khán buổi lấy khẩu cung này. Chúng tôi đã cho một chiếc xe đến đón thiếu tá ở Câu lạc bộ.
– Tốt lắm.
Năm phút sau, Caldwell lên một chiếc xe nhà binh do một trung sĩ lái. Sau khúc quanh đầu tiên, xe thắng lại. Các cửa xe mở tung và ba người đàn ông nhẩy vào trong xe. Sau đó, xe lại rồ máy chạy hết sức nhanh.
Ba ngày sau, một toán quân tuần tiễu tìm ra thi thể thiếu tá Caldwell gần tường thành của Cổ thành. Trên áo ông có gắn bức hình quân Ả-rập đang giơ thủ cấp của Ben Salomon lên cùng với bản sao chụp lại lời thú tội đã giết Ben Salomon cùng hai binh sĩ Anh. Bản tài liệu thứ nhì này có ghi thêm một câu bằng bút chì: “Mắt đổi mắt, răng đổi răng.”

Trong bốn mươi tám tiếng đồng hồ, một sự kinh ngạc lan tràn toàn xứ Palestine. Rồi sau đó các Macchabée được biết là thiếu nữ bị An ninh Quân đội bắt đã chết vì băng huyết, hậu quả trực tiếp của một cuộc thẩm vấn gắt gao trong ba ngày ba đêm bằng dùi cui. Tin tức này là dấu hiệu làm phát sinh một chiến dịch trả thù dữ dội. Trong khoảng thời gian mà sau này những Do-thái Palestine phải gọi là “Mười lăm ngày Địa ngục”, các cuộc đánh phá của Macchabée đã làm cho đạo quân đồn trú Anh chìm đắm trong máu lửa. Cuộc trả đũa của tướng Haven-Hurst cũng tàn nhẫn không kém: tuyên bố tình trạng giới nghiêm, bố ráp, khám xét, xử tử sau khi xét xử sơ sài. Vì Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc có thể đến vào bất cứ lúc nào, tướng Haven-Hurst muốn chấm dứt một lần cho xong hoạt động của “Trung ương” Do-thái. Ông thân chinh chọn hai sĩ quan và bốn binh sĩ nổi tiếng là bài Do-thái ghê gớm và bắt họ thề giữ bí mật tuyệt đối. Rồi sau đó, ông trình bầy kế hoạch dự trù.
Tới ngày ấn định, “sáu vị anh hùng” này ngụy trang làm người Ả-rập. Hai người trong bọn họ lái một chiếc xe cam-nhông chở hai tấn chất nổ đến trước tòa nhà trụ sở của Quỹ Lập Nghiệp Do-thái. Tài xế cho xe dừng trước lối dẫn vào cổng, chận cứng tay lái lại, cài số một rồi mở ga. Sau đó hai người nhẩy xuống đất, chạy biến vào trong đám đông.
Chiếc xe húc nhẹ lên bờ hè chỗ cửa vào rồi đâm sầm vào cột bên trái cổng. Một tiếng nổ dữ dội làm rung động cả khu phố. Khi khói đã tan, tòa nhà sụp đổ tan tành.
Cùng lúc ấy, một ê-kíp thứ hai hai người cũng thực hiện một công cuộc tương tự chống lại trụ sở của “Trung ương” đúng lúc tại đây đang có một phiên họp của các cấp lãnh đạo chính của phục quốc Do-thái. Nhưng lần này, chiếc xe cũng húc vào bờ hè nhưng mạnh hơn nên xe đâm lệch mục tiêu. Vụ nổ sau đó chỉ phá hủy tòa nhà bên cạnh.
Đến một chỗ đã định trước, bốn người này lên hai chiếc xe chạy nhanh do các sĩ quan của “đoàn đặc công đặc biệt” cầm lái. Họ chạy sang xứ Transjordanie, quốc gia bù nhìn do người Anh kiểm soát.
Trong vài trăm người chết ở trụ sở Quỹ Lập Nghiệp, có Harriet Salzman, bà già Hoa-kỳ tám mươi tuổi đã từng thành lập các Trung tâm Thanh niên của Mossad Aliya Bet.
Các Macchabée hoạt động ngay lập tức để trừng phạt những kẻ có tội. Chưa đến một ngày, họ đã xác định được rằng “sáu tên Ả-rập kia” thực ra là quân sĩ Anh và kẻ có trách nhiệm thực sự về cả hai vụ tấn công phá hoại bằng chất nổ chính là đại tướng Haven-Hurst. Đánh bài liều xả láng, viên tư lệnh Anh đã đạt tới kết quả hoàn toàn ngược lại với những gì ông đã kỳ vọng: tức giận, uất ức, Haganah và Macchabée chẳng những đã không sợ, lại còn đi tới chỗ liên kết nhau nữa.
Cuộc gặp gỡ giữa hai bên được tổ chức vào lúc một giờ sáng, trong một cánh đồng dọc con đường đi Jérusalem. Một bên là Akiba và Moshé đại diện cho Macchabée, một bên là Avidan, tư lệnh có thẩm quyền của Haganah, và Zev Gilboa chỉ huy lực lượng xung kích Palmach. Không có bắt tay, trao đổi các lời xã giao gì hết. Đối diện với nhau, trong đêm tối, hai bên vào cuộc bàn cãi trong một bầu khí nghi ngờ toàn diện.
Trục trặc ngay từ lúc đầu: các Macchabée nghi ngờ Avidan muốn đặt lực lượng của mình hoàn toàn dưới quyền chỉ huy của ông ta mà thôi. Có các lời trách cứ phóng ra từ hai phía, và tinh thần căng thẳng lên cao dần cho tới khi Avidan, cắt ngang những lời phàn nàn của Akiba, đặt ra một câu hỏi dứt khoát:
– Các anh có chấp nhận hợp tác với chúng tôi hay không?
Ben Moshé lầu nhầu:
– Chúng tôi sẽ cố thử.
Mười lăm ngày sau, việc hợp tác này biểu lộ bằng một cuộc phát động hoạt động trên một tầm mức rộng lớn.
Trong nội một đêm, Haganah làm tê liệt toàn diện hệ thống hỏa xa ở Palestine. Đêm sau, các Macchabée xâm nhập vào sáu sứ quán và lãnh sự quán Anh vùng chung quanh Địa trung hải để phá hủy một khối lượng tài liệu vĩ đại người Anh xử dụng để chống lại sự nhập nội bất hợp pháp Palestine. Một đêm sau nữa, Palmach phá hoại các ống dẫn dầu từ Mossoul ra biển tại mười lăm địa điểm khác nhau.
Vấn đề còn lại là làm sao tiêu diệt được địch thủ chính của phong trào phục quốc Do-thái là đại tướng Haven-Hurst. Mới nhìn qua, đây là một công cuộc không thể nào thực hiện được. Trại Schnellner, tổng hành dinh của đại tướng này, là cả một pháo đài kiên cố do nhiều ngàn quân sĩ bảo vệ. Trong những chuyến xuất trại hiếm hoi, đại tướng được một đoàn hộ tống võ trang mạnh đến nỗi phải hy sinh hàng trăm Macchabée mới tấn công nổi.
Nhưng các trạm quan sát đặt chung quanh trại đã khám phá ra khe hở của bộ giáp sắt.
Những quan sát viên nhận thấy rằng cứ ba lần một tuần, một chiếc xe dân sự ra khỏi trại vào lúc giữa nửa đêm và một giờ sáng để rồi tờ mờ sáng mới trở về. Một vụ kiểm soát nhanh chóng cho biết rằng chiếc xe này thuộc một gia đình Ả-rập giầu có. Một mặt khác mọi người biết rằng bề ngoài, Haven-Hurst bao giờ cũng gentleman đến độ phát chán lên được, nhưng bên trong, bao giờ ông cũng có nhân tình. Thế mà không có một tin đồn đại nào là ông có liên hệ tình ái với một phụ nữ Âu châu cả. Ngược lại, trong gia đình Ả-rập sở hữu của chiếc xe bí mật kia, có một thiếu phụ khá xinh và khá thông minh để quyến rũ một người như Haven-Hurst. Từ đó đi đến một kết luận dễ dàng.
Người ta cho đặt thêm quan sát viên trước địa chỉ của gia đình Ả-rập. Những người này không mất công chờ đợi lâu. Ngày hôm sau, lúc nửa đêm, họ thấy thiếu phụ ra khỏi nhà để đến một căn nhà tọa lạc trong khu thượng lưu El Baqua. Nửa giờ sau, một chiếc xe dừng lại ngoài vòng rào căn nhà này và hình dạng rất dễ xác định là ai vội vã bước xuống, tiến vào nhà.
Ngay đêm hôm đó, vào lúc ba giờ sáng, Haven-Hurst bị đánh thức đột ngột bằng một giọng nói lớn dõng dạc:
– Hãy tán dương Đức Vĩnh cửu đã báo thù cho Israël!
Khi ông chồm ra khỏi giường, hàng tràng đạn tiểu liên quạt khắp phòng, cầm nhịp cho những tiếng thét kinh hoàng của thiếu phụ Ả-rập.
Vào buổi trưa, bộ Tư lệnh Anh được báo tin bằng điện thoại cho biết địa điểm đặt xác của vị Tư lệnh. Kẻ báo tin vô danh ấy còn thêm rằng mọi người đã cẩn thận chụp ảnh đại tướng vào lúc ông này qua đời, đang ra sao chụp y như vậy. Trong trường hợp người Anh báo thù bằng cách đàn áp dân Do-thái, các bức hình bệ rạc này sẽ được trao lại cho các ký giả ngoại quốc.
Và các vụ báo thù đã không xẩy ra.

.

3-12
Kitty và Karen đã trở về Gan Dafna. Kitty chờ đợi cơ hội để nói chuyện dứt khoát với Karen, nhưng đồng thời vẫn e ngại. Chính một bức thư của Dov đã làm nàng quyết định giải quyết dứt khoát ngay vấn đề.
Tối hôm đó, vừa bôi móng chân, Kitty đang tìm cách đưa câu chuyện về đề tài nàng thiết tha, thì chính Karen lại tạo ra cơ hội.
– Cô có vẻ buồn phải không? Không phải riêng ngày hôm nay đâu, mà từ ngày cô đi chơi hồ Tibériade về. Chắc đã xẩy ra chuyện gì giữa cô và chú Ari phải không cô?
– Quả cô có buồn lo thật, nhưng không phải về “một chuyện gì” đó đâu. Nếu cô có lo âu, đó là về em, về cô, về tương lai của chúng ta thôi. Em biết đó, từ ngày gặp gỡ đầu tiên ở trại Caraolos, cô hết sức mong muốn em là con gái của cô.
Thiếu nữ nói nhỏ:
– Em cũng thế, em cũng muốn thế.
– Như vậy em phải hiểu là cô đã suy nghĩ từ lâu, và cô đã tính toán mọi việc thế nào để hữu ích cho em thôi. Karen yêu, cô đã quyết định mang em theo cô trở về Mỹ. Em sẽ sống ở nhà cô, nghĩa là nhà chúng ta.
Sững sờ ngạc nhiên, Karen nhìn nàng bằng một vẻ không tin, nhắc lại lời Kitty một cách máy móc.
– Nhà chúng ta? Nhưng cô Kitty, nhà của em là ở đây mà, Gan Dafna.
– Tạm thời thôi, cưng. Còn cô, cô muốn có em ở với cô mãi mãi.
– Em cũng muốn thế. Nhưng chỉ vì… em thấy kỳ dị quá đi… khi cô nói “nhà chúng ta” là ở bên Mỹ.
– Không có gì kỳ lạ hết: cô là người Mỹ và cô muốn trở về sống ở quê nhà.
Rõ ràng là Karen đang cố gắng cầm nước mắt.
– Thế mà em cứ tưởng là chúng ta ở xứ này, cô ở Gan Dafna, còn em ở…
– … Còn em ở trong Palmach, bổ nhiệm tới một kibboutz biên thùy nào đó chẳng biết nữa!
– Đúng là điều em đang nghĩ đó cô. Quả thật em đã íck kỷ quá: em quên mất là cô có thể nhớ nhà, nhớ quê hương cô. Cô chưa bao giờ đòi hỏi cái gì cho cô…
– Lời em vừa nói quả là một lời khen đẹp nhất cô nhận được từ trước đến giờ.
Karen nỗ lực suy nghĩ một cách tuyệt vọng. Dĩ nhiên Kitty là tất cả đối với mình… Nhưng rời xứ này để ra đi nơi xa… Làm sao mình có thể làm nổi?
– Cô Kitty, có lẽ em diễn tả ý em không rõ. Cô hiểu cho rằng ở đây, em có một cái gì… Em không biết gọi tên ra sao… Một cái gì không ai tước đoạt được của em, ngày nào em còn ở Palestine.
– Em đâu mất mát gì khi em đi với cô. Cái thứ tình tự cảm thấy mình thuộc về một cộng đồng, những người Do-thái ở Mỹ cũng có như em, và…
– Nhưng đó là những người bị lưu đầy.
– Không đâu em. Vậy em không thể hiểu là người Do-thái Mỹ cũng yêu nước Mỹ sao?
– Người Do-thái Đức cũng yêu nước Đức như thế, cô!
Đột nhiên Kitty không thể nhịn được nữa.
– Thôi em! Cô không có nghe những khẩu hiệu tuyên truyền dối trá mà thiên hạ đã nhồi nhét vào đầu em nữa đâu! Cô và em, chúng ta chẳng có gì chung với mọi người ở đây cả. Có lẽ em tưởng cô không hiểu một quyết định ra đi như thế đau đớn biết bao nhiêu cho em hay sao? Em tưởng cô tìm cách hại em sao?
– Không, chắc chắn là không rồi… Nhưng…
Kitty lại quì gối trước Karen.
– Karen… em yêu! Em chưa bao giờ được biết hòa bình là gì sao? Em không ý thức được là chưa bao giờ em được thưởng thức hạnh phúc được đi chơi dưới ánh sáng mặt trời, đầu cất cao mà không phải sợ một kẻ thù nào đang rình mò trong bóng tối sao? Em cũng biết như cô là ở đây sẽ chẳng bao giờ có hòa bình hết. Tin ở cô đi em, cô không hề tìm cách đưa em ra khỏi Do-thái giáo hay ngăn cản em yêu đất nước em, nhưng chỉ vì trên đời còn có nhiều điều khác… biết bao điều khác cô muốn mang lại cho em. Đi cùng cô đi em…Cô mơ tưởng một ngày kia sẽ được thấy em mặc jupe plissée và đi giầy cao gót, ngày cô được nghe thấy em nói và cười qua điện thoại với cậu bạn trai đang tán tỉnh em. Cô muốn em đầu óc chỉ đầy nhóc muôn ngàn chuyện nhỏ mọn trẻ con, như trăm ngàn thiếu nữ khác ở tuổi em – như thế còn là bình thường hơn rất nhiều chuyện em xử dụng một khẩu súng hay vận chuyển đạn dược. Em đã thiếu, không được hưởng biết bao niềm vui thú ở trên đời… Ít nhất em hãy tận hưởng cho biết chúng trước khi đi đến một quyết định dứt khoát. Cô xin em, cưng, hãy nghe cô đi.
Mặt xanh như tầu lá, Karen cố gắng gỡ mình ra khỏi vòng tay của Kitty, thì thào:
– Còn anh Dov? Nếu em ra đi, anh ấy sẽ ra sao?
Kitty đứng dậy mở ví lấy ra bức thư nàng mới nhận được vài giờ trước đây.
– Đây, em có thể đọc nếu em muốn. Cô thấy bức thư này nằm trên bàn cô. Cô hiện còn đang tự hỏi làm thế nào thư lại tới chỗ đó được.
“Thưa bà Fremont:
“Thư này do một người bạn biết tiếng Anh hơn tôi đã viết hộ, nhưng tôi đã chép lại để bà nhận ra đó đúng là chữ viết của tôi. Lúc này, tôi rất bận. Tôi sống với các đồng chí, những người bạn – những người bạn đầu tiên tôi có được sau rất nhiều năm. Tôi viết thư này cho bà để trình bày bà rõ tôi đã sung sướng khi rời được Gan Dafna, nơi mà tất cả mọi người đều ghê tởm tôi. Tất cả mọi người đây bao hàm cả bà lẫn Karen luôn. Bà hãy nói giùm với Karen là nàng đừng hy vọng tôi trở về. Dù sao Karen mới chỉ là một cô bé con! Ở đây tôi có một cô bạn, một người đàn bà hẳn hoi, sống cùng với tôi. Tại sao bà không cùng với Karen trở về Hoa-kỳ đi. Hai người phải sống ở Mỹ mới đúng, chứ không phải ở Palestine nơi mà muôn đời hai người dầu sao cũng chỉ là những kẻ lạ mặt mà thôi.”
Kitty lấy lại bức thư để xé tan ra từng mảnh.
– Cô sẽ lại ngay thăm bác sĩ Lieberman để xin từ chức. Ngay khi nào mọi người kiếm được người thay thế, cô sẽ giữ chỗ cho chúng ta đi Nữu-ước. Em có đồng ý không?
– Xin vâng, em sẽ đi với cô.

Kể từ lâu rồi, các Macchabée đã có thói quen là cứ hai hay ba tuần lễ lại di chuyển tổng hành dinh một lần. Sau “Nửa tháng địa ngục” và vụ ám sát Haven-Hurst, Akiba và Ben Moshé cho rằng thận trọng vẫn hơn, nên rời hẳn Jérusalem và chia nhóm chỉ huy đã thu hẹp lắm rồi thành nhiều nhóm phân tán hơn nữa. Vì vậy, chỉ có bốn người tới Tel-Aviv: Akiba, Ben Moshé, Nahoum Ben Ami (anh của David) và Dov Landau – nhờ tài làm giả và lòng can trường đến mức điên rồ trong khi hoạt động đặc công, đã được chấp nhận cho vào nhóm chỉ huy thu hẹp này.
Họ trú ẩn trong căn phòng tầng trệt trong một tòa nhà của một đoàn viên Macchabée nằm trong một khu buôn bán náo nhiệt. Nhiều người canh phòng được đặt ở chung quanh tòa nhà, và Nahoum đã lo sẵn một đường rút lui khi cần. Nói tóm lại, đó là một nơi trú ẩn lý tưởng.
Nhưng do một trùng hợp bất hạnh, cảnh sát Anh lại đang canh chừng một tòa nhà khác, cách đó vài thước, trong cùng đường. Các thanh tra đang tìm bắt quả tang một nhóm buôn lậu, theo như tin thu thập được, đang để các hàng hóa trốn thuế đoan cảng Jaffa trong nhà này. Rất nhanh chóng, các cảnh sát chú ý đến sự hiện diện của nhiều người, không có lý do nào chính đáng, cứ đi đi lại lại không ngừng chung quanh tòa nhà bên cạnh. Các hình chụp bằng viễn kính cho phép người Anh xác định được ít nhất hai kẻ trong những người này là đoàn viên Macchabée. Rất dễ đưa ra một kết luận: đang đi rình săn sắt họ cũng khám phá ra hang cá rô. Và vì họ đã am hiểu từ lâu chiến thuật của Macchabée, người Anh quyết định xông tới ngay lập tức.
Ngày hôm đó chỉ có Akiba và Dov ở trong phòng. Nahoum Ben Ami và Ben Moshé đã đi ra ngoài để gặp Zev Gilboa đang giữ vai trò liên lạc với Haganah và Palmach. Akiba đang ngủ chập chờn còn Dov đang hoàn tất một số thông hành của xứ Salvador, bắt chước rất khéo. Dov đang ngoằn ngoèo ký tên một viên chức trưởng của Salvador thì có tiếng gõ cửa. Akiba mở mắt.
– Chắc Ben Moshé và Nahoum đó. Chú ra mở cửa cho họ.
Sau khi đã cẩn thận kiểm soát lại giây xích ở cửa, Dov hé mở cánh cửa. Ngay lập tức, một chiếc búa thợ rèn phang vào cửa, đập tan thớ gỗ. Dov kêu lớn:
– Tụi Anh! Tụi Anh!

Tin truyền đi nhanh như một làn thuốc súng cháy. Akiba, chiến binh của huyền thoại, người đã trốn thoát khỏi tay quân Anh trong hơn mười năm bây giờ vừa bị bắt sống.
Các Macchabée kêu ầm lên là bị phản bội. Bởi vì Ben Moshé và Nahoum đã đi gặp Zev Gilboa, và kẻ này hay một nhân viên nào khác của Haganah đã theo dõi hai nhân vậy này trở về để khám phá nơi trú ẩn của họ rồi sau đó báo cho người Anh biết. Một lời kết tội vừa kỳ cục vừa khó kiểm chứng nhưng không thiếu gì người lan truyền đi.
Muốn làm tăng thêm hoang mang cho các Macchabée, Cao ủy Anh ra lệnh xét xử hai tù nhân trong một thời hạn ngắn nhất. Dĩ nhiên là dân chúng cùng báo chí đều không được dự khán phiên xử. Bởi thế, Akiba và Dov Landau đã bị kết án tử hình trong một phiên tòa xử kín. Viên chánh án (tên tuổi được giữ kín để khỏi bị các Macchabée trả thù) tuyên bố chính xác rằng bản án sẽ được thi hành trong một hạn kỳ không quá mười lăm ngày nữa.
Trong khi vội vã, Cao ủy đã phạm một lỗi lầm nghiêm trọng. Khi cấm đoán các báo chí, ông đã quên mất rằng ở ngoại quốc, nhất là ở Hoa-kỳ, các Macchabée được nhiều thế lực ủng hộ. Thế là bùng ra một cơn tức giận dư luận làm đẩy lui việc có tội hay vô tội của hai tù nhân này xuống hàng thứ yếu. Các hãng thông tấn hay biết và cho đăng tải luôn cuộc đời của Dov Landau, anh hùng của ghetto Varsovie, kẻ sống sót của trại diệt chủng Auschwitz. Các bức hình của Akiba, ông già tám mươi trông như một bậc tiên tri, và Dov, đồ đệ trẻ tuổi của ông, đã gây ra cả một cơn giận dữ phản đối trên toàn thế giới.
Vừa mới tới Palestine với tư cách quan sát viên trong Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc, Cecil Bradshaw hiểu ngay mình phải can thiệp. Ông còn nhớ bài học cay đắng của Exodus để không thể để mọi việc cứ thế mà diễn ra. Nhất là vào lúc mà Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc lại bắt đầu điều tra. Sau khi xin các chỉ thị của Luân-đôn, ông thỏa hiệp với Cao ủy là sẽ nêu rõ tính cách cao thượng của công lý Anh quốc. Viện dẫn tuổi trẻ của Dov và tuổi già của Akiba, ông loan báo rằng các tội nhân được phép nộp đơn xin ân xá và đơn này sẽ được cứu xét khoan hồng.
Trận bão phản đối lắng dịu rất nhanh. Nhưng cuộc thăm viếng hai tội nhân tại nhà tù của Bradshaw và vị cao ủy đã hoàn toàn thất bại. Cả ông già đến thiếu niên đều không buồn đọc tới bản văn xin ân xá đã soạn sẵn cho họ nữa. Còn ký các văn bản ấy à… vị lãnh tụ già của các Macchabée tuyên bố:
– Từ tội tử hình sang hai hay ba năm cấm cố? Tôi không hiểu đấy. Chúng tôi không hề có tội. Thử hỏi từ bao giờ, một chiến binh chiến đấu cho đất nước mình lại bị coi là có tội? Chúng tôi chỉ chiến đấu cho các quyền lịch sử và tự nhiên của chúng tôi mà thôi. Chúng tôi là các tù binh và sự kiện các ông đang chiếm đóng nước tôi không phải là lý do cho phép các ông quyền phán xử chúng tôi.
Còn Dov thì chẳng nói năng gì cả, nhổ bẹt ngay vào tài liệu do Bradshaw đưa ra.
Ngày hôm sau, tin khước từ của hai tù nhân này chạy tít lớn trên các đại nhật báo. Bradshaw tức điên lên: bây giờ, ngay cả những người Do-thái từ trước đến giờ vẫn phản đối hoạt động của các Macchabée, cũng coi hai tù nhân như biểu tượng kháng chiến của Do-thái. Chẳng những đã không đánh ra phía địch được chưởng nào, Anh quốc còn mang lại cho địch hai anh hùng hy sinh vì đại nghĩa. Trong những điều kiện như vậy, người Anh chỉ còn mỗi một cách: ấn định ngày xử tử. Dầu thế nào, xứ Palestine đã tạm vắng các vụ phá hoại và ám sát, cũng đang là một thùng thuốc súng rồi, một thùng thuốc súng sắp nổ tung đến nơi. Ngoại trừ khi đưa ra một vụ trừng trị nêu gương, khó mà ngăn được nó nổ.

Acre, thị trấn hoàn toàn Ả-rập, bao gồm những nhà cửa cũ kỹ nằm ở cực bắc vịnh còn Haïfa nằm ở phía nam. Nhà tù, một khối nhà xây cất trên những di tích của một pháo đài Thập tự quân, chạy dọc theo con đê cho tầu cập bến đến hàng trăm thước. Toàn thể những tường thành cổ cao ngất, pháo tháp, lối đi quanh co và tháp canh sắc cạnh, cộng với một bức tường dầy cộp nữa, pháo đài lớn này đã chống lại được cuộc tấn công của Napoléon trước kia. Bây giờ người Anh dùng chiến lũy này làm một nhà tù đáng sợ nhất trong toàn thể Đế quốc.
Dov và Akiba bị giam trong hai phòng giam nhỏ hẹp, tường trần và sàn đều bằng đá. Vì không có cửa sổ, không cả hệ thống cống, nên không khí nơi đây hầu như không thở nổi. Các cửa bọc thép chỉ có một cửa nhỏ xíu đục xuyên qua. Một khung nhỏ được đục vào tường từ bên ngoài để đưa cơm nước qua, chỉ có nhìn thoáng thấy ở phía xa một vài ngọn cây.
Hai hay ba lần một ngày, một viên chức cao cấp lại tới đề nghị một vụ dàn xếp vào phút chót để tránh vụ xử tử. Và đều đều họ gặp cho một sự im lặng đầy khinh bỉ của Dov, còn Akiba thì đuổi họ bằng cách đọc lớn tiếng những đoạn thánh kinh. Sau cùng, chán quá, người Anh chuyển họ sang khu tử tội, gần phòng xử giảo. Cai tù lấy quần áo họ đi, bắt mặc quần áo đỏ tía thường lệ của các tội nhân xử giảo.
Hai người chỉ còn được phép sống sáu ngày nữa thôi…

.

3-13

Lúc đó là một giờ sáng. Bruce Sutherland vừa mới thiếp ngủ trong chiếc ghế bành ông thích nhất thì người làm vào đánh thức ông dậy, loan báo là có một “tiểu thư” tới thăm.
Thấy Karen tiến vào, Sutherland dụi mắt.
– A! Cô bé. Cháu làm cái gì ở đây, vào giờ này? Cô Kitty có biết cháu tới đây không?
Mặt xanh xao, căng thẳng, thiếu nữ lắc đầu. Sutherland đưa nàng tới đi-văng ngồi.
– Chắc cháu cũng phải ăn cơm tối rồi chứ?
– Cháu không đói…
Sutherland ra lệnh cho người hầu:
– Mang một sandwich và một ly sữa vào đây.
Rồi quay lại Karen, ông hỏi:
– Bây giờ cháu vui lòng cắt nghĩa cho vì cớ gì tiểu thư lại tới đây.
– Cháu phải gặp anh Dov Landau. Trong tất cả những người cháu biết, chỉ có bác là giúp được cháu thôi.
– Hừm… được… chắc bác giúp được đấy, nhưng bác tự hỏi… một buổi gặp gỡ như vậy chỉ làm cháu khổ thêm thôi. Trong vài tuần nữa, cháu và cô Kitty sẽ rời xứ này rồi, tại sao cháu không cố quên chàng trai đó đi?
Karen cầu khẩn:
– Cháu van bác. Cháu biết cháu hiểu những điều bác nói. Nhưng kể từ khi anh Dov bị bắt, cháu không thể nghĩ tới ai khác được. Cháu phải gặp anh ấy. Hãy giúp cháu… cháu xin bác.
Sutherland càu nhàu.
– Được, được rồi. Để bắt đầu, bác sẽ điện thoại cho Kitty đã: chắc cô ấy đang điên vì lo lắng. Cháu kỳ thật đó, nửa đêm dám đi bộ đến đây qua một vùng toàn Ả-rập.
Sáng ngày hôm sau, Sutherland gọi điện thoại tới Jérusalem. Vị cao ủy không đợi nói tới lần thứ hai, nhận lời ngay. Biết đâu khi nói chuyện với Dov, Karen lại không thành công trong việc thuyết phục Dov chịu ký đơn xin ân xá. Vài giờ sau, sau khi ghé đón thêm Kitty, Sutherland và Karen đến đồn cảnh sát Naharya, nơi có một đoàn hộ tống võ trang đưa họ tới thẳng nhà tù Acre.
Sutherland và Kitty được mời ngồi đợi trong văn phòng quản ngục. Còn Karen, đi giữa hai người lính, vượt qua hàng loạt cửa bọc thép, băng qua một sân trong tường bao quanh có đục những ô nhỏ có chấn song. Nàng cảm thấy hàng trăm cặp mắt thèm khát của các tù nhân nhìn nàng đi qua, và nghe thấy những lời nói tục tĩu nữa. Nhìn thẳng về phía trước, đi như một người máy, nàng leo lên một cầu thang hẹp, đi qua một ụ đại liên đặt sau dây kẽm gai rồi dừng lại trước cánh cửa sau cùng có hai người lính súng lắp lưỡi lê đứng gác.
Mọi người đưa nàng vào một xà-lim nhỏ cùng một người lính. Cánh cửa đóng lại sau lưng nàng. Người lính mở một cái khe nhỏ chừng vài phân trong tường đối diện, cười khẩy bảo:
– Này cô nhỏ, cô có thể nói chuyện với hắn qua cái khe này.
Karen nghiêng người xuống. Nhìn qua hành lang phía bên kia, nàng thấy hai xà-lim: trong xà-lim thứ nhất có một ông già, xà-lim thứ nhì có Dov đang nằm ngửa nhìn lên trần. Một người lính gác đến mở cửa xà-lim của Dov.
– Đứng dậy, Dov Landau. Mi có người tới thăm kìa.
Để thay cho câu trả lời, Dov lấy một cuốn sách và mở ra đọc.
– Mi điếc hả? Có người tới thăm kìa.
– Xin anh nói giùm với các nhà thương thuyết đầy lòng tử tế của các anh rằng tôi đi vắng.
– Không phải thăm viếng chính thức đâu. Đây là một cô gái mà.
Các ngón tay Dov vụt xiết chặt cuốn sách.
– Nói giùm với cô ta là tôi bận.
Khi người lính gác nhún vai quay đi, Karen ghé sát môi vào khe hở gọi:
– Anh Dov! Anh Dov!… Em đây, Karen đây mà
Akiba nói:
– Này chú bé! Ra nói chuyện với nàng đi. Chú muốn chết trong thứ câm nín như anh của lão bắt lão phải chịu sao? Ra nói chuyện với cô bé!
Chậm chạp, Dov đặt cuốn sách xuống, đứng dậy ra nhìn qua khe hở. Karen nhìn thấy rõ ràng đôi mắt xanh đầy giận dữ lạnh lùng của chàng. Dov trách cứ:
– Tôi chán ngấy mọi trò đạo đức giả rồi! Nếu thiên hạ gửi cô tới đây để ăn mày chữ ký của tôi, thì cô có thể ra về ngay lập tức. Tôi không thèm cái lòng khoan hồng của tụi chúng đâu.
– Em thề với anh là không có ai gửi em tới đây hết. Em thề như vậy.
– Nếu đúng vậy em đến đây làm gì?
– Em chỉ muốn nhìn thấy anh lần chót.
Bên này bức tường, Dov cứng người lại. Ước muốn được chạm vào má nàng mạnh mẽ đến nỗi làm chàng đau đớn. Karen lại nói:
– Có thật là anh đã nghĩ như anh đã viết trong bức thư anh gửi cô Kitty không… hay anh chỉ nói thế chỉ vì…
– Tôi nghĩ thế thật.
– Anh! Anh hiểu chứ, em rất muốn biết…
– Bây giờ thì Karen biết rồi đó.
– Vâng, anh Dov… Em… em sắp ra đi. Em sang xứ Mỹ.
Chàng có một cử chỉ biểu lộ lãnh đạm.
– Có lẽ em đã lầm khi đến đây. Em làm phiền anh…
– Không đâu. Tôi biết em muốn làm vui lòng tôi. Dĩ nhiên tôi thích cô bạn kia hơn, nhưng nàng ở trong Macchabée nên nàng không thể đến đây… Em là một cô gái khá lắm, Karen… Em hãy yên tâm mà sang Hoa-kỳ và quên tất cả những gì đã xẩy ra đi. Chúc em may mắn!
Nàng nói như một hơi thở:
– Có lẽ bây giờ em về thì hơn.
Nàng đứng thẳng người dậy, quay ra phía cửa.
– Karen!
Nàng quay lại.
– Em nghe đây đã… để chứng tỏ chúng ta vẫn là bạn tốt với nhau… nếu lính gác cho phép, có lẽ ta nên xiết tay nhau một lần chót.
Người lính gác đang nhìn đi chỗ khác, Karen luồn tay qua khe, Dov nắm lấy xiết chặt giữa hai tay mình. Trán tì vào đá, chàng nhắm mắt lại. Đột nhiên chàng cảm thấy Karen đã nắm lấy một tay mình và đang kéo qua khe hở.
Chàng phản đối:
– Đừng, đừng… không nên…
Nhưng chàng không còn đủ sức chống cự nữa. Karen hôn lên tay chàng nhiều lần, ép sát vào má và chàng cảm thấy những giọt nước mắt của nàng chẩy trên các ngón tay. Rồi đột nhiên nàng rời xa.
Được đưa trở lại xà-lim, Dov nằm gục xuống giường. Trong đời, chưa bao giờ chàng yếu đuối đến độ để nước mắt phải tràn ra. Nhưng bây giờ, không nỗ lực nào của ý chí có thể ngăn cản nổi. Quay lưng lại để giấu Akiba và người canh gác, chàng khóc nức nở không kìm giữ.

Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc đã ra đi. Ủy ban đã trông thấy những thực hiện đẹp đẽ của các nhà tiên khu Do-thái, đã nhận thấy ác ý cùng thứ đạo đức giả đầy thù hận của người Ả-rập. Hiển nhiên là không thể có một giải pháp trung gian nào. Nếu chỉ lấy lý lẽ của công bằng làm căn bản, Liên Hiệp Quốc phải khuyến cáo thành lập một Quê Nhà Do-thái. Bây giờ vấn đề chỉ còn là chờ xem các hội viên của Liên Hiệp Quốc sẽ chống lại các lời đe dọa hầu như công khai của các quốc gia Ả-rập như thế nào thôi.
Một lần nữa được trao phó nhiệm vụ đại diện cho “Trung ương” ở hội nghị Genève, Barak Ben Canaan quyết định, trước khi ra đi, trở về Yad El để sống vài ngày với Sarah. Một bữa cơm giã từ mang lại cơ hội cho hai bậc cha mẹ – cơ hội mỗi ngày một hiếm có – gặp lại các con, Ari và Jordana, và cả David Ben Ami nữa. Cuối bữa cơm, Jordana hỏi:
– Mọi người có biết tin là bà Fremont sắp rời Palestine chưa?
Cố gắng giấu ngạc nhiên, Ari nói:
– Anh không biết gì cả.
– Bà ta cũng xin bác sĩ Lieberman cho từ chức. Bà mang theo đứa con cưng, Karen Clement. Về phần em, em không ngạc nhiên gì hết về chuyện này: em biết chắc từ lâu là bà ta sẽ chạy lẹ ngay khi tình hình mới nguy ngập một tí.
Ari cãi:
– Xét cho cùng, sao cô ta phải ở đây nhỉ? Cô ta là người Hoa-kỳ, cô chỉ đến Palestine để theo đuổi cô bé Karen đó.
– Hơn nữa, bà ta còn không ưa gì chúng ta hết.
David can thiệp:
– Nói thế là sai!
– Quả thực lúc nào anh cũng chỉ bênh người đó không à!
Bà Sarah nói:
– Mẹ thì mẹ thấy dễ thương lắm. Cô ấy đã làm được nhiều điều kỳ diệu cho các lũ trẻ đáng thương ở Gan Dafna và được mọi người ưa chuộng lắm.
Jordana vẫn chưa chịu:
– Còn con thì con thấy bà ấy ra đi là điều hay. Dĩ nhiên là chúng ta có thể tiếc là bà mang theo Karen, nhưng một mặt khác, bà ấy đã nuông chiều cô bé này đến nỗi ta khó mà có thể cho nó là một người Do-thái phục quốc được nữa.
Ari đột nhiên đứng dậy và đi ra vườn. Sarah bất mãn nói:
– Tại sao con lại cứ cố tìm cách làm cho anh buồn vậy? Con biết rõ các tình cảm của anh đối với cô ấy mà…
– Anh Ari sẽ cám ơn Thượng đế là loại bỏ được người đàn bà đó cho mà xem.
Barak nói:
– Thực vậy hả? Con lấy quyền gì mà phán xét tình yêu của một người đàn ông?
Mọi người đều im lặng. David cầm lấy tay Jordana.
– Em đã hứa đi chơi bằng ngựa với anh. Bây giờ đi chứ?
Giận dỗi, nhưng rồi sau cùng Jordana cũng nhận lời. Hai người đứng dậy đi ra ngoài. Barak càu nhàu:
– Để hai đứa nhỏ ấy đi. Thằng David ấy biết cách xoa dịu cô Jordana của chúng ta. Tôi có cảm tưởng rõ ràng là nó ghen với bà Fremont. Có lẽ một ngày kia các cô gái của xứ ta cũng tìm được thì giờ để trở thành đàn bà hơn.
Ông im tiếng, lơ đãng quấy chiếc muỗng trong ly trà. Đi vòng ra sau ghế của ông, Sarah đặt má lên mái tóc hoa râm của chồng.
– Mình ra kiếm Ari đi. Hãy nói với con về cô ấy, và cũng hãy…
Barak vỗ nhè nhẹ lên tay vợ.
– Rồi, ta ra gặp nó.
Ông kiếm thấy con trai đứng gần vườn trồng cây ăn trái, mắt nhìn đăm đăm về các quả đồi có Gan Dafna.
– Con yêu cô gái đó đến như thế sao, con?
Ari càu nhàu:
– Ích gì đâu? Nàng từ một thế giới đầy lụa và hương thơm đến, bây giờ nàng lại trở về đó. Xét cho kỹ, chuyện đó là bình thường.
Barak cầm lấy cánh tay con, và qua cánh đồng, ông tiến về chỗ giòng Jourdain chảy dọc ven trại. Bên kia sông, hai người trông thấy David và Jordana đang phi ngựa như bay. Họ nghe thấy tiếng cười của cô gái.
– Con thấy không? Jordana đã nguôi rồi. Này con, mọi việc của Palmach ra sao ở Ein Or?
– Như thường lệ, bố. Nhiều thanh niên khá, nhiều thiếu nữ tận tụy, nhưng họ quá thiếu thốn trang bị. Thật là điên khi hy vọng thắng trận chống lại bẩy đạo quân Ả-rập.
Chậm chạp, hai người trở về nhà. Đột nhiên Ari cảm thấy bàn tay mạnh mẽ của bố xiết chặt lấy vai mình. Chàng kinh ngạc khi thấy con người to lớn này đầu gục thấp xuống, như một nỗi buồn đè nặng trĩu.
– Nghe đây con. Hai ngày nữa bố sẽ lại lên đường đi Genève. Chưa bao giờ bố ra đi mà trong lòng buồn như vậy. Từ mười lăm năm nay rồi, đã có một người vắng mặt nơi bàn ăn của chúng ta. Bố đã là một con người kiêu ngạo, bướng bỉnh đến độ kinh khủng, nhưng có Chúa chứng kiến bố đã trả giá cho lòng kiêu hãnh bướng bỉnh này. Ngày hôm nay, buồn bã hành hạ bố như bị đầy xuống địa ngục. Ari con, bố chỉ còn biết trông cậy vào con thôi: con đừng để em Akiba của bố treo lủng lẳng ở đầu một sợi dây thừng của người Anh!

.

3-14

Từ khi Akiba và Dov Landau bị bắt, các Macchabée đã cắt đứt hoàn toàn liên lạc với Haganah. Ari phải lùng mãi mới ra Bar Israël và thuyết phục được hắn – bằng cách nâng bổng hắn lên mà lắc như rung cây – dẫn chàng tới gặp Ben Moshé.
May mắn thay Ben Moshé, mặc dù hoàn toàn nghi ngờ Haganah là đã phản bội, cũng biết rõ lòng chính trực của Ari để trình bày dự tính của Macchabée: họ định giải thoát hai tù nhân bằng một cuộc tấn công đại qui mô vào nhà tù Acre. Ben Moshé đưa Ari coi kế hoạch hành quân: cả một hồ sơ đầy đủ trong đó khu vực phụ cận cũng như bên trong của nhà tù đều được vẽ đủ, ước tính đến từng thước (hầu hết là nhờ ở các tin tức được các Macchabée đã từng bị giam giữ trong đó cung cấp), mỗi bước đi của toán biệt kích đều được tính sát tới từng giây, các cơ sở phải hủy, các địa điểm cần phải chiếm, các chướng ngại phải phá bằng lựu đạn, mìn, chất nổ đều được ghi chính xác. Đó là một hồ sơ mà bất cứ một Bộ tham mưu hiện đại nào có được cũng lấy làm hãnh diện. Ari nghiên cứu tất cả rất lâu. Ben Moshé hỏi:
– Anh nghĩ sao?
– Tất cả đều hoàn toàn, trừ một điểm. Tôi hiểu các anh định làm thế nào để tiến vào nhà tù và rút ra. Nhưng sau đó, để rút lui ra khỏi thị trấn… – chàng lắc đầu – không được đâu anh.
– Tôi biết hy vọng rút lui thoát của chúng tôi rất mỏng manh…
– Theo ý tôi thì không có tí hy vọng nào rút nổi cả. Các anh đều sẽ trở thành anh hùng, nhưng anh hùng tử trận. Quả thực rõ ràng là kế hoạch này sẽ mang lại cho các anh một trăm hay hai trăm anh hùng tuẫn quốc nữa mà thôi. Trong khi nếu các anh để tôi tính đường rút, chúng ta sẽ có may mắn là năm mươi phần trăm.
– Tôi cũng chẳng mong gì hơn. Anh cắt nghĩa ý kiến đi xem sao.
Ari suy nghĩ rất nhanh.
– Trước hết, tôi đề nghị một khi đã vào được nhà tù, các anh sẽ cố thủ trong đó từ mười lăm đến hai mươi phút để giải thoát tất cả các tù nhân. Những người này sẽ chạy tứ tán về mọi hướng, làm người Anh phải đuổi theo họ, nghĩa là làm phân tán lực lượng của người Anh đi.
– Hoàn toàn đồng ý.
– Các toán xung kích của chúng ta cũng thế, sau khi hành động xong cũng chia làm nhiều toán nhỏ, mỗi toán tự lực ra khỏi thị trấn bằng một lộ trình riêng. Tôi sẽ có thể mang theo chú Akiba của tôi, còn phía anh mang theo Dov.
– Vẫn đồng ý.
– Tôi chuồn về phía Kfar Masaryk và sẽ đổi xe ở đó. Rồi qua các đường núi, tôi sẽ đến Carmel ở phía Haïfa để ẩn trú ở Daliyat, một làng của dân Druse mà tôi có nhiều bạn tin cậy được. Người Anh không bao giờ nghĩ tới việc lên kiếm tôi ở trên đó đâu.
Ben Moshé gật đầu. Ông biết rằng có thể tin cậy được ở người Druse. Ari nói tiếp:
– Còn anh, anh có thể chạy dọc duyên hải đến Nahariya. Đến đó, quân của anh sẽ chém vè. Theo ý tôi, chỗ trốn tốt nhất cho Dov Landau là kibboutz Mishmar trong vùng đồi biên thùy Syrie, một vùng đầy rẫy hang động. Dov sẽ an toàn ở đó.
Đứng bất động, Ben Moshé chăm chú nhìn các sơ đồ đang trải trên bàn. Không được xử dụng tự do các nơi ẩn trú này, cuộc tấn công nhà tù sẽ chỉ là một cuộc hành quân tự sát tuyệt đẹp mà thôi. Với sự trợ giúp của Ari, nhân vật nhiều thế lực của Haganah, cuộc tấn công này khả dĩ có thể thành công. Nhưng vấn đề chính ra lại là liệu ông có dám liều nhận sự hợp tác này hay không? Sau cùng, ông tuyên bố:
– Được rồi đồng ý. Tôi trao cho anh việc chuẩn bị các đường rút. Nhưng anh đừng quên điều này: tôi quyết định như vậy chỉ vì anh là Ben Canaan mà thôi.

Ngày N trừ 4:
Không còn một vụ biểu tình nào của người Ả-rập, cũng không có một cuộc tấn công nào của các Macchabée. Thị trấn Acre đã có phong dáng của một pháo lũy trong đó đi đi lại lại hàng trăm cảnh sát Anh mặc thường phục.
Ngày N trừ 3:
Thủ tướng Anh quốc mời Akiba và Dov Landau ký đơn xin ân xá. Hai tù nhân đều khước từ.
Ngày N:
Đó cũng là ngày phiên chợ của Acre. Ngay từ sáng sớm, các nông dân của hai mươi làng Ả-rập chung quanh đều đổ xô về thị trấn. Công trường lớn chưa chi đã đầy ngổn ngang những xe bò, xe lừa cùng hàng hóa.
Các Macchabée gốc từ các quốc gia phương Đông và Phi châu, đã ngụy trang thành những người Ả-rập, lợi dụng đám đông lộn xộn trà trộn len vào Acre. Mỗi người, đàn ông cũng như đàn bà đều giấu dưới quần áo vài thỏi chất nổ, ngòi nổ, các cuộn dây điện, lựu đạn, vũ khí cá nhân. Họ trà trộn vào đám đông ngay trong vùng phụ cận của nhà tù.
11 giờ: giờ G trừ 2.
Bây giờ đã có tới hai trăm năm mươi Macchabée đi lại trong Acre.
11 giờ 15: giờ G trừ 1g45.
Ngoài thị trấn, trên đồi Napoléon, một đơn vị thứ hai của Macchabée tập trung lại ba xe cam-nhông chở đầy các lính Anh giả tiến vào Acre và dừng lại dọc theo cầu tầu, gần ngay cạnh tường thành nhà ngục. Các “người lính” xuống đất, từng toán bốn người một đi khắp các nẻo đường như để tuần tiễu. Số quân nhân thực đông đến nỗi không ai để ý tới việc một trăm người này tới.
12 giờ trưa: giờ G kém 1 giờ.
Ari Ben Canaan, mặc quân phục thiếu tá quân lực Anh, cho lệnh tài xế xe mình, một chiếc xe kiểu tham mưu, tiến về cầu tầu. Chàng xuống đất đi bộ tới tận đầu đằng kia. Đứng tựa vào một khẩu thần công cổ của Thổ, chàng châm một điếu thuốc lá và ngắm dưới chân mình những làn sóng đập vỡ tan trên những tảng đá đầy rêu.
12 giờ 10: giờ G kém 50 phút.
Các cửa hàng đã đóng cửa. Bị khí nóng ngột ngạt, các quân nhân Anh (thật) hoạt động thật uể oải. Từ trên tháp cầu kinh cao, vị muzzein kêu gọi các tín đồ cầu nguyện.
12 giờ 12: giờ G kém 48 phút.
Từ từ, len lén, các Macchabée đến tập trung ở các điểm xuất phát.
Toán thứ nhất ở tiệm cà-phê Abou Christos (cha của Đấng Ki-tô), ven bờ vịnh.
Toán thứ hai, quan trọng hơn, ở giáo đường Hồi giáo. Những người này trà trộn với những người Ả-rập đang quì gối cầu kinh trong sân rộng.
Đơn vị thứ ba lẩn trong đám lạc đà, lừa, Ả-rập đang thiếp ngủ trên đất bao phủ khoảng cát rộng của Khan, công trường vĩ đại được dùng làm nơi nghỉ chân cho các đoàn lữ hành cũng như dùng làm nơi họp chợ.
Đơn vị thứ tư tập họp ở bến tầu, gần chỗ thả neo của các thuyền đánh cá.
Đơn vị thứ năm ở ngay trên cầu tầu.
Còn về một trăm lính Anh giả, họ lợi dụng khả năng tự do di chuyển do bộ quân phục Anh mang lại để chiếm cứ các mái nhà phẳng, chặn các đường hẻm, cản các đường lớn, như thế nào để kiểm soát tất cả các lối vào nhà tù.
12 giờ 45: giờ G kém 15 phút.
Ben Moshé và Nahoum Ben Ami nhận thấy tất cả mọi người đã đến vị trí. Họ nhìn về phía nhà tù: một trong bốn “người đồng lõa bên trong” cho dấu hiệu là tất cả mọi sự đều đã sẵn sàng.
Trên vòng đai ngoài của Acre, một đơn vị chót – những người không ngụy trang gì hết – đã đặt mìn xong mọi con đường và bố trí xong các ổ liên thanh. Đơn vị này sẽ chặn đứng, hay ít ra cũng làm chậm trễ các lực lượng Anh tăng viện nếu có.
Trên cầu tầu, Ari ném điếu thuốc xuống nước. Đi rảo bước, chiếc xe hơi lăn bánh theo sau, chàng hướng về điểm tấn công. Đồng thời cũng tiến tới điểm đó là nhiều toán nhỏ của hai trăm năm chục đàn ông đàn bà ăn mặc như Ả-rập của đơn vị xung kích.
Mọi người đã chọn điểm tấn công là một hamman ở sát tường thành phía nam của nhà tù. Ở cuối nhà tắm hơi này, có một cái sân để khách hàng tắm nắng. Từ sân này, một cầu thang dẫn lên tới tận mái nhà chạm sát vào tường thành. Các Macchabée đã khám phá ra rằng quân Anh, từ các đài quan sát và trạm gác trong ngục, có thể coi chừng tất cả các đường tiến sát, từ tất cả mọi chiều hướng đến, ngoại trừ cái sân và mái nhà của hamman. Vậy đó sẽ là điểm tấn công.
1 giờ trưa: giờ G.
Ben Moshé, Ben Canaan, Nahoum Ben Ami ra lệnh. Cuộc tấn công vào nhà tù bắt đầu.
Dẫn đầu một toán tiền phong năm mươi người mang chất nổ, Ari lao vào hamman. Trước sự đột nhập này, các khách hàng Ả-rập đang ngồi xổm trong đám hơi nước dầy đặc đã la hét sợ hãi. Để cho đợt thứ hai lo nhốt cái đám người trần truồng thô tục đang la hét này, Ari rảo bước dẫn quân tiến vào sân. Leo các bậc thang, họ băng qua mái nhà để đặt chất nổ vào tường nhà tù. Sau vài giây để gắn ngòi nổ, họ lui xuống sân rồi nằm bẹp xuống.
Đúng 1 giờ 15, một tiếng nổ làm rung chuyển cả thị trấn. Khi khói chậm chạp tan ra, một lỗ lớn đã thủng trong tường nhà tù.
Ngay khi có tiếng nổ, bốn đồng lõa bên trong hoạt động ngay. Người thứ nhất ném một trái lựu đạn vào trung tâm điện thoại để cắt đứt ngay liên lạc với bên ngoài. Người thứ hai, cũng bằng cách ấy, phá hủy khu kiểm soát phân phối điện lực chính: không còn ánh sáng, không còn hệ thống báo động nữa. Người thứ ba bắt sống quản ngục, trong văn phòng có sẵn chìa khóa tất cả các phòng giam. Còn người thứ tư lao về phía lỗ thủng để hướng dẫn các Macchabée trong các hành lang rắc rối của nhà tù.
Các lực lượng của Ari trước hết nhằm chiếm kho vũ khí và chặn cứng khu các lính gác tù để làm tê liệt hoàn toàn mọi kháng cự. Hai mục tiêu này đã đạt được trong vòng một phút.
Vượt qua lỗ thủng ở tường, các đơn vị khác kế tiếp nhau thực hiện những nhiệm vụ đã được chỉ định trước. Trong các hành lang và các lối đi vòm cong, tiếng người chạy rầm rập, điểm nhịp bằng những tiếng lựu đạn nổ và tràng tiểu liên. Nhờ đã chuẩn bị kỹ lưỡng kế hoạch hành quân, các Macchabée mất đúng sáu phút để làm chủ hoàn toàn nhà ngục. Trong thời gian này, các lực lượng yểm trợ bên ngoài kìm giữ các quân sĩ và cảnh sát Anh mà tiếng nổ lớn đã báo động, đang cố gắng tiến vào nhà tù.
Chưa chi các cửa nhà giam đã vỡ tan dưới các nhát rìu và báng súng. Các tù nhân được giải thoát, Do-thái và Ả-rập lẫn lộn, được hướng dẫn chạy thật nhanh về lỗ thủng ở tường để rồi chạy phân tán ra ngoài theo đủ mọi hướng.
Đi cùng năm người nữa và đẩy quản ngục đang điên lên vì sợ, Ari lao về các xà-lim tử tội. Một trái mìn từ tính thanh toán luôn chiếc cửa bọc thép chặn lối vào hành lang. Một trái lựu đạn nữa làm bốn lính gác các tội nhân án treo cổ bỏ chạy luôn. Bằng một tay run rẩy, quản ngục mở khóa các xà-lim. Akiba và Dov được dìu, bế xốc đi thật nhanh, vượt qua lỗ thủng, băng qua hamman ra ngoài. Mọi người kéo Dov lên một cam-nhông đầy lính Anh giả, mở máy chạy ngay ra con đường đi Nahariya. Hai phút sau, trong chiếc xe tham mưu, Akiba và Ari phóng hết tốc lực theo một hướng khác.
Đúng từ lúc khởi đầu trận đánh trên mái nhà tắm Thổ, gần lỗ thủng ở tường, Ben Moshé thổi một tiếng còi ra lệnh lui quân. Khi Macchabée sau cùng rời khỏi nhà tù, đó là phút thứ hai mươi mốt sau khi có tiếng nổ đã đục thủng lỗ nhà tù Acre.
Chiếc xe trên có Dov bị săn đuổi dọc duyên hải bởi một đoàn quân Anh. Chạy đến trung tâm thị trấn Nahaiya hoàn toàn Do-thái, chiếc xe dừng lại. Nahoum Ben Ami và Dov bôn tẩu bằng chân về kibboutz Ha Mishmar, trong khi các Macchabée khác mở rộng ra hàng quân chặn hậu để làm trì hoãn các quân truy kích. Toán quân này thành công trong việc kìm quân Anh lại để cho Nahoum và Dov chạy thoát được vào vùng đồi, nhưng đó là một trận chiến tự sát: toàn thể mười bẩy thanh niên nam nữ của toán này, không có lấy một người nào sống sót.
Chiếc xe tham mưu chở Ari và Akiba đã lao vào một con đường dẫn vào nội địa, hướng về kibboutz Kafar Masaryk. Khi leo lên dốc đồi Napoléon, một toán Macchabée chặn lại. Viên chỉ huy toán này cắt nghĩa:
– Anh phải đi đường tắt. Cách đây một quãng, đường gài mìn rồi. Hơn nữa, đại đội quân Anh đang định phá xuyên qua vị trí chúng tôi về hướng Acre.
Ari hỏi:
– Đường tắt nào bây giờ?
Viên chỉ huy Macchabée nhún vai:
– Tôi cũng không biết nốt. Bản đồ không có ghi.
– Không cần. Anh tài xế ạ, anh thấy anh có đủ sức chạy bọc quân Anh bằng cách băng đồng không?
– Ta cứ thử xem.
Họ tránh được chủ lực Anh, nhưng khi chiếc xe định leo lên mặt đường, chừng một tiểu đội trông thấy liền vừa nổ súng vừa rượt theo. Ari đẩy mạnh Akiba nằm xuống sàn xe. Chiếc xe bị lảo đảo vì bị trúng đạn, suýt nữa lật. Bám chặt vào tay lái, tài xế phải chạy chậm lại để lấy lại thăng bằng rồi cài số de để leo lên mặt đường. Những giây phút bỏ mất vì việc này đã cho phép hai quân Anh trang bị tiểu liên lại gần. Bắn qua cửa kính sau, Ari hạ được một người. Đồng thời, người lính thứ hai nổ súng.
Akiba thét lên một tiếng. Một loạt đạn thứ hai bắn xuyên vào xe. Rồi bánh xe đã lăn được trên mặt nhựa đường, xe chồm lên hắt Ari ngã chúi vào Akiba.
Sau vài cây số, tài xế cho xe chạy chậm lại, lo lắng hỏi:
– Không sao cả chứ?
Ari lầu nhầu:
– Cả hai chúng tôi đều bị thương rồi.
Chàng ngắm nghía chân phải. Viên đạn đã lọt vào phía sau chân và không chui ra. Nhưng dầu sao, đau đớn còn ở mức chịu được.
Chàng quì xuống lật ngửa Akiba ra, xé chiếc áo đẫm máu của ông ra. Ngực ông già bị một vết thương lớn.
Akiba không bất tỉnh. Bằng một tay hãy còn cứng cỏi, ông kéo đứa cháu lại gần.
– Nặng lắm phải không cháu? Cháu có tin là chú có thể thoát chết được không?
– Không, thưa chú.
– Nếu vậy cháu hãy đưa chú đến một nơi nào kín đáo… cháu hiểu chứ…
– Cháu hiểu lắm…
Ở Kfar Masaryk, chừng mười người đã đợi sẵn. Mọi người giấu chiếc xe tham mưu và đưa hai kẻ đào tẩu lên một xe vận tải. Akiba đã ngất đi. Ari chỉ có đủ thì giờ rắc một ít bột sulfamide lên cẳng chân bị thương và băng bó sơ sài. Khi người tài xế đề nghị trao phó Akiba cho người trong kibboutz này để cho một y sĩ săn sóc, Ari lắc đầu:
– Ông chỉ có hy vọng một phần ngàn là thoát chết. Nếu để ông chết ở đây, tất cả Palestine đều hay. Chúng ta không được để cho quân Anh biết là Akiba đã chết.
Họ lại ra đi, người tài xế và một Macchabée nữa ngồi trên ca-bin xe. Ari và Akiba ngồi phía sau xe. Ari nghiến chặt răng. Chân bắt đầu làm cho chàng đau đớn ghê gớm.
Cuộc hành trình hầu như bất tận. Sau cùng, qua những dốc chót của ngọn Carmel, họ tới vùng cao nguyên cô độc của lãnh thổ sắc dân Druse.
Đứng ở lối vào khu rừng nhỏ cạnh một chiếc xe lửa kéo, Moussah, người Druse và cũng là đoàn viên của Haganah, ra dấu cho họ dừng lại. Ari bước xuống một cách vụng về, một tay xiết chặt lấy chân bị thương. Quần áo chàng đẫm máu Akiba. Moussah vội chạy lại để đỡ chàng. Ari nói:
– Tôi không sao hết. Hãy giúp tôi đưa ông Akiba ra. Ông chết rồi.
Họ mang xác người chiến sĩ già vào chiếc xe lừa. Ari quay lại hai đoàn viên Macchabée.
– Phải giấu kín cái chết của ông Akiba. Các anh chỉ được báo cho Ben Moshé hay Nahoum Ben Ami biết mà thôi. Bây giờ các anh mang chiếc cam-nhông này đi, chùi rửa thật sạch không còn vết tích nào. Moussah sẽ giúp tôi chôn cất chú tôi.
Vào lúc hoàng hôn, chiếc xe leo tới đỉnh cao nhất của ngọn Carmel. Xe dừng lại gần một khu rừng nhỏ, gần đền thờ đấng tiên tri Elie từ hai ngàn năm trăm năm nay vẫn nhìn đến thung lũng Jesreel. Moussah và Ari xuống xe và bắt đầu đào một nấm mồ. Ari nói nhỏ:
– Phải cởi bộ quần áo đỏ khốn kiếp này ra cho ông.
Sau khi đã được lột bỏ y phục của tử tội, xác Akiba được hạ huyệt rồi phủ đất và cành lá lên trên. Kín đáo, Moussah lảng ra xa.
Ari cầu nguyện rất lâu trước mộ của chú mình. Jacob Rabinsky đã sống trong phẫn nộ để rồi tìm thấy cái chết trong bi thảm. Bây giờ sau cùng ông đã được thứ bình an mà ông không bao giờ được hưởng trong cuộc đời. Ông sẽ an nghỉ ngàn thu trên ngọn núi mà từ đó con người có thể nhìn thấy vùng đất Chúa đã hứa cho người Hébreu.
– Vĩnh biệt chú Akiba… cháu cũng chưa kịp báo cho chú biết là bố của cháu đã tha lỗi cho chú rồi…
Chàng đứng dậy. Đột nhiên chàng loạng choạng. Moussah chạy tới kịp thời để đỡ lấy Ari ngất xỉu trong tay mình.

.

3-15

Kitty ra khỏi văn phòng bác sĩ Lieberman, người đã một lần nữa đã thử thuyết phục – một cách vô ích – nàng rút đơn từ chức lại. Buổi tối, ngay sau bữa cơm chiều, nàng phải dự một buổi lễ giã từ do thiếu niên trong trại tổ chức để tiễn nàng và Karen, buổi lễ mà nàng hơi e ngại – nhất là từ lúc loan báo tin Macchabée đã tấn công nhà tù Acre. Trong vụ này, các Macchabée đã mất ba mươi lăm thanh niên nam nữ – hai mươi người tử trận trong đó có Ben Moshé, mười lăm bị bắt làm tù binh. Không ai biết rõ số người bị thương mà các bạn đồng đội mang theo. Đó là một giá khá cao để cứu lấy hai mạng người… ngoại trừ khi quan niệm rằng Akiba và Dov là một cái gì khác hơn là hai mạng người. Nhìn dưới khía cạnh chính trị, dĩ nhiên trận tấn công cướp tù này là một thành công tuyệt đẹp.
Nàng bước lên các bậc thang của bệnh viện và tiến vào văn phòng của mình. Nàng có ý định xét lại một lần chót các phiếu y lý của các trẻ em đau thần kinh. Nhưng chưa chi nàng đã bỏ dở công việc. Những đứa trẻ đáng thương này, nàng có quyền từ bỏ chúng khi chúng đang cần đến nàng như vậy không? Muốn thoát ra khỏi những thắc mắc lương tâm sẽ làm cho chuyến ra đi của nàng khó khăn hơn, Kitty mở ngăn kéo kiếm thuốc trị loại thắc mắc đó: sổ thông hành của nàng và của Karen, hai vé máy bay Lydda – Nữu-ước.
Đột nhiên nàng cảm thấy sau lưng mình có một hiện diện kỳ lạ. Nàng quay lưng lại, cố gắng hét một tiếng kêu. Trên ngưỡng cửa, một người Ả-rập bộ ria to bự bóng loáng, mặc một y phục Tây phương kẻ sọc, đội một chiếc mũ fez đỏ có quấn một băng vải trắng. Hắn nói bằng một giọng thân hữu:
– Tôi xin lỗi. Tôi không hề muốn làm bà sợ. Tôi vào được không?
Ngạc nhiên thấy người đó nói tiếng Anh, Kitty gật đầu. Người Ả-rập bước vào và đóng cửa lại.
– Chắc bà là bà Fremont?
– Vâng, tôi đây.
Tôi là Moussah. Tôi là dân Druse. Chắc bà đã nghe thấy mọi người nói tới chúng tôi.
Kitty biết mơ hồ rằng dân Druse là một môn phái Hồi giáo sống ở phần phía trên ngọn Carmel. Nàng cũng nhớ rằng sắc dân này không hề chia xẻ sự hận thù của dân Ả-rập đối với người Do-thái.
Người đàn ông nói thêm:
– Tôi là đoàn viên của Haganah.
Nàng thốt lên trong một hơi thở:
– Anh Ari nhưng
– Anh đang trốn ở Daliyat, làng tôi. Chính anh đã chỉ huy cuộc tấn công vào nhà tù Acre. Anh yêu cầu bà lại ngay. Tôi cũng phải nói bà hay là anh bị thương nặng. Bà có nhận đi cùng tôi không?
– Chắc chắn có rồi.
– Bà đừng mang theo thuốc men. Chúng ta phải hết sức thận trọng. Người Anh đã lập rất nhiều chặng kiểm soát và nếu họ khám phá ra thuốc men, họ nghi ngờ ngay. Ari khuyên nên lấy một xe cam-nhông và mang theo chừng hai ba mươi em. Chúng tôi nói với người Anh là chúng tôi mời các em tới dự một đám cưới cử hành vào ngày mai ở làng tôi. Nếu bà có thể tập hợp các em… chúng nên mang theo túi ngủ…
Kitty ngắt lời:
– Chúng tôi sẽ sẵn sàng trong mười phút nữa.
Vừa đi như chạy, nàng bổ tới văn phòng bác sĩ Lieberman.
Chuyến đi dài: chừng tám mươi cây số qua những con đường núi mà xe chỉ leo được rất chậm. Giữa đám trẻ con đang vui mừng vô lý, ngồi giữa Karen và Moussah cầm lái, nàng nghĩ tới những viên đạn đã tiến vào sâu trong bắp chân… Ari không thể nào đứng lên nổi… đau đớn ghê khiếp… mất máu nhiều. Để săn sóc người bị thương nàng chỉ có vài thứ thuốc trong túi cứu thương mà nàng mặc kệ lời cảnh cáo của Moussah: vài cuộn băng, teinture d’iode, sulfamide, tất cả giấu trong túi đựng bao tay.
Đến trạm kiểm soát thứ nhất, quân Anh bắt tất cả mọi người xuống xe. Các quân lính tháo tất cả các túi ngủ ra, đâm dăm ba nhát lưỡi lê, xét dưới gầm xe, tháo các bánh sơ-cua ra coi. Họ khám động cơ, lục soát từng trẻ em một. Kitty nghiến răng chặt coi đồng hồ: mất thêm một tiếng rưỡi rồi…
Các quân sĩ ở trạm kiểm soát thứ hai ở chân ngọn Carmel cũng không kém tỉ mỉ cẩn thận. Kitty gần như hết sức chịu đựng thì chiếc xe được phép ra đi để leo lên những đường núi hẹp ngoằn ngoèo đưa lên đỉnh. Moussah cắt nghĩa:
– Tất cả những làng Druse đều ở trên cao hết. Chúng tôi là một sắc dân thiểu số nên bắt buộc phải chọn các cao địa để dễ chống cự với các cuộc tấn công của dân Ả-rập.
Một giờ rưỡi sau họ tiến vào Daliyat, một tổ phụng hoàng nằm tít trên một cao nguyên chung quanh dốc ngược.
So với các làng Ả-rập ở dưới đồng bằng, Daliyat, với các ngôi nhà trắng xóa, có vẻ xinh xắn sạch sẽ đến độ đáng ngạc nhiên. Các dân đinh cũng khác và khá hơn các dân Hồi giáo khác ở Palestine. Nhiều đàn ông ăn mặc theo kiểu Tây phương. Phụ nữ xinh xắn, một số trẻ con rất đẹp, khỏe mạnh và linh hoạt.
Chiếc xe rẽ từ từ qua đám đông quan khách tụ tập nơi này để dự đám cưới sẽ cử hành vào ngày mai. Xe dừng trước phòng chính lễ, các trẻ con nhẩy xuống đất, và mang theo túi ngủ. Chúng chạy đến lập trại ở một khoảng đất kế cận. Kitty và Karen ngồi lại trong ca-bin xe. Moussah lại cho xe chạy qua đường phố chính rồi quẹo vào một ngõ nhỏ dốc ngược. Moussah nói:
– Còn trăm thước chót này chúng ta sẽ đi bộ. Đường này dốc quá thắng xe không đủ sức chịu.
Moussah đưa Kitty và Karen đến ngôi nhà cuối làng có chừng mười người Druse võ trang đứng gác. Phía trong, hai người nữa đứng canh trước một cánh cửa. Kitty quay lại Karen:
– Em đợi cô ở đây đi. Nếu cô cần, cô sẽ gọi. Anh Moussah, xin anh đi với tôi.
Trong phòng hầu như tối hoàn toàn. Kitty nghe thấy một tiếng rên. Nàng tiến về phía cửa sổ, mở tung các cánh.
Ari nằm dài trên một chiếc giường đồng lớn. Các thanh giường đã cong vì tay Ari níu vào, đủ cho biết chàng đã đau đớn đến mức nào. Kitty lật chăn. Quần áo Ari cùng chăn nệm đều đẫm máu.
– Anh Moussah giúp tôi cởi quần anh Ari ra hộ.
Moussah không giấu nổi một cái giật mình. Kitty trách:
– Đâu không phải lúc thẹn thò về những chuyện như thế. Thôi, tôi cũng cởi nổi một mình rồi. Bây giờ anh dang ra đừng đứng đó làm vướng tôi thì có.
Sau khi cắt bỏ vải quần, Kitty xem xét vết thương. Mầu da hầu như bình thường, mạch đập tương đối cao. So sánh hai chân, nàng nhận thấy chân bị thương chỉ hơi sưng thôi. Yên tâm, nàng tìm lại ngay được tính cứng rắn nghề nghiệp.
– Anh Moussah, mang ngay lại đây cho tôi xà-bông, nước, khăn sạch. Tôi sẽ thử thăm dò vết thương.
Khi nàng thận trọng đưa tay thăm dò quanh vết thương, Ari mở mắt.
– Kitty! Cám ơn Trời… cô đã đến được…
– Anh đã làm gì để chữa trị?
– Chiều qua, tôi đã rắc bột sulfamide. Tôi cũng quấn băng ép, nhưng vào lúc đó, máu không ra nhiều…
– Tốt. Tôi bắt buộc phải kiếm đạn trong chân anh – anh sẽ đau ghê lắm đó.
– Cô làm đi!
Nhưng khi nàng mới ấn mạnh ngón tay trên vết thương, Ari đã rên lên. Mặt ướt đẫm mồ hôi, chàng nắm lấy thành giường. Kitty vội rút tay lại. Nhưng Ari vẫn tiếp tục run lên. Cơn đau chỉ dịu đi sau nhiều phút. Kitty cúi xuống lau trán cho chàng.
– Anh có đủ sức nói không?
– Đủ. Bây giờ đỡ hơn rồi. Thứ đau đớn này – lúc nó xuất hiện, lúc nó biến đi… Bao nhiêu là rắc rối vì cái cẳng bị hư này! Tôi thật là thảm hại. Cô có hiểu tại sao không?
Nàng lo âu nói:
– Hiểu và không hiểu. Một viên đạn có thể rắc rối lắm. Không thể biết nó đi qua đâu hay nấp vào chỗ nào. Tình trạng chung của anh không có gì đáng lo: mạch và nhịp thở bình thường, không bị choc, chân chỉ sưng ở phần chung quanh vết thương thôi. Như vậy là không có xuất huyết bên trong: viên đạn không chạm tới động mạch. Cũng không bị nhiễm độc nữa. Nói chung, anh may mắn đó. Điều duy nhất làm tôi thắc mắc không hiểu là thứ đau đớn ghê gớm của anh thôi.
– Đúng thế. Cứ hai hay ba tiếng, tôi lại ngất xỉu đi một lần.
– Anh nắm lấy các thành giường đi. Tôi phải xem lại vết thương.
Nhưng sau vài giây, nàng lại phải thôi. Thét lên một tiếng, Ari cong tung người lên rồi sụm xuống, không thở nổi. Lần này các co quắp run rẩy kéo dài tới mười phút mới hết. Ari rên rỉ:
– A, khốn nạn quá! Kitty, cô hãy cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao một viên đạn tầm thường lại có thể làm đau đớn đến như thế được…
Kitty lắc đầu:
– Tôi không phải là y sĩ. Tôi có thể đoán lầm lắm. Tôi không dám đưa ra một định bệnh nào…
Ari hổn hển:
– Thì cô cứ nói cô đã phỏng đoán ra sao cũng được.
– Nếu anh muốn, cũng xin vâng… Viên đạn đã chạm vào xương. Đạn không làm vỡ xương bởi vì anh còn đi được sau khi bị thương, nhưng chắc nó đã gây ra một vết rạn nứt hay làm sứt một mảnh xương. Có lẽ như thế là đủ cắt nghĩa tại sao đau đớn như vậy. Nhưng tôi, tôi tin có lẽ là viên đạn trượt trên xương rồi nằm áp sát ngay vào một dây thần kinh.
– Trong trường hợp như thế, phải làm gì?
– Lấy viên đạn ra với bất cứ giá nào. Nỗi đau đớn này sau cùng có thể làm anh chết hay ít nhất cũng có thể làm tê liệt. Nhưng không thể có vấn đề chở anh xuống dưới đồng bằng. Chúng ta sẽ bị nguy hiểm hơn, nhất là sự xuất huyết bên trong. Do đó, phải tìm cách gọi y sĩ đến đây – trong nội vài giờ nữa thôi, nếu muốn tránh tình trạng trầm trọng hơn.
Ari ngửng đầu lên nhìn Moussah. Người dân Druse này giơ tay làm một cử chỉ biểu lộ bất lực.
Kitty đứng dậy. Bằng một bàn tay run rẩy, nàng châm một điếu thuốc lá nói:
– Trong trường hợp như thế này, tôi chỉ thấy còn một cách: anh ra đầu hàng người Anh để được săn sóc đúng cách.
Ari ra dấu, Moussah đi ra.
– Lại gần tôi đi, Kitty.
Chàng cầm lấy tay nàng:
– Cách giải quyết của Kitty không đi tới đâu hết. Người Anh sẽ treo cổ tôi. Chỉ có em là cứu được tôi thôi, Kitty.
Cổ họng khô lại, Kitty rút tay và lùi lại tựa người vào tường. Ari, bây giờ rất điềm tĩnh, nhìn nàng một cách nghiêm trang.
– Em không làm được đâu… Em không phải là y sĩ…
– Em phải làm bằng được, còn cách nào nữa đâu.
– Em không có dụng cụ…
– Tôi nhắc với em lần nữa là đâu có cách nào khác.
– Nhưng em không làm được… đau đớn sẽ giết chết anh mất… Anh sẽ không chống lại nổi đâu… Anh Ari, em sợ lắm.
Nàng ngồi gục xuống ghế. Hiển nhiên là Ari có lý: nếu người Anh nắm được kẻ đã điều khiển trận đánh cướp tù, họ sẽ treo cổ ngay. Nàng là hy vọng độc nhất của chàng: dầu sao, không làm gì hết, cũng là đưa chàng đến chỗ chết.
Nàng đã quyết định. Nhìn thấy một chai rượu mạnh trong phòng, nàng đưa lại cho Ari.
– Anh hãy bắt đầu bằng cách uống chai này. Khi cạn chai, em sẽ đưa cho anh chai khác. Anh hãy uống say thật cẩn thận, chúng ta chỉ có mỗi loại thuốc mê này thôi. Và em cũng phải nói anh sẽ đau đớn kinh khủng lên được.
– Cám ơn Kitty.
Nàng ra mở cửa.
– Anh Moussah! Chúng ta có thể kiếm thuốc men ở đâu?
– Ở kibboutz Yaggour.
– Một chuyến đi về sẽ mất bao nhiêu lâu?
– Đi thì nhanh. Về, đường khác vì quân tuần tiễu Anh, không thể đi trên đường lộ được. Bắt buộc phải đi bộ và leo dốc núi thì lâu lắm. Cho dù đi ngay bây giờ, cũng phải quá nửa đêm mới về tới đây.
– Được. Tôi sẽ lập một danh sách những gì cần thiết. Anh lo sao cho người bạn anh lên đường ngay lập tức. Nói với anh ta là phải nhanh lên.
Khi sắp viết danh sách thuốc men, nàng do dự. Người giao liên có thể trở về đây rất trễ. Hơn nữa, phòng y tế của kibboutz sẽ không có những thuốc mê thuốc tê nàng cần. Điều đó có nghĩa là nàng không thể chần chừ chờ đợi lâu hơn được nữa. Bởi thế nàng chỉ biên vào giấy yêu cầu cung cấp hai lít máu, trụ sinh, morphine, băng và một nhiệt kế. Moussah trao tờ giấy cho một người đứng canh, người này lập tức lên đường.
– Karen, cô sẽ cần tới em. Nhưng cô báo trước cho em biết là vụ này sẽ khó khăn, hết sức khó khăn đấy.
– Em sẽ chịu đựng được bất cứ cái gì để giúp cô.
– Tốt lắm, cưng. Anh Moussah, vì anh chẳng có bao nhiêu thuốc men trong làng nên chúng tôi sẽ thử làm việc với những gì chúng tôi đã mang theo được. Nhưng tôi cần có một đèn pin và… coi nào… vài lưỡi dao cạo chưa dùng lần nào hay một con dao nhỏ mài thật sắc.
– Tôi có thể tìm kiếm được các thứ đó.
– Tốt. Anh đun sôi những dao cạo và dao nhỏ đó trong nửa giờ cho tôi.
Moussah ra mở cửa ngoài, ra các chỉ thị Kitty dặn.
– Bây giờ anh trải chăn ra đất cho tôi. Giường nhún nhẩy quá không được, cần phải giữ người bị thương hoàn toàn bất động. Karen, ngay sau khi anh Ari đã được đưa xuống đất, em tháo những ra bẩn này đi. Chắc anh Moussah sẽ có thể đưa em ra mới thay thế.
Moussah nói:
– Dĩ nhiên rồi. Bà còn cần gì nữa không?
– Có chứ: tôi cần sáu hay bảy người để chuyển anh ấy xuống đất cùng để giữ chặn anh trong khi tôi mổ vết thương.
Các lệnh của nàng được thi hành nhanh chóng. Sau khi uống hết nửa chai rượu thứ hai, Ari đã say không nói được nữa. Mọi người khiêng chàng xuống chăn trải dưới đất. Kitty chèn thêm một cái gối dưới đầu và nhét một khăn tay vào giữa hai hàm răng. Rồi sau khi rửa tay, nàng rửa chỗ vết thương và bôi teinture d’iode. Nàng nói:
– Tôi sẵn sàng rồi. Cần nhất các anh phải giữ anh ấy thật chắc, không để nhúc nhích tới một phân nào.
Moussah đã mang vào tám người nữa: một người giữ đầu, hai người giữ hai tay, hai người nữa giữ chân lành, hai người chót giữ chân bị thương. Karen thì đứng, cầm đèn pin, chai rượu và băng bông. Kitty quỳ gối xuống.
Rạch một nhát chính xác, nàng mở các bắp thịt ngay bên trên lỗ đạn một đường dài năm phân. Ari giật mình mạnh đến nỗi những người dân Druse phải dùng hết sức của mình đè xuống.
Nhìn thấy môi Kitty tái đi và mắt lờ đờ, Karen vội nắm lấy tóc nàng và đưa ly rượu vào miệng. Kitty suýt sặc, nhưng nàng tỉnh trí lại được và uống thêm một ngụm thứ hai nữa. Ari đã ngất đi. Một tay Kitty vạch vết thương, tay kia nàng thăm dò bên trong. Nàng cảm thấy một vật cứng thoáng chạm vào móng tay trỏ. Sau một nỗ lực chót, nàng nắm được viên đạn và kéo ra ngoài.
Ngồi phịch xuống đất, nàng ngơ ngẩn nhìn viên đạn.
Nàng nấc lên một tiếng rồi đột nhiên phá lên cười như điên rồi òa lên khóc. Nàng hầu như không nghe tiếng nói vững vàng của Karen:
– Nhanh lên, đưa chú Ari lên giường. Cẩn thận, đừng để bất cứ cái gì chạm vào vết thương hết.
Cũng vẫn chính Karen rắc bột sulfamide vào vết thương và băng bó lại. Ngồi xụp trong một góc, Kitty vẫn khóc nức nở. Karen yêu cầu tất cả đàn ông ra khỏi phòng, rót cho Kitty một ly rượu nữa rồi sau cùng, cũng mở cửa ra khỏi phòng.
Chậm chạp, Kitty đứng dậy. Lại gần giường, nàng xem mạch, vạch các mi mắt lên coi, quan sát màu da.
Đúng… không còn nghi ngờ gì nữa, chàng sẽ qua khỏi.
Quì xuống, nàng đặt đầu mình lên bộ ngực rộng của Ari đang còn hôn mê, thì thào giữa hai tiếng nức nở:
– Anh Ari… anh Ari…

.

3-16

Tới sáng ngày hôm sau, thuốc men vẫn chưa về đến nơi. Bị đau đớn hành hạ, Ari không ngừng trăn trở và rên xiết. Kitty không rời chàng lúc nào, đã kiệt lực.
Nàng gọi Moussah đang đứng chờ ở lối vào nhà.
– Anh sắp phải đưa các trẻ con trở về Gan Dafna. Trong làng còn có ai biết nói tiếng Anh nữa không?
– Có chứ. Tôi sẽ nói với hắn túc trực gần bà.
– Cám ơn, bây giờ anh có thể kê thêm một chiếc giường khác hay một đi-văng không? Tôi ít nhất cũng một tuần nữa mới có thể rời bệnh nhân được.
– Tôi sẽ cho kê dọn ngay.
Trong phòng Karen ngồi trên một ghế dài, đã thiếp ngủ. Kitty dịu dàng đánh thức nàng dậy. Thiếu nữ hỏi:
– Anh ấy ra sao?
– Không được khá cho lắm. Anh đau đớn nhiều. Karen cưng, em phải trở về Yad El ngay bây giờ cùng với các trẻ em. Cô xin em, đừng có cãi cô. Em cắt nghĩa cho bác sĩ Lieberman hiểu là cô phải ở lại đây…
– Nhưng cô ơi, mai chúng ta phải lên tầu rồi mà…
– Em hủy chỗ đi. Đổi lui lại một thời gian… Cô cũng chẳng biết bao giờ cô mới rời nổi thương binh của chúng ta. Bây giờ một việc khác: em ghé qua Safed báo cho bác Bruce Sutherland biết và yêu cầu bác đợi cô ở Haïfa. Nhắc bác mang giùm cho cô ít quần áo.
Karen hôn nàng rồi ra đi.
Sau cùng, tới buổi chiều, thuốc men cũng lên tới nơi. Người giao liên đã phải nhiều lần lẩn trốn trong nhiều giờ để tránh các toán quân Anh đã được tung ra để lùng kiếm các Macchabée bị thương. Kitty tiếp cho Ari một lít huyết và rất nhiều liều trụ sinh để ngừa mọi nhiễm độc, chích một mũi morphine để làm dịu cơn đau ghê gớm.
Trong bốn mươi tám tiếng sau đó, nàng duy trì Ari trong tình trạng ù lì nhưng dễ chịu bằng morphine. Rồi nàng bắt đầu chích thưa dần đi. Bây giờ Ari, nhờ sức mạnh sẵn có và thần kinh hữu hạng, đã bắt đầu bình phục dần dần. Sáng ngày thứ năm, Ari đột nhiên tỉnh táo, đòi ăn và xin ngay một con dao cạo và gương soi. Bằng một giọng nữ điều dưỡng, nàng nói:
– Tôi nghĩ là cuối tuần này, chúng ta có thể thôi dùng morphine. Đến khi đó, anh sẽ bắt đầu tập đi với chân bị thương – một cách cẩn thận bởi vì vết thương chưa liền, dám lại toác ra nếu anh bắt bắp thịt cố gắng quá sức.
– Khi nào thì tôi lại có thể đi được?
– Khó biết lắm, ngày nào chúng ta chưa chiếu điện được chân anh. Có thể xương chỉ bị rạn thôi: nếu có mảnh, anh sẽ đau đớn như cũ. Dẫu thế nào, anh cũng không thể rời làng này ít nhất là trong một tháng nữa.
Nàng cúi xuống để kéo lại chăn.
– Anh có vẻ khỏe hẳn rồi đó, tôi đi dạo một vòng. Nửa giờ nữa tôi sẽ trở lại…
– Đợi chút đã, Kitty. Tôi… tôi muốn nói… cô đã săn sóc tôi khéo léo như một nàng tiên. Thế rồi đột nhiên cô lại cáu giận. Tại sao vậy? Tôi đã làm gì cô?
– Không có gì hết. Tôi chỉ kiệt sức thôi. Tôi đã coi sóc anh trong năm ngày năm đêm liền…
Ari ngắt lời nàng:
– Không phải thế. Tôi cảm thấy có một cái gì khác. Hãy nói cho tôi biết đi… cô hối tiếc là đã tới đây phải không?
Kitty nói nhỏ:
– Anh đã đoán đúng.
– Nhưng sao mới được chứ, Kitty? Vậy cô ghét tôi sao?
– Những điều tôi làm chưa đủ để chứng tỏ là tôi không ghét anh sao? Nhưng… thôi xin anh… tôi mệt thật rồi…
– Cắt nghĩa đi Kitty.
Nàng thở dài:
– Được rồi, nếu anh muốn thế. Tôi hận tôi, tôi khinh tôi vì đã lo lắng cho anh nhiều đến như thế. Rồi, nói vậy anh đã hài lòng chưa?
Ari lắc đầu:
– Đàn bà rắc rối! Tại sao cứ gặp nhau là chúng ta kình nhau như hai địch thủ đấu boxe vậy, lúc nào cũng sẵn sàng đánh ra, né tránh? Tại sao vậy?
Kitty nhìn chàng rất lâu.
– Có lẽ tại tôi không chịu chấp nhận tuân theo các quan niệm quá đơn giản của các anh: “Anh thích tôi, tôi thích anh, vậy chúng ta hãy ngủ với nhau”. Trang 444 cẩm nang của Palmach: Con trai con gái phải tránh tất cả mọi thẹn thùng giả tạo. Hỡi phụ nữ Palestine, hãy thẳng thắn và trực tiếp: khi nào gặp người đàn ông mình ưa, hãy vào giường hắn. Rất tiếc, nhưng tôi không thể là, không bao giờ có thể tân tiến như Jordana hay cái cô bất tử Dafna của anh…
– Cô im đi nào! Tại sao cô lại dám quả quyết là phụ nữ chúng tôi lại lăng loàn như thế? Jordana trước sau chỉ yêu có một người: nàng có quyền khước từ hiến thân cho người nàng yêu không, một khi chỉ đến cuối tuần lễ đó thôi, cả hai đều có thể đã chết cả rồi? Cô tin ở tôi đi, tôi thích sống trong bình an với Dafna giữa ruộng vườn hơn là trương mình ra cho quân Ả-rập ám sát.
Kitty nhún vai.
– Làm thế nào được. Tôi, tôi không quan niệm cuộc đời như một sứ mệnh cao cả bao giờ. Tôi cần được tin chắc rằng tôi là kẻ tối cần thiết cho người tôi yêu.
– Tôi đã không chứng tỏ tôi cần em đến mức nào sao?
Nàng nở một nụ cười ngắn ngủi, chua chát.
– Ồ, có chứ! Anh đã cần đến tôi ở đảo Chypre để đưa giấy tờ giả do Dov Landau chế tạo ra ngoài trại. Anh lại cần đến tôi ở Palestine này để lấy một viên đạn lạc vào chân ra. A! Anh quả là người tài ba: ngay cả lúc đau gần chết, anh còn nghĩ ra mưu kế khôn ngoan cho tôi đi du hành giữa một bầy trẻ trong một chiếc cam-nhông. Thực ra, anh đâu cần tôi, anh chỉ cần một y tá giỏi đủ khả năng vượt qua các trạm kiểm soát của quân Anh mà thôi. Tôi biết là tôi chỉ nên trách tôi mà thôi. Xét cho cùng, nếu tôi đã đi yêu một cái máy không hiểu đến nghĩa của chữ “yêu” nữa, thì lỗi chính là tại tôi mà thôi.
Nghiêng người xuống Ari, nàng không nghĩ tới việc giữ những giọt nước mắt tức giận đang lăn dài xuống má.
– Có thể rằng một ngày nào đó anh sẽ cần đến một người nào. Và lúc đó sẽ ghê khiếp cho anh bởi vì anh không thể nào yêu cầu nổi người ta giúp anh một cách thành thật.
– Có phải cô lúc nãy nói là sắp đi dạo một vòng phải không?
– Tôi có nói thế và tôi sắp làm bây giờ đây. Tôi sẽ còn đi dạo rất lâu, không hề muốn trở lại nữa. Điều dưỡng Katherine Fremont xin cáo từ ông Ben Canaan. Trong vài ngày nữa, Palmach sẽ đến đây lo cho ông. Từ giờ đến đó, ông không có chết đâu.
Nàng quay lưng và đi ra. Một giờ sau nàng rời làng.
Nàng chỉ trở lại Gan Dafna sau khi đã sống hai ngày ở Haïfa cùng Bruce Sutherland. Khi nàng sặp mở cửa phòng làm việc, nàng ngạc nhiên thấy Jordana đang đứng đợi nàng, vẻ ngượng ngùng.
Kitty lạnh lùng hỏi:
– Cô muốn gì? Sáng nay tôi bận lắm.
– Chúng tôi đã được biết chị đã làm những gì cho anh Ari. Tôi chỉ muốn nói là tôi rất biết ơn chị…
– Tôi thấy là các cơ quan tình báo của cô đã liên lạc được với các dân làng Druse. Về phần tôi, tôi rất tiếc là đã phải lui ngày khởi hành đi Mỹ của tôi lại quá nhiều ngày. Nhưng cô đừng cho là tại phía cô: nếu một con chó bị thương đi nữa, tôi cũng lo cho nó như thế.

Vào cuối tháng tám 1947, Ủy ban Điều tra của Liên Hiệp Quốc cho công bố hai khuyến cáo, một được đa số ủy ban ủng hộ, một là của nhóm thiểu số cũng trong ủy ban này. Cả hai dự án này đều chủ trương nên chia Palestine: sẽ có một Quốc gia hoàn toàn Do-thái, một Quốc gia hoàn toàn Ả-rập, và một vùng quốc tế bao gồm đô thị Jérusalem cùng các thánh địa.
Người Do-thái khẩn khoản xin ủy ban, ngoài các vùng đã có dân cư, phân phối cho thêm sa mạc Néguev nữa. Bên Ả-rập đã có cả triệu cây số vuông sa mạc mà chưa tìm cách khai thác bao giờ. Còn người Do-thái, họ hy vọng sẽ mang lại được một hình thức sinh động nào đó cho mấy ngàn cây số vuông này, bằng cách tưới mồ hôi và nước mắt lên cát và sỏi đá. Ủy ban điều tra chấp nhận. Tuy thế, dù có được lớn thêm bằng sa mạc Néguev, phần lãnh thổ của Do-thái theo dự án thuận lợi cho họ nhất, cũng vẫn là một sự vô nghĩa lý trên cả ba bình diện chính trị, kinh tế của quân sự: ba dẫy đất duyên hải nối liền với nhau bằng các hành lang hẹp – một vùng đất thành lập kỳ cục, khó khai thác, khó bảo vệ, một thứ thỏa hiệp không ra làm sao cả. Nhưng các đoàn thể phục quốc Do-thái, đã thấm mệt vì đã chiến đấu trong nửa thế kỷ rồi, tuyên bố là họ sẽ chấp nhận dự án này.
Còn người Ả-rập, họ tuyên bố răng chia Palestine là có chiến tranh ngay.
Nghị quyết sau cùng sẽ được bàn cãi vào giữa tháng chín, khi có phiên họp của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở Nữu-ước.
Thể theo sự nài nỉ thân hữu của bác sĩ Lieberman, Kitty đã lui ngày ra đi lại nhiều tuần nữa. Bây giờ, sắp đến lúc chia ly. Sáng ngày mai, Bruce Sutherland sẽ đưa nàng cùng Karen đến phi trường Lydda để lên máy bay đi La-mã. Các hành lý cồng kềnh đã được gửi đi theo đường biển.
Ngồi một mình trong văn phòng, Kitty đọc lại vài phiếu của những đứa trẻ mới tới trại trong những tháng gần đây…
“ROBERT DUBUAY, 16 tuổi. Quốc tịch gốc: Pháp. Tìm thấy ở Bergen-Belsen. Lúc giải thoát, Robert mười ba tuổi, nặng 28 ký. Phải chứng kiến cảnh xử tử bố mẹ và một đứa em. Chị Robert (sau này tự tử) bị bắt phải làm điếm cho các quân S.S. trong trại. Robert tỏ ra nhiều triệu chứng thù hận sâu xa, và e rằng sẽ bị…”
“SAMUEL KASNOWITZ, 12 tuổi, gốc Estonie. Theo như được biết tới giờ, không còn thân nhân nào sống sót. Sau khi trốn tránh trong hầm của một gia đình Ki-tô giáo, đã phải chạy vào rừng sống một mình trong vòng hai năm…”
Tất cả những phiếu này đều giống nhau. Ác mộng… các cơn khủng hoảng tinh thần… tính gây hấn… Kitty xếp các phiếu trả lại hồ sơ. Bằng một cử chỉ đột ngột, nàng đứng dậy, tắt đèn, vừa ra khỏi phòng vừa chạy.
Dùng đèn pin soi đường, nàng đi qua bãi cỏ lớn. Mọi người đã đào thêm các địa đạo. Gần khu nhà ngủ của các trẻ em, mọi người đã tăng cường thêm bê-tông cho các hầm trú.
Nàng mở cửa nhà mình. Trong một góc, các va-li đã sẵn sàng cái nào cũng đã cột nhãn đầy đủ.
– Karen… em ở đâu, cưng?
Có một mẩu giấy nhỏ để trên bàn bếp.
“Bạn bè tổ chức một chầu nhẩy nhót giã từ quanh lửa trại. Em sẽ về khá sớm. Hôn cô. Karen.”
Kitty châm một điếu thuốc và đi đi lại lại trong phòng. Sau một vài phút, bị trời nóng khó chịu, nàng ra khỏi nhà. Trong không khí yên tĩnh, thoang thoảng một mùi hương hoa hồng. Nàng đi theo con đường nhỏ chạy giữa các ngôi nhà nhỏ, nhà nào cũng có thảm cỏ, hàng rào và cây cối. Lúc sắp quay trở lại, nàng nhận thấy có ánh sáng đèn sau cửa sổ nhà Lieberman.
Nàng nghĩ: “Chắc hẳn ông ấy đang khổ sở lắm”. Hai đứa con của ông, một trai một gái, đã rời trường Đại học để nhập ngũ trong Lữ đoàn Néguev, một đơn vị mới thành lập của Palmach. Nàng đi tới tận cửa nhà, giơ tay gõ. Bà quản gia, cũng già và cũng dễ thương như ông trưởng trại, mời nàng vào phòng làm việc. Vị bác sĩ già đang tìm cách đọc một lời ghi bằng tiếng hébreu trên một chiếc bình cổ xưa. Máy phát thanh đang chơi một điệu nhạc của Schumann. Khi Kitty bước vào, viên bác sĩ đặt chiếc kính phóng đại xuống. Nàng nói:
– Shalom.
Viên bác sĩ già mỉm cười. Đây là lần đầu tiên nàng chào ông bác sĩ bằng tiếng hébreu.
– Shalom, Kitty. Đây là một tiếng rất dịu để giã từ người bạn cố tri…
– Và cũng là một tiếng rất dịu để đón chào một người bạn… để chúc bạn một ngày tốt đẹp.
– Kitty… coi kìa…
– Vâng, bác sĩ ạ. Shalom… Tôi sẽ ở lại đây, Gan Dafna này. Chính nơi này mới là nơi tôi phải sống.

  1. Chưa có phản hồi.
  1. No trackbacks yet.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: