Trang chủ > Nha Trang > Khu Suối Dầu và mộ Bác sĩ Alexandre Yersin

Khu Suối Dầu và mộ Bác sĩ Alexandre Yersin

(Kính mến tặng Chị Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh – người đã có một phần tuổi trẻ gắn bó với Khu Suối Dầu.)

Mời nghe Chị Cam Li hát bài Nha Trang – Nhạc: Minh Kỳ, Lời: Hồ Đình Phương.

… Hướng chỉ vào ngôi mộ hình chữ nhật sơn màu nâu đỏ, nói giọng ngậm ngùi :
– Đoan đọc đi ! Mộ của bác sĩ Alexandre Yersin đó ! Từ lâu Hướng muốn dẫn Đoan đến đây, để nói cho Đoan biết ước mơ của Hướng.
Đoan hoảng hốt :
– Hướng? Cái gì?…
Hướng ngồi xuống bên thành mộ :
– Hướng và người dưới mộ không có gì liên hệ với nhau. Nhưng mỗi khi nhìn ngôi mộ này, Hướng thường ao ước mình sẽ được như vậy.
– Hướng! Nghĩa là…
– Nghĩa là Hướng muốn khi chết, được chôn trên một ngọn đồi.
– Hướng nói dại.
– Không. Đời người rồi cũng qua chứ, phải không Đoan ? Lúc Hướng còn tràn trề hy vọng về chuyện học hành thi cử, thì Hướng ao ước đời mình sẽ đi lên mãi, Hướng ao ước về sau làm được một cái gì, như Yersin, để Hướng được chôn trên một ngọn đồi, tuy hoang sơ nhưng tràn đầy ý nghĩa.

(trích Chương 2- “Tim Tím Như Hoa Dại” của Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh, Tủ sách Tuổi Hoa – 1973)


*

(Hình do anh Tài gởi tặng)

(Hình do anh Tài gởi tặng trang PV)

.

(Đoạn dưới đây được viết lại theo tài liệu của trang saigontoserco.com)

Alexandre Yersin ra đời ngày 22/9/1863 tại một vùng quê miền núi ở Lavaux – thuộc hạt Vaud – Thụy Sĩ.

Năm 20 tuổi (1883) Yersin học ngành y tại Lausanne (Thuỵ Sĩ), sau đó tiếp tục học tại Marburg (Đức) và tốt nghiệp đại học Paris (Pháp).

Từ năm 1886 ông làm việc tại viện Pasteur Paris và cộng tác với bác sĩ Roux trong việc tìm độc tố vi khuẩn bạch cầu.

Năm 1890 ông được chuyển lại quốc tịch Pháp.

Trong những năm miệt mài nghiên cứu tại viện Pasteur Paris, ông đã tỏ ra là một người giàu nghị lực và ham tìm tòi học hỏi. Tương lai tươi sáng mở ra trước mắt ông. Nhưng Yersin lại hướng về chân trời mới, muốn tìm ra lối thoát khỏi cuộc sống hiện tại “tôi luôn luôn mơ ước khám phá đất lạ, thám hiểm khi còn trẻ ta luôn tưởng tượng những điều kỳ lạ sẽ đến, không có gì là không có thể làm được”.

Thế rồi Yersin bất ngờ rời bỏ ngành vi trùng học để sống đời thủy thủ và thám hiểm, mở đầu một cuộc đời khác kéo dài 50 năm.

Trước hết Yersin nhận lời làm bác sĩ cho một con tàu của công ty vận tải đường biển đến Viễn Đông. Sau 6 tháng hoạt động trên tuyến đường Sài Gòn-Manila (Philippin), Yersin chuyển sang làm việc trên tàu Sài Gòn chạy từ Sài Gòn đến Hải Phòng và ngược lại.

Tháng 7-1891, Yersin cập bến Nha Trang. Ông lên bờ, đi dọc miền duyên hải đến Phan Rí và theo các con đường mòn vượt qua một ngọn đèo cao 1200 m gần Di Linh. Từ Di Linh ông định băng rừng đến Sài Gòn tìm ra con đường bộ nối liền Nha Trang với Sài Gòn, nhưng không kịp chuyến tàu đi Hải Phòng nên ông đành bỏ cuộc hành trình, xuống Phan Thiết dùng thuyền buồm ra Nha Trang.

Ngày 21-6-1893, ông đến thác Prenn và sau đó đặt chân lên Langbiang.

“Trên đường đi, cao nguyên nhấp nhô cao từ 900-1200 khoảng 15-20 km trước khi đến chân núi. Tôi đứng trên một vùng hoàn toàn trơ trụi và cây cỏ. Đất đồi mấp mô khiến tôi cảm giác như đang đi trên một đại dương xao động vì những ngọn sóng khổng lồ. Núi Langbiang đứng sừng sững ở giữa như một hòn đảo và hình như ngày càng xa dần khi tôi đến gần. Dưới chỗ trũng, đất màu đen và đầy than bùn. Những đàn nai lớn để yên cho chúng tôi đến gần. Cách vài trăm mét, đàn nai vụt chạy ra xa rồi ngoái cổ lại tò mò nhìn chúng tôi”.

Ngày 20-6-1894, ông tìm ra vi trùng bệnh dịch hạch. Qua hệ thống bưu điện của Anh, ông đã gửi những ống nghiệm trực trùng sang Pháp. Trực trùng bệnh dịch hạch đến viện Pasteur Paris nguyên vẹn và được xác minh, mang tên Yersin (Yersinia pestis).

Năm 1895, Yersin thành lập viện Pasteur ở Nha Trang và điều chế huyết thanh chữa bệnh dịch hạch.

Ông khai phá vùng Suối Dầu- cách Nha Trang 20 km về hướng nam, thành lập một trại chăn nuôi và trồng trọt. Ông lao vào nghiên cứu huyết thanh trị bệnh dịch hạch cho trâu bò.

Năm 1897, ông bắt đầu trồng cao su ở Suối Dầu. Quan tâm đến phương pháp trồng, khai thác và chế biến cao su, ông đã thiết lập một phòng thí nghiệm nông hóa. Tại đây, những biện pháp chọn giống, cạo mủ và làm đông mủ cao su được nghiên cứu có hệ thống đã giúp rất nhiều cho những người trồng cao su ở Đông Dương.

Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Lúc bấy giờ, Hà Lan chiếm độc quyền sản xuất Quinine-phương thuốc duy nhất chữa bệnh sốt rét. Yersin gieo thử hạt Canh ki na ở Suối Dầu nhưng thất bại.

Năm 1917, Yersin trồng cây Canh ki na ở Hòn Bà- một ngọn núi gần Suối Dầu. Lúc đầu cây tăng trưởng tốt nhưng chết vì đất đai không thích hợp.

Tháng 7-1923 những cây Canh ki na tốt nhất ở Hòn Bà được đem lên trồng ở Dran và thu được kết quả tốt. Ông tiếp tục trồng trên cao nguyên Langbiang nhỏ và Di Linh.

Năm 1936, cây Canh ki na được trồng quy mô lớn ở Lán Tranh và Di Linh.
Từ đó, viện Pasteur Nha Trang chuyên bào chế thuốc, nghiên cứu về bệnh sốt rét và các loại vi trùng, ký sinh trùng gây bệnh cho người, súc vật và thảo mộc.

Ngày 28-6-1935, trường trung học Yersin được khánh thành ở Đà Lạt. Yersin trở về Đà Lạt lần cuối cùng trước khi mất. Nhân dịp này, đáp lại lời phát biểu của một học sinh, ông đã trình bày cảm tưởng khi đặt chân lên cao nguyên Langbiang: “Không khí mát mẻ đã làm tôi quên đi mệt nhọc và tôi nhớ lại niềm vui được chạy hết tốc lực lên xuống những ngọn đồi như một học sinh trung học trẻ tuổi”.

Ngày 1-3-1943, Yersin thanh thản qua đời tại Nha Trang, hưởng thọ 80 tuổi. Hàng ngàn người dân Nha Trang đã đưa linh cữu ông đến nơi an nghỉ cuối cùng trên một ngọn đồi nhỏ ở Suối Dầu, thuộc xã Suối Cát, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

**

Nơi này cách thành phố Nha Trang 20 cây số về phía nam:

.

Vạt núi bên kia đường:

.

Viện Pasteur- Trại chăn nuôi Suối Dầu:
Bác sĩ A. Yersin lập Trại chăn nuôi Suối Dầu để nuôi trâu, bò, lừa, ngựa, cùng thỏ, chuột để điều chế huyết thanh và nghiên cứu khoa học trong những năm tháng sống ở Khánh Hòa.

.

Từ cổng ngoài phải đi vào thêm 800 mét nữa mới đến khu mộ bác sĩ A. Yersin:

.

Con dốc thoai thoải dẫn lên đồi:

.

Phía tay trái là cảnh rừng hoang sơ:

.

.

và… hoa ngũ sắc:

.

Phiá tay mặt là cánh đồng mía:

.

Con đường dẫn lên khu mộ nằm giữa hai vòm cây lá đan nhau:

.

.

.

Bác sĩ A. Yersin đã để lại di chúc: “Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”.

Theo di chúc, khi khâm liệm người ta đặt ông nằm sấp, đầu quay về biển để ông mãi mãi ôm mảnh đất quê hương của mình.

.

Alexandre Yersin viết thư về cho mẹ: “Con rất vui thú khi tiếp chuyện những người đến hỏi ý kiến nhưng con không muốn hành nghề bác sĩ, nghĩa là con không bao giờ có thể đòi hỏi bệnh nhân trả công khi săn sóc cho họ. Con xem ngành y như là một thiên chức, tương tự vai trò của mục sư. Đòi tiền công săn sóc bệnh nhân, như có phần nào nói với người ấy: tiền hay cuộc sống. Con biết không phải tất cả các đồng nghiệp của con đều chia sẻ những ý nghĩ này, song đấy vẫn là những điều con nghĩ và sẽ khó lòng mà từ bỏ chúng”.

.

.

Xin kính cẩn vái chào một nhân cách lớn, một ân nhân của nhân loại- cách riêng của Việt Nam và đặc biệt vùng Nha Trang, Đà Lạt.

.

Dưới đây là một số hình ảnh về trại chăn nuôi Suối Dầu (hiện chỉ còn nuôi cừu dùng vào việc thí nghiệm):

Đồng cỏ tươi, suối nước mát:

.

.

.

Bầy cừu đi theo “lề” 😀

.

.

“Còm sĩ” Bảo Vân đặt tên cho hình này là “viện toán cao cấp của bầy cừu”:

.

Có một cái “còm” của bác Lê ngày 10/12/2016, nêu ra một chi tiết thú vị. Xin đăng lên đây để quý vị nào ngại đọc “còm” phía dưới cũng có thể xem qua, và nếu có thông tin xin bổ sung giúp:

“Có một chi tiết nếu chủ nhà quan tâm bổ túc sẽ rất thú vị, Thập niên 90 1992, 1993 gì đó, Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand có chuyến thăm VN, trước chuyến đi Ông TT ngõ ý muốn thăm mộ và di sản của BS Yersin, báo hại phía VN phải dáo dác tìm kiếm, tôn tạo, trùng tu, đánh bóng ngôi mộ của “thằng Tây thực dân” đến “liệt sĩ Năm” với nhiều công trạng tưởng tượng trước khi trả lại nguyên hình hài cho danh nhân. Loạt bài này được đăng trên TT, TTC và TN với nhiều tình tiết cực hài, nếu ai có điều kiện tìm được các bài báo thời ấy đưa lên đây cống hiến cho độc giả để nhớ đến một thời…”

Advertisements
Chuyên mục:Nha Trang Thẻ:
  1. 23/02/2012 lúc 00:30

    Tệ thật Phay Van@ à, năm 1979 anh đã làm một công trình ( mang tên suối Dầu ) mà lại không biết ngay bên cạnh là nơi yên nghỉ của BS Yersin

    • 23/02/2012 lúc 08:39

      Thế sao bác? Hồi đó bác Trà làm công trình về lãnh vực gì thế, cho em biết được không bác?
      Sắp tới ngày giỗ của Ông 01/03 rồi đấy bác ạ.

      • 23/02/2012 lúc 21:50

        Một công trình dẫn nước chui ngầm qua sông Suối Dầu Phay van@ à. Anh nhớ là từ NT đi qua Diên Khánh khoảng mươi Km thì rẽ phải vào sâu khoảng vài Km nữa là tới công trình chui qua sông đó !

  2. Mai
    23/02/2012 lúc 10:30

    Một entry rất hay. Cám ơn Phay Van.
    Mời bạn đọc đầy đủ tiểu sử của bác sĩ Alexandre Yersin ở trang này

  3. Mai
    23/02/2012 lúc 10:58

    Và bài “Bác sĩ Alexandre Yersin và sự hình thành đô thị Đà Lạt” ở trang này

  4. Công Thành
    23/02/2012 lúc 11:22

    Trước 1975 ở toàn miền Nam – chứ không riêng gì dân Nha Trang – ai cắp sách đến trường, cũng đều biết đến danh tiếng Bác Sĩ Alexandre Yersin.
    Thế mà sau 1975, có một chi tiết nhỏ bị thay đổi rất tức tưởi, và tức cười, nhưng buồn suy ngẫm… tại sao “những đỉnh cao trí tuệ” lại có tư duy…”quái dị”…và “đần”…hết chỗ chê… đến thế!

    – Tên đường Yersin, sau 1975…bị đổi cách viết là…”Y Éc Sanh” !!!!!!

    Thế hệ chúng tôi ở NT hồi đó đều lắc đầu ngao ngán cho cái “đần” của loại tư duy “đỉnh cao trí tuệ” này!
    Ngày nay, không biết họ đã sửa lại cái…”đần”… này chưa nhỉ?

  5. Công Thành
    23/02/2012 lúc 11:28

    Và thêm một chi tiết…

    ” Sau 1975 “nhà nước ta” đã đập phá ngôi nhà của Ông “Năm Yersin” để xây dãy khách sạn 3 tầng của bộ nội vụ. Người dân Nha Trang ai cũng thương tiếc di tích của một vĩ nhân, một người suốt đời hy sinh cho dân nghèo bản xứ, lúc chết cũng muốn nằm lại nơi này. Vậy mà…bao nhiêu ân…đã biến thành…oán! ”

    Cô Phay Van có thể tìm trên mạng hình cái “khách sạn 3 tầng của bộ nội vụ”…nguyên là khuôn viên ngôi nhà cũ của Ông “Năm Yersin”…đưa lên đây…được chứ?

    • 23/02/2012 lúc 11:40

      Hình đây bác ạ. Sao mà người ta u mê, điên cuồng đến thế:

      Nhà riêng của A. Yersin tại Nha Trang, nay là vị trí khách sạn Bộ Công An.

      .

      Khách sạn Bộ Công An (nhà cũ của "Ông Năm" Yersin)

      • Lãng Tử
        23/02/2012 lúc 15:33

        Anh Công Thành và cô Phay Van: Có một bài có một số hình ảnh di tích ngôi nhà gỗ của Bác sĩ A. Yersin nữa đây, cô Phay Van có thể chọn ảnh copy về entry này cho phong phú tư liệu:

        Gõ google: ” Sài Gòn Tiếp Thị Online – Kiến trúc – Ngôi nhà gỗ trên đỉnh hòn Bà “

      • 23/02/2012 lúc 15:45

        Dạ nó đây bác ạ. Em cố gắng tìm một cái hình “đàng hoàng” một chút (không có lá cờ), mà thua, tìm không ra.

      • Lãng Tử
        23/02/2012 lúc 15:35

        Ngoài ra Lãng Tử tôi còn đọc được một đoạn này:

        ” Yersin thích sống chung với người dân nghèo chài lưới và đã chọn cái lô-cốt hai tầng lầu bỏ hoang gần xóm Cồn và cửa sông Cái. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XI về Khánh Hoà, đó là một đồn biên phòng rất lâu đời.
        Từ năm 1895, Yersin đã tạo lập cho mình chổ ở tuyệt vời để hàng ngày quan sát và hoà nhập với thiên nhiên.
        Lô-cốt mỗi bề khoảng 7 m 50. Mỗi tầng có hành lang rộng bao bọc. Có thể đi dọc hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt là phòng ăn, tầng một là phòng làm việc, và tầng hai là phòng ngủ. Về sau, nóc nhà làm thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn. ”

        ( nguồn: ” 39 – BÁC SĨ ALEXANDRE YERSIN NGƯỜI CÓ CÔNG…”

        Nếu cô Phay Van, hoặc Bác nào có biết thêm, hay có hình ảnh về ngôi nhà này…, hãy chia sẻ thông tin các bác nhé.

    • Công Thành
      23/02/2012 lúc 11:41

      Sở dĩ tôi comment trên là vì nghĩ…

      Giá mà “những đỉnh cao trí tuệ” không…ngu đần…đã phá đi ngôi nhà của Ông “Năm Yersin”, thì, bao nhiêu đồ đạc, kỷ vật…của ông, sẽ hấp dẫn du khách trên thế giới sẽ đổ đến nghiên cứu và thăm viếng biết bao…!
      Nha Trang nói riêng, và Việt Nam nói chung…sẽ được thơm lây vì có công và có tâm gìn giữ di tích của một vĩ nhân của nhân loại…

      Than ôi…xấu hổ lây, cho cái tầm nhìn của “những đỉnh cao trí tuệ”, mà thấy muốn…văng tục…vậy!!!!!

      • chinook
        23/02/2012 lúc 16:09

        May mắn là mộ Bs Yersin nằm ở Suối Dầu , nếu nằm ở Tp Nha Trang chắc cũng chẳng còn.

        Tôi nghe một người bạn nói ở Viên Đại học Dalat , tên Hồng y Spellman, người đóng góp tài chánh để xây trường, ngay sau 75 bị đục đẽo nham nhở rồi phá bỏ.

      • 23/02/2012 lúc 21:49

        Dạ, nếu mộ Bs. Yersin nằm ở Tp. Nha Trang thì có khi Ông bị ghép tội thực dân đế quốc rồi cũng nên.

        Hồng y Spellman là người Mỹ. Hồi sau 1975 người ta kỵ bất cứ cái gì thuộc về “đế quốc Mỹ” bác ạ.

  6. Trần thị Bảo Vân
    23/02/2012 lúc 12:26

    Chị Năm: Xem loạt ảnh chị post, em nghĩ chắc tấm bia mộ của Bs Yersin mới làm sau này phải không chị?
    Chị Năm có hỏi..đàn Cừu nuôi ở đó, để làm gì không?

    • Trần thị Bảo Vân
      23/02/2012 lúc 12:45

      Nhìn đàn cừu leo vô chuồng ở tấm ảnh cuối cùng của entry, tự nhiên Út sực liên tưởng cái chuồng này..sao na ná như cái..”viện toán cao cấp” của cái ông gs gì gì đó..được đảng, nhà nước o bế bốc tận mây xanh quá!!!!!!

      • 23/02/2012 lúc 12:53

        Hi hi, vậy mình đặt tên cho tấm hình cuối cùng này là ”viện toán cao cấp của bầy cừu” há em 😀

      • Trần thị Bảo Vân
        23/02/2012 lúc 12:57

        Út nhất trí!
        Vậy chị Năm ghi chú..têu têu..như vậy dưới tấm ảnh đó đi chị Năm!!!!

      • Trần thị Bảo Vân
        24/02/2012 lúc 22:10

        Ui!!!! Chị cho em làm..”tác giả” câu chú thích ảnh trên hả!
        OK, Út “hoan hô” chị Năm đó! hihihihihihi…

      • Trần thị Bảo Vân
        26/02/2012 lúc 10:48

        Chị Ba và chị Năm: Ui! Út vui quá!!!!! Út Cám ơn chị Ba nhiều nhiều ạ.
        Entry này, Út được cả 2 chị Cam Li và Nguyệt Mai..tặng quà!
        Sáng chủ nhật này sao đáng yêu quá chị Năm ơi…

      • Mai
        26/02/2012 lúc 11:02

        Út Vân: Không có chi đâu Út Vân. Chị phải cám ơn em đấy chứ! Có phải vậy không cô Năm?

      • Trần thị Bảo Vân
        28/02/2012 lúc 22:20

        Chị Ba: Ủa!!!! Sao chị Ba lại cám ơn Út, là sao, Út chẳng hiểu hai chị nói gì cả?
        Cho em biết được không hai chị?

    • 23/02/2012 lúc 12:51

      Tấm bia này có vẻ làm lâu rồi chứ em. Em có thấy “từ ngữ” của ngày xưa không?
      Còn ngôi mộ thì bây giờ sơn xanh, hồi xưa màu nâu đỏ:
      “… Hướng chỉ vào ngôi mộ hình chữ nhật sơn màu nâu đỏ, nói giọng ngậm ngùi…”

      Cừu được nuôi để nghiên cứu em ạ (chẳng lẽ nuôi để giữ nó đi theo lề? :D)

      Trước đây người ta có nuôi bò nữa, để lấy huyết thanh, sau này không còn nuôi.

      • Ngô Tấn
        24/02/2012 lúc 15:50

        Cô Phay Van và cháu Bảo Vân: Tấm bia mộ song ngữ Việt Pháp này, tôi nhớ có đọc một bài báo trên mạng – ngay bây giờ, thì tôi chưa tìm lại được trang này – cho biết là nó được khắc và dựng vào năm 1992-1993 gì đó, do nhân dân Nha Trang và nhà thơ Giang Nam, lúc đó là phó chủ tịch tỉnh Khánh Hoà đề nghị.

        Tôi sẽ tìm lại bài báo có chi tiết này sau…

      • 24/02/2012 lúc 16:13

        Dạ phải, bác Ngô Tấn nhớ chính xác rồi. Cảm ơn bác rất nhiều.

        …mộ bác sĩ A.Yersin tọa lạc trên ngọn đồi Núi Một bao gồm các hạng mục như: cổng vào, ngôi mộ, ngôi thủ kỳ, bia đá ghi tóm tắt tiểu sử. Từ cổng vào lên đến ngôi mộ có lối đi được lát bằng đá chẻ, khuôn viên khu mộ được trồng nhiều loại cây khác nhau. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ sẽ thấy một số hạng mục của KDT đã bắt đầu có dấu hiệu xuống cấp. Chẳng hạn, ở nắp ngôi mộ xuất hiện một vết nứt nhỏ chạy dài theo chiều dọc từ đầu đến chân mộ; chân đế của bia đá hơi ngả về phía sau, nếu không được khắc phục có thể đổ bởi những trận mưa. Theo tìm hiểu của chúng tôi, các hạng mục kể trên đều không phải được giữ nguyên trạng từ năm 1943 (năm mất của bác sĩ A.Yersin). Theo tài liệu “Khánh Hòa di tích – danh thắng tiêu biểu” do Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Trung tâm Quản lý di tích và danh lam thắng cảnh tỉnh phát hành tháng 9-2011 có ghi: “Khu mộ được xây dựng ngày 3-3-1943, sau khi bác sĩ A.Yersin qua đời để thể hiện lòng biết ơn, sự tôn kính của nhân dân Khánh Hòa đối với ông. Trước kia, mộ được xây dựng theo kiểu hình áo quan tài, có chữ thập đặt lên trên. Trải qua thời gian, mộ bị xuống cấp. Sau năm 1975, nhân dân Khánh Hòa đã xây dựng lại mộ ông như hiện nay”. Ngôi thủ kỳ được xây dựng vào năm 1962, dùng để đặt một bát nhang nhỏ và tấm ảnh chân dung bác sĩ A.Yersin. Còn tấm bia đá cũng mới được lập vào năm 1992, sau khi di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Theo nhà thơ Giang Nam – nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, thời ông còn tại chức, chính ông đã đi xin phép Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) để được phép đặt tấm bia đá ghi tóm tắt tiểu sử bác sĩ A.Yersin bằng song ngữ Việt – Pháp. Như vậy, có thể thấy, việc tôn tạo KDT mộ bác sĩ A.Yersin không phải là chưa có tiền lệ, mà đây là việc làm đã được người dân và chính quyền tỉnh Khánh Hòa thực hiện từ nhiều năm về trước để có được hiện trạng như thực tại. Tuy nhiên, trải qua thời gian, cùng với những yêu cầu của việc phát huy giá trị di tích vào đời sống, việc tôn tạo KDT mộ bác sĩ A.Yersin một lần nữa lại được đặt ra. Bởi suy cho cùng, di tích lịch sử, văn hóa không chỉ cần được bảo tồn mà yêu cầu phát huy giá trị di tích cũng không kém phần quan trọng.
        (nguồn: báo Khánh Hòa)

        KHÁNH HÒA: DỪNG DỰ ÁN TÔN TẠO KHU DI TÍCH QUỐC GIA-MỘ BÁC SĨ YERSIN
        (Cadn.com.vn) – Chiều 11-1-2012, phát biểu trong cuộc họp mặt cuối năm với báo chí trong và ngoài tỉnh, ông Lê Xuân Thân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết: UBND tỉnh vừa đưa ra quyết định dừng việc đầu tư tôn tạo di tích mộ bác sĩ Yersin do Cty cổ phần đầu tư Lạc Hồng khởi xuất và tự nguyện đầu tư kinh phí. Theo đó UBND tỉnh hoan nghênh Cty Lạc Hồng đã có nhã ý đóng góp công của xây dựng dự án tôn tạo khu di tích mộ bác sĩ Yersin. Tuy nhiên do phương án của Cty đưa ra đã không nhận được sự đồng thuận của công luận, trong đó trực tiếp là Hội ái mộ Yersin và Viện Pasteur Nha Trang đã có văn bản chính thức bày tỏ quan điểm không đồng tình với việc “làm mới, làm to” khu di tích mộ bác sĩ Yersin… Vì vậy, UBND tỉnh đã chính thức cho dừng việc triển khai dự án kể trên. Cùng với việc dừng triển khai phương án tôn tạo di tích mộ Yersin, UBND tỉnh Khánh Hòa đã giao cho Sở VH-TT&DL Khánh Hòa phối hợp với Viện Pasteur Nha Trang (đơn vị đã và đang trực tiếp quản lý khu di tích mộ bác sĩ Yersin) triển khai sớm việc lập kế hoạch tu tạo tuyến đường từ QL1A vào khu di tích, cũng như tổ chức đưa tượng bác sĩ Yersin về đặt tại hoa viên mang tên Yersin tại nam cầu Trần Phú (Nha Trang).

        (nguồn: báo Công an Đà Nẵng)

      • Ngô Tấn
        24/02/2012 lúc 20:20

        Cám ơn cô Phay Van, đúng là nội dung bài báo mà tôi đã đọc trước đây, chiều giờ tìm mãi mà không ra, tính vào xin lỗi, không ngờ cô lại nhanh chóng tìm được…
        Già hơi chậm chạp, thông cảm cô nhé.

      • Trần thị Bảo Vân
        24/02/2012 lúc 22:11

        Con cám ơn bác Ngô Tấn đã cho biết thông tin về năm và xuất xứ của tấm bia mộ mà con đã hỏi chị Năm ạ.

        Chị Năm ơi, sở dĩ Út hỏi chị, vì khi nhìn tấm bia mộ trong ảnh chị chụp, Út thấy tấm bia làm bằng hình thức “đá mài”. Út chợt liên tưởng đến bia mộ của ông nội út ( ông mất năm 1988 ), bia mộ Ông nội Út cũng có hình thức “đá mài” này.

      • chinook
        25/02/2012 lúc 11:51

        Mộ của Bs Yersin trươc năm 75 bị xuống cấp vì nằm ở khu vực không an ninh.

        Gia đinh một người bạn tôi có trang trại ở Suối Dầu cũng phải bỏ hoang vào nămm 64-65 vì thiếu an ninh.

      • 25/02/2012 lúc 12:53

        Cảm ơn thông tin của bác Chinook.
        Hôm ra đây em thấy con đường 800m dẫn từ cổng vào khu vực ngôi mộ sao xa thế, và hoang vu nữa. Trời lại âm u, có mưa lâm thâm. Em đi nửa chừng có cảm giác hơi sờ sợ và bất an, phải quay ngược ra hỏi thăm lại lần nữa cho chắc ăn, xong rồi quay trở lại và… đi tiếp.

      • Võ Trung Tín
        25/02/2012 lúc 21:16

        Chị Năm: “..Em đi nữa chừng có cảm giác hơi sờ sợ..”

        Chị Năm sợ người hay sợ..ma..dzậy?! hiiihiihihi…
        Ủa, mà anh Năm đâu..sao không bảo vệ chị dzậy?

      • 26/02/2012 lúc 06:25

        Chị sợ vì đây là lần đầu tiên đặt chân đến, lại không có người hướng dẫn, đường mòn một bên là đồi cây rậm rạp, một bên là đồng mía ngút ngàn, nhìn về phía trước chỉ thấy con dốc cong cong, chẳng thấy đích đâu, thêm vào là trời hơi lạnh, lại còn mưa lâm thâm. Chị đi mà trong lòng nghĩ rằng mình đang sống lại cái cảm giác thời bé đọc truyện Tuổi Hoa Đỏ (phiêu lưu mạo hiểm).

      • Võ Trung Tín
        26/02/2012 lúc 21:08

        Một khu di tích của một danh nhân thế giới, sống chết với đất nước và con người VN, mà sao đến giờ nhà nước vẫn không chú ý nhỉ?
        Lạ thật, còn Mác-Lênin thì cứ..ra rả..ông ổng!?

  7. Trần thị Bảo Vân
    23/02/2012 lúc 12:27

    Chùm ảnh này chị Năm chụp vào thời điểm nào vậy chị Năm?
    Chị Năm đi du lịch, hay là đi nghiên cứu..vậy?
    Chà, sao ngay cột Km 1473 – Biên Hoà – 397 Km, chị Năm không chụp một tấm ảnh lưu niệm?
    Chị Năm thiệt là..”bí mật dung nhan”..quá!!!!!!

    • Trần thị Bảo Vân
      23/02/2012 lúc 12:48

      Út chịu thua cho..”cái luận điệu tuyên truyền”..của chị Năm..luôn đó!!! hihihihihihi…

    • Trần thị Bảo Vân
      24/02/2012 lúc 22:08

      Mới đi dạy về, mệt quá chị Năm ơi, Út vào thư giãn một chút đây!!!!
      Đã mệt, vào thư giãn.. mà còn thấy Chị Năm cười, thấy bắt..”ghét”!!!!! hihihihihi…

  8. Trần thị Bảo Vân
    23/02/2012 lúc 12:55

    À Chị Năm, Entry với chủ đề về Bs Yersin, thế sao chị Năm không tìm một vài hình ảnh chân dung của ông, cũng như những hình ảnh tư liệu mà ông đang làm việc, những hình ảnh tư liệu ông tiếp xúc với dân nghèo xóm Cồn.., cho phong phú cái entry này?
    Có thể xem đây là một đề nghị của Út, được chứ chị Năm?

  9. Đinh Thành
    23/02/2012 lúc 21:20

    Đọc bài mới nhớ đến 1/3 là ngày giỗ của Bs A.Yersin.
    Thành kính thắp nén hương tưởng nhớ đến một vĩ nhân, một nhà khoa học chân chính, đã hi sinh cả cuộc đời cho nền khoa học của nhân loại nói chung và VN nói riêng…

  10. Phạm Hoàng Trọng
    24/02/2012 lúc 15:07

    Tôi nghĩ, chỉ nói lên cái tên ngắn gọn: Yersin, thì bất cứ một người nào có chút ít học vấn trên toàn thế giới cũng đều biết, chứ không riêng gì VN ta!
    Một thời chính quyền csVN sau 1975, áp dụng chủ trương bài xích những gì là tàn dư thuộc”thực dân Pháp”quá sai lạc, u mê…( kéo dài ngay cả đến năm 1990 ) khiến cho tên tuổi và sự nghiệp của Bs A. Yersin ở VN phải bị vạ lây, thật là đáng tiếc!
    Nghe đâu sắp tới đây, đạo diễn Trần Văn Thuỷ sẽ làm một cuốn phim nhằm để tôn vinh những công đức và sự nghiệp của Bs A. Yersin thì phải?
    Một điều rất đáng nên làm…để phần nào chuộc lại lỗi lầm với một vĩ nhân vậy!

    • 24/02/2012 lúc 16:24

      Cảm ơn bác Phạm Hoàng Trọng. Dưới đây là trích đoạn trả lời phỏng vấn của Đạo diễn Trần văn Thủy với tác giả Kim Anh của báo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần- tháng 8/2011:

      Hội ái mộ Yersin ở tỉnh Khánh Hòa và Thụy Sĩ có gợi ý mời tôi làm phim về nhân vật này. Alexandre Yersin là người vô cùng có công với Việt Nam. Ông là người đi vào lịch sử y học thế giới bằng việc tìm ra vi trùng dịch hạch, ông là người tìm ra Đà Lạt, mang cây hồ tiêu và cây cao su vào trồng ở Việt Nam. Một con người vô cùng gắn bó, yêu thương với những người dân chài nghèo khó ở xóm Cồn, Nha Trang. Người gần như sống hết đời và làm khoa học ở Việt Nam.
      Trong di chúc, ông muốn rằng: Xin hãy đừng mang tôi đi đâu cả, hãy để tôi ở Suối Dầu, bên cạnh những cây cao su và cây hồ tiêu và những người Thượng… Một người tử tế như thế, đáng kính như thế, nhân hậu như thế, vì con người như thế tôi mong muốn làm một cái gì đó thật xứng đáng để hậu thế chúng ta không bao giờ quên ông.

      (nguồn: Tuần Việt Nam)

    • Mai
      24/02/2012 lúc 20:16

      Cám ơn anh Phạm Hoàng Trọng và Phay Van. Ước gì những bác sĩ của VN mình hiện nay đều có tài và đức như bác sĩ ALEXANDRE YERSIN hai bạn nhỉ?

      • Trần thị Bảo Vân
        24/02/2012 lúc 22:27

        Chị Ba ơi, ở VN mình bây giờ mà vào BV, cho dù là có cấp cứu đi nữa, nếu người nhà mà không có đủ tiền ĐÓNG TRƯỚC viện phí, là bác sĩ, y tá..họ bỏ nằm đó cho chết luôn đó chị Ba!!!!!

      • Trần thị Bảo Vân
        26/02/2012 lúc 10:27

        Chị Năm ơi, Dạ, Út chỉ nói sự thật thôi mà, vì chính Út đã từng chứng kiến những vụ bệnh nhân không có tiền ứng đóng viện phí trước “bị đối xử” như thế..

        À chị Năm, trong còm của chị, Út mạo muội xin phép chị thay cụm từ ” lạc hậu thông tin”..bằng..” thiếu thông tin” để nghe..nhẹ nhàng hơn, được không chị Năm?
        Chị không mắng em chứ!

      • Mai
        26/02/2012 lúc 11:15

        Út Vân và Phay Van: Cái tin mà hai em nói, thủ tục đầu tiên là tiền đâu ấy, khi vào các bệnh viện, thì chị đã biết lâu rồi. Thông tin này chị không có lạc hậu đâu. Bởi vậy chị mới viết là “Ước gì những bác sĩ của VN mình hiện nay đều có tài và đức như bác sĩ ALEXANDRE YERSIN”. Ngày xưa, chị nghe nói ở trường Y Khoa Saigon, các tân bác sĩ phải đọc Lời thề Hippocrates khi chuẩn bị ra trường để hành nghề. Em có thể vào đọc ở link này:
        http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%9Di_th%E1%BB%81_Hippocrates
        Thương chúc hai em một cuối tuần vui.

      • Lãng Tử
        26/02/2012 lúc 12:24

        Nhân cô Mai chia sẻ link về lời thề của Hippocrates cho Phay Van và Bảo Vân, tôi xin phép chen vô chia sẻ một đoạn phát biểu này của Bs Đỗ Hồng Ngọc nhé:

        ” Hồi đó học y khoa phải 7 năm, tốt nghiệp bằng một buổi trình luận án trang trọng cùng với lời thề Hippocrates ( ông tổ nghề y ), và được cấp bằng tiến sĩ y khoa quốc gia. Tôi còn nhớ khi thi vào y, ngoài các môn sinh – vạn vật – , lý hoá, sinh ngữ…còn có 20 câu hỏi kiến thức tổng quát như: Ông tổ nghề y thế giới tên gì? Ông tổ nghề y Việt Nam tên gì? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Tam Quốc? Ai là người thầy thuốc nổi tiếng thời Đông Châu Liệt Quốc? Thủ Đô Brazil là gì? Giá gạo trên thị trường bao nhiêu một ký? Giá than trên thị trường bao nhiêu một ký?…..
        – Ủa! Sao hỏi giá gạo giá tha ở đây?
        – Có lẽ người ta muốn biết người Bs tương lai có quan tâm gì đến đời sống xã hội không? Người Bs có thông cảm với nỗi khó khăn của người dân không?…

        TỈ LỆ ĐẬU là…10% !….. ”

        Một đề thi bàng bạc chất nhân văn nhân bản vậy đó…

      • Lãng Tử
        26/02/2012 lúc 12:27

        Xin giới thiệu một bài viết rất hay và chí tình của Bs Đỗ Hồng Ngọc.
        Mời mọi người nếu…ranh rảnh đọc để thư giản hoặc suy ngẫm:

        Vô Google: ” Thư gởi các bác sĩ trẻ – Đỗ Hồng Ngọc “

      • Phạm Hoàng Trọng
        26/02/2012 lúc 14:59

        Bác Lãng Tử, chị Mai, chị Phay Van và cháu Bảo Vân: Đọc còm của mọi người, tôi xin phép cũng giới thiệu một bài viết, mà nội dung tác giả phân tích rất chính xác thực trạng nền y học hiện tại;

        ” Một nền y học bị chính trị hoá – bác sĩ ngọc “

      • 26/02/2012 lúc 22:30

        Ồ! Hay quá, cảm ơn bác. Em copy về đây:

        Một nền y học bị chính trị hóa

        Hiếm thấy một thời đại nào mà y giới bị khinh như ngày hôm nay. Những gì xảy ra ở bệnh viện Năm Căn có lẽ là một sự tức nước vỡ bờ. Có đồng nghiệp nói đó là một nền “y khoa đổ vỡ”, nhưng tôi cho rằng đó một nền y học bị chính trị hóa. Vâng, chính vì y học bị chính trị hóa nên mới thảm hại như hiện nay.

        Cái quá trình chính trị hóa y học ở ta xảy ra một cách toàn diện. Nó bắt đầu ngay từ khâu tuyển sinh, đến khâu học tập và kéo dài đến khi ra trường và hành nghề. BS Đỗ Hồng Ngọc trong một bài nói chuyện ở Long Hải gần đây kêu gọi (ai?) phải quan tâm đến “đầu vào”, “hộp đen” và “đầu ra”. Nhưng tôi e rằng ông không nói hết hay tránh né không nói đến sự chính trị hóa trong 3 khâu ông nói đến. Tôi nghĩ rằng những hiện tượng tiêu cực trong ngành y chúng ta đang chứng kiến ngày nay chính là hậu quả của quá trình chính trị hóa y học. Nói như nhà thơ Đỗ Trung Quân:

        Chúng ta đang gặt một mùa bội thu sự vô cảm

        Vì chúng ta gieo nó

        Chúng ta phó mặc cho định mệnh vì chúng ta không tin gì cả.

        Chúng ta quen nói dối

        Chính trị hóa được gieo mầm ngay từ khi tuyển sinh. Chúng ta chưa quên chính sách hồng hơn chuyên sau 1975. Hồng là đỏ, là cách mạnh. Chuyên là chuyên môn. Hồng hơn chuyên là có nhân thân cách mạng tốt hơn có tài chuyên môn. Chính sách hồng hơn chuyên thực chất là một sản phẩm của chủ nghĩa lý lịch. Chủ nghĩa lý lịch hoàn toàn nhất quán với chính sách chính trị thống lãnh giáo dục. Chúng ta còn nhớ sau 1975, lý lịch sinh viên học sinh được chia thành 14 bậc. Con cái của “ngụy” ở bậc thứ 13 hay 14. Ở bậc này cũng đồng nghĩa với không được vào học y khoa dù có điểm cao. Bao nhiêu nhân tài chỉ vì cái tội con cháu của ngụy bị đẩy ra ngoài. Thay vào đó, con cháu cách mạng dù điểm thấp vẫn được vào học y khoa. Điểm 2, 3 cũng được vào trường y. Đã có người sửa điểm thành 25, 30. Một xã hội xem thường tài năng thì làm sao khá được. Hậu quả là chúng ta có vài thế hệ bác sĩ tồi và giáo sư “dỏm” như ngày nay.

        Sẽ là rất sai lầm nếu nghĩ rằng chủ nghĩa lý lịch đã chấm dứt. Cái “đầu vào” mà BS Đỗ Hồng Ngọc không muốn hay không dám nói đến là gì? Tôi xin nói thay ông, đó là những “cử tuyển”, “chuyên tu”, “bồi dưỡng”. Đó là những mã ngữ mà nhiều người khó có thể hiểu nổi. Nói thẳng ra, mỗi năm người ta đưa ra một danh sách “sinh viên”được cử đi học y khoa, trường đại học không thể từ chối. Không thể từ chối vì đó là lệnh. Chưa nói đến chuyên tu. Dân gian có câu nhạo báng “dốt như chuyên tu, ngu như tại chức”, nhưng trớ trêu thay, chuyên tu và tại chức có quyền hơn chính quy. Có quyền là vì họ là người của Đảng. Đảng tin họ. Có mấy ai biết rằng chính những bác sĩ chuyên tu là những người đang nắm quyền sinh sát ngành y. Hãy nhìn quanh xem, giám đốc các sở y tế là ai, nếu không là chuyên tu. Họ nắm quyền từ cấp trung ương đến địa phương.

        Quá trình chính trị hóa tiếp tục trong trường y. Sinh viên y ngày nay phải học những môn học xa lạ với y khoa. Chủ nghĩa Mác Lê. Tư tưởng Hồ Chí Minh, dù ông chưa bao giờ tự nhận rằng mình có tư tưởng. Lịch sử Đảng CSVN. Tôi không rõ có trường y nào trên thế giới dành một thời lượng 20% để dạy những môn học như trên. Dĩ nhiên là ngoại trừ Trung Quốc, cái nước mà giới lãnh đạo chúng ta răm rắp làm theo cứ như là một học trò bé nhỏ trung thành. Dù ai cũng có thể thấy những môn học đó chẳng liên quan gì đến nghề y, nhưng nó vẫn được giảng dạy như là những môn học bắt buộc. Biết được chủ nghĩa Mác Lê, hay tư tưởng Hồ Chí Minh, hay lịch sử Đảng có làm cho người bác sĩ có tay nghề cao trong việc điều trị bệnh? Chắc chắn không. Vậy thì đừng hỏi tại sao kiến thức chuyên môn của bác sĩ ngày nay quá thấp.

        Chủ nghĩa Mác Lê dựa vào đấu tranh giai cấp. Do đó, cái giá của sự ưu tiên cho học chính trị là sự suy đồi đạo đức y khoa. Một sinh viên mới vào trường y đã được nhồi nhét những thông tin vế đấu tranh giai cấp, về kẻ thù, về phản động … thì đừng trách sao đầu óc của họ được uốn nắn để trở thành những kẻ chỉ biết đến Đảng và đấu tranh, chứ chẳng quan tâm đến bệnh nhân. Vậy thì đừng hỏi tại sao bác sĩ mới ra trường non choẹt nhưng đã bắt đầu hoạnh họe bệnh nhân và tự xem mình là ông quan, ăn trên ngồi chốc. Thử hỏi có bác sĩ chân chính nào vô tâm đến nỗi để cho thân nhân quỳ lạy mà vẫn vô tư bỏ đi ngủ và để cho bệnh nhân phải chết? Đó là kẻ sát nhân, chứ đâu phải “bác sĩ”. Cũng đừng trách tại sao sinh viên mới học 1,2 năm trong trường y đã bi bô khoe khám chỗ kín của phụ nữ. Khoe ngay trên mặt báo. Họ còn dùng chữ “chị em”. Thật chưa bao giờ đất nước này có những sinh viên y khoa mất dạy như thế. Tôi khẳng định dùng chữ mất dạy hoàn toàn chính xác trong tình huống vừa nói trên. Nhớ ngày xưa khi theo thầy vào phòng mổ, một đứa bạn nay là một nhà phẫu thuật tài ba ở Mỹ lỡ lời thốt lên một câu khiếm nhã về cái chân của bệnh nhân, sau đó bị thầy tán cho một bạt tay nhớ đời và cả đám lãnh đủ một bài giảng moral. Vậy mà bây giờ có những sinh viên y khoa không ý thức được thiên chức của nghề y và sự tin tưởng của xã hội để lên báo chí thốt lên những câu chữ chỉ có thể mô tả là mất dạy. Những sinh viên này không nên hành nghề thầy thuốc vì bộ não của họ đã bị đầu độc bởi những vi khuẩn hạ tiện.

        Thật khó nói có nơi nào trên thế giới mà người ta lẫn lộn giữa cán bộ y tế và bác sĩ. BS Đỗ Hồng Ngọc nói đến Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch khẳng định mục tiêu đào tạo “Bác sĩ tổng quát hướng về cộng đồng”. Nếu mục tiêu là hướng về sức khỏe cộng đồng thì tại sao trường có tên là “Đại học Y khoa”? Tại sao không gọi là Trường cao đẳng y tế cộng đồng cho phù hợp hơn? Thật ra, tiền thân của trường là Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế thành phố, một cái tên rất thích hợp. Khó định nghĩa khái niệm bác sĩ tổng quát hướng về cộng đồng vì chẳng ai định nghĩa đó là bác sĩ loại gì. Đối tượng của nghề y là người bệnh — con người và bệnh. Đối tượng của cán bộ y tế là cộng đồng, sức khỏe cộng đồng. Bác sĩ có thể là cán bộ y tế, nhưng cán bộ y tế không thể là bác sĩ. Lầm lẫn giữa y khoa và y tế dẫn đến sai lầm trong triết lý đào tạo. Trong thực tế, ai cũng biết trung tâm từng là cái nôi dành cho con em của quan chức, cán bộ. Mang tiếng là phục vụ cộng đồng, nhưng trong thực tế họ đều quanh quẩn trong các bệnh viện. Hậu quả là chúng ta có 15 thế hệ nửa thầy (bác sĩ) nửa thợ (cán bộ y tế). Khó tưởng tượng có nơi nào có hệ thống đào tạo quái gở như thế.

        Quá trình chính trị hóa nghề y còn diễn ra sau khi sinh viên tốt nghiệp trường y. Cũng như bất cứ cơ quan công nào, bệnh viện cũng có chi bộ của Đảng. Chi bộ đảng dĩ nhiên chỉ dành cho Đảng viên. Chi bộ có bác sĩ nhưng cũng có những người ngoài y giới, như tài xế lái xe. Những người ngoài y giới cũng có tiếng nói như bác sĩ khi họ ngồi trong chi bộ. Người có quyền nhất trong bệnh viện không hẳn là giám đốc mà là bí thư chi bộ. Bí thư chi bộ trên danh nghĩa là chính trị viên, nhưng lại can thiệp vào những vấn đề chuyên môn liên quan đến y khoa! Tiếng nói chuyên môn không có giá trị bằng tiếng nói của Đảng. Thật trớ trêu. Thật quái đản. Một nền y khoa bị chính trị hóa.

        Y khoa không phân biệt thù hay bạn. Người thầy thuốc chân chính không phân biệt bệnh nhân mình là phía bên kia hay bên này, không phân biệt người đó theo đạo gì, hay theo chủ nghĩa gì, không phân biệt thành phần xã hội. Tất cả đều được đối xử như nhau. Nhưng rất tiếc cái lý tưởng cao cả và phổ quát đó đã bị chính trị vứt bỏ một cách không thương tiếc. Chính vì thế mà ngày nay chúng ta có những khu đặc trị dành cho cán bộ cao cấp, biệt lập với khu dành cho thường dân. Đó không phải là ăn trên ngồi chốc thì là gì? Đó có phải là lý tưởng cách mạng? Nhưng sự phân biệt này đâu chỉ xảy ra mới đây. Nó còn tàn nhẫn hơn ngay từ ngày 30/4/1975. Hãy nhớ rằng ngày 30 tháng Tư năm 1975 bệnh nhân trong Quân y viện Cộng Hoà bị đuổi ra khỏi viện. Anh mù cõng anh què. Anh đổ ruột vịn vai anh cụt tay. Đó là thời điểm người Sài Gòn biết được y đức của nền y học mới. Đó là loại y đức bị chính trị hóa.

        Hậu quả của quá trình chính trị hóa từ khâu tuyển sinh, giảng dạy và tốt nghiệp là nhiều thế hệ bác sĩ có trình độ chuyên môn thấp. Mấy năm trước tôi đọc thấy ở Mỹ mỗi năm có hàng trăm ngàn bệnh nhân chết do sai sót trong y khoa. Một nền y học tuyệt vời và nhân bản như Mỹ mà còn như thế thì ở nước ta câu hỏi là đã có bao nhiêu người chết vì sự phân biệt trong điều trị? Những gì xảy ra ở bệnh viện Năm Căn và hàng ngày trên khắp nước chỉ là những “thành quả” đã được gieo giống từ rất lâu. Hậu quả cũng là hàng ngàn giáo sư dỏm, tiến sĩ dỏm, dỏm đến độ người dân khinh.

        Chính trị hóa y khoa đã xảy ra rất lâu chứ không phải mới đây. Nó còn được luật hóa. Điều 41 trong Hiến pháp ghi: “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gia đình và xã hội cùng với nhà trường có trách nhiệm giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng”. Điều 37 ghi: “Chủ nghĩa Mác-Lênin là hệ tư tưởng chỉ đạo sự phát triển của xã hội Việt Nam. Nhà nước tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính sách của đảng Cộng Sản Việt Nam […] chống các tư tưởng phong kiến, tư sản và ảnh hưởng của văn hóa đế quốc, thực dân; phê phán tư tưởng tiểu tư sản; xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ nếp sống lạc hậu, bài trừ mê tín, dị đoan”. Như thế, việc chính trị hóa y khoa không có gì đáng ngạc nhiên vì nó nằm trong chính sách của Đảng được hiến pháp quy định. Do đó, nếu muốn làm cho nền y khoa của chúng ta tốt hơn thì hãy thay đổi từ cái gốc, chứ không nên kêu gọi chung chung về y đức. Y đức chỉ là một sản phẩm của cái triết lý giáo dục bị chính trị hóa. Nguyên nhân chính dẫn đến nền y khoa nước ta bị suy thoái nằm ngay trên những dòng chữ tôi trích trên đây.

        BSN

      • Mai
        27/02/2012 lúc 22:00

        Không có chi đâu để mà em phải xin lỗi, nàng Phay ạ. Chị lạc hậu về thông tin thật mà…

      • Mai
        28/02/2012 lúc 02:37

        Cám ơn anh Lãng Tử đã giới thiệu bài viết rất hay này.
        “Lời khuyên sinh viên Y Khoa” của Bs Nguyễn Hữu Phiếm là những điều tâm huyết, ước mong sao các bạn đang học ngành Y nên suy ngẫm để trở thành những bác sĩ có tài và đức sau này.

      • 28/02/2012 lúc 09:56

        Thấy Chị thích bài này, em copy về đây:

        MẤY LỜI KHUYÊN SINH VIÊN Y KHOA

        BS Nguyễn Hữu Phiếm
        (1910 – 1977)

        (Buổi nói chuyện tại Y Khoa Đại Học Saigon, ngày 29-6-1968)

        Các bạn sinh viên thân mến,

        Nghề thuốc mà các bạn đã chọn là một nghề cao đẹp nhất, và chính để chứng tỏ điều đó nên mới có buổi nói chuyện hôm nay một buổi nói chuyện thân mật giữa một người thày thuốc-đã hành nghề trên 30 năm-với những người thày thuốc tương lai, giữa một người anh cả với các em sắp sửa vào nghề, bởi dù muốn dù không các bạn và tôi, chúng ta từ bao nhiêu thế hệ nay đã được coi như thuộc về một gia đình-đại gia đình y giới- và riêng về điểm đó, ngay từ bây giờ, các bạn đã thấy nghề thuốc không giống như các nghề tự do khác.

        Các bạn thân mến.

        Các bạn đã chọn nghề thuốc với tất cả một tấm lòng nhiệt hứng, hăng say của tuổi thanh xuân, nhưng thử hỏi đã mấy ai chịu tìm hiểu những lý do thúc đẩy mình vào con đường ấy?

        Có một số bạn trẻ chọn nghề này, coi như một lẽ đương nhiên để nối nghiệp cha anh đã từng là thầy thuốc.

        Có một số, vì ham thích và cũng như mọi ham thích, khó lòng mà giải thích được tại sao, có thể vì hồi nhỏ ốm đau, đã được người thày thuốc tận tâm săn sóc, hoặc được mục kích những cảnh thập tử nhất sinh mà được bàn tay người bác sĩ cứu sống.

        Đối với một số nữa-rất hiếm- có lẽ làm nghề thuốc vì đó là một thiên chức (une vocation): ngoài mảnh bằng bác sĩ để hành nghề ra, còn muốn làm một cái gì khác nữa, như trở thành một nhà khảo cứu, một vị bác học hoặc một giáo sư đại học.

        Thiên chức theo định nghĩa, là một tiếng nói tự đáy lòng phát ra, nó thúc giục ta làm một việc nào đó, Giáo sư Maranon bảo là: ”một loại đam mê có tính chất của tình thương, kẻ nào có một thiên chức coi vật mình yêu như một mục đích độc hữu, không thể chia sẻ được. Họ phụng sự mối tình yêu đó mà tuyệt đối không vụ lợi” và vẫn theo lời Maranon “sở dĩ nghề thuốc suy đồi vì thanh niên khi chọn nghề đó không phải vì có thiên chức thật sự, mà chỉ vì hy vọng có một địa vị cao sang”.

        Người ta đã điều tra một số sinh viên y khoa để biết tại sao họ chọn nghề thuốc: trong số 100 sinh viên có tới 70 người trả lời: Không biết. Còn lại 30 có người bảo: học thuốc để tìm những thỏa mản tri thức, hoặc vì có một niềm tin hoặc vì nghề đó đã danh giá lại kiếm được nhiều tiền.

        Tôi biết một số thanh niên sau khi đậu xong Tú Tài lưỡng lự không biết chọn ngành nào ở Đại Học bèn chọn đại Y khoa vì nghe lời cha mẹ hoặc họ hàng thân thuộc-những người này không phải là thày thuốc, không hiểu nghề thuốc là gì mà chỉ nhìn thấy một khía cạnh sai lầm là: nhà lầu xe hơi tiền bạc…. Những người đó xem nghề thuốc như nghề đi buôn và cho rằng học hành vất vả mới giật được mảnh bằng bác sĩ thì dĩ nhiên phải được đền bù xứng đáng, phải được thụ hưởng. Còn bổn phận của mình những gì, trách nhiệm ra sao họ đâu có biết hoặc nghĩ tới? Đối với hạng người này tôi xin nhắc lại ở đây câu nói của P. Le Gendre”

        “Kẻ nào chỉ làm nghề thuốc với hi vọng làm giàu, kẻ đó sẽ thất vọng, vì nghề thuốc chỉ được trọng vọng khi nào chúng ta có một tinh thần vị tha, hỉ xả. ”

        Các bạn thân mến

        Khi các bạn chọn nghề này, dĩ nhiên là để sinh sống, để nuôi gia đình, để hưởng một đời sống sung túc. tuy nhiên chúng ta không được quan niệm nghề thuốc như một nghề để làm tiền, vì nếu các bạn hành nghề đúng đắn ít khi các bạn có thể giàu được.

        Ngoài vấn đề mưu sinh ra tất còn có một lý do nào khác nữa nó thúc đẩy các bạn lựa chọn cái nghề đó. Tôi không dám dùng những danh từ quá to tát như: “cứu nhân độ thế” mà chỉ nói; sở dĩ làm nghề thuốc là để mong xoa dịu được phần nào những đau khổ của đồng bào, muốn giúp ích cụ thể cho xã hội.

        Có bạn học thuốc, như trên vừa nói, để thỏa mãn tri thức, thỏa mãn sự tò mò, hiểu biết những kỳ quan của bộ máy con người ta, muốn tháo nó ra từng mảnh để xem bên trong có những gì, tại sao nó chạy, hoặc muốn tìm cho ra hạt bụi nào đó đã làm cho bộ máy kia tắc, rồi ngưng chạy…

        Đối với sinh viên y khoa, còn gì vui sướng và hồi hộp bằng lần đầu tiên ở trong bệnh viện, chỉ nhờ có nghe và gõ lên ngực bệnh nhân mà đã đoán được rằng trong màng phổi có nước và khi lấy chiếc kim chọc vào phổi thì quả nhiên thấy có nước thật.

        Không những học để biết mà còn để phụng sự nữa. Còn niềm vui gì bằng sau một thời gian vật lộn với tử thần người thầy thuốc đã đẩy lui được bệnh và trao trả cho bà me đứa con thân yêu của bà.

        Người ta muốn phê bình sao thì phê bình, một người thày thuốc sau một ngày làm lụng vất vả, bảo họ “hái ra tiền” chẳng hạn, nhưng tôi dám chắc ngoài việc chữa bệnh ra, còn phải có những động cơ nào khác nó thúc đẩy họ chứ không riêng gì tiền bạc. Họ không thể không băn khoăn lo lắng mỗi khi rời một căn nhà, trong đó có một tính mạng đang bị đe dọa, hoặc đó là tính mạng của một người cha, cột trụ của cả một gia đình, hoặc tính mạng của một người mẹ với đàn con thơ dại đang cần có người săn sóc dạy dỗ, hoặc tính mạng của một đứa hài nhi, chỉ có quyền sống chứ không được chết yểu…

        Mối băn khoăn đó đôi khi còn ám ảnh người thày thuốc trong bữa ăn giấc ngủ của họ.

        Người thày thuốc không thể không có những suy tư sau khi ngồi bên giường bệnh kiên nhẫn nghe lời kể lể tâm sự của thân chủ mình, rồi cố tìm một lời nói dịu dàng để khuyên nhủ, ngõ hầu xoa dịu được phần nào những nỗi khổ đau về tinh thần, những khắc khoải hoặc dằn vặt của một lương tâm đang bị cắn rứt….

        Người thày thuốc không những chỉ đem lại cho ta sức khỏe, họ giúp ta sống đã đành nhưng nhiều khi họ giúp ta nhắm mắt cho yên nữa.

        Chữa khỏi đã vậy, nhưng còn những khi thất bại ?

        Đã mấy ai thấu hiểu được nỗi khổ của người thày thuốc, dù ham tiền mấy đi nữa, sau khi thâu canh ngồi bên một sản phụ, những mong cứu sống được cả mẹ lẫn con, hoặc ít nữa một trong hai người, nhưng rút cuộc không cứu nổi ai hết. Và trong khi người thày thuốc ấy, khác nào một kẻ bại trận, rửa tay-hai bàn tay đẩm máu và rung lẩy bẩy- thu xếp đồ dùng cho vào cặp rồi lủi thủi ra về, mặt mũi phờ phạc, đầu chóang mắt hoa, có những con mắt ngấn lệ, đầy đau thương, có khi đầy oán hận, nhìn theo và biết đâu không lên án họ? Ôi, VINH NHỤC của nghề thuốc!

        Người ta muốn phê bình người thày thuốc ra sao tùy ý, nhưng tôi dám chắc, trong khi hành nghề, họ không thể không có một niềm tin, một tia hi vọng, một ngọn lửa thiêng nào đó trong lòng. Nói tóm lại, thế nào họ cũng phải có một nhiệt hứng khiến họ cảm thấy sung sướng khi tìm ra căn bệnh. Một niềm vui khi phụng sự và thành công.

        Duhamel đã nói ”Không có nghề nào cao đẹp và buồn bằng nghề thuốc, một nghề đòi hỏi nhiều bổn phận, nhiều trách nhiệm tinh thần, nhưng chính trách nhiệm đó, nhất là trách nhiệm tinh thần, nó làm cho nghề chúng ta cao đẹp. ”

        Những trách nhiệm của người thày thuốc ở vào thời đại này rất nặng nề, vì không nói tất các bạn cũng rõ là chúng ta hiện đang sống trong một kỷ nguyên thật là huyền ảo, khoa học tiến quá mau, ngoài sức tưởng tượng của con người, ” đã làm cho chúng ta trở thành những bậc THẦN THÁNH trước khi chúng ta xứng đáng làm người” (Jean Rostand)

        Thật thế: chỉ trong vòng ba bốn chục năm, y học đã tiến triển và khác hẳn bốn ngàn năm trước và nếu ngoảnh lại nhìn chặng đường đã qua, chúng ta không thể không giật mình kinh ngạc.

        Giáo sư Jean Bernard đã viết không phải là quá đáng:

        ”Một người thày thuốc ở thời tiền chiến, vắng mặt sau một thời gian 30 năm và nay trở về sẽ bở ngở không khác gì một bạn đồng nghiệp của ông sống dưới thời Hippocrate nay tái sinh trước ngày thế chiến thứ hai”

        Tuy nhiên chúng ta những kẻ hậu sinh, không được quên ơn các bậc tiền bối đã có công lớn với y học, hoặc ít ra cũng nhớ đến tên tuổi những vị đó, như Pasteur, Claude Bernard, Lister, Yersin, Fleming …vv.

        Nói về ngoại khoa cách đây trên 40 năm một danh y về khoa giải phẫu, giáo sư J. L Faure trong bài diễn văn khai mạc một cuộc hội nghị quốc tế đã nói:

        “Ngày nay khoa giải phẫu đã lên tới chỗ tuyệt đỉnh rồi, khó lòng mà tiến hơn nữa”

        Tuy nhiên trên lãnh vực y khoa, ai dám tự hào mình là một nhà tiên tri, và ngày nay -1968- chúng ta có thể lập lại câu nói và biết đâu trong vài ba năm nhận xét của chúng ta lại không đúng nữa.

        Các bạn tất đã biết nhờ có thuốc mê (tìm ra năm 1816 ở Hoa Kỳ) mà người ta có thể giải phẫu với những điều kiện mới. Nhất là sau cuộc cách mạng do Pasteur khởi xướng, cho biết nguyên nhân của phần nhiều bệnh là vi trùng, rồi nhờ có phương pháp sát trùng (antiseptie) của Lister, nhất là phương pháp phòng hủ (asepsie) của Terrier, số người chết đi vì giải phẫu giảm đi rất nhiều. Đồng thời các nhà giải phẫu táo bạo hơn, dám đi sâu vào trong cơ thể, nào mổ ruột, mổ dạ con, nào giải phẫu xương, khớp xương, …v.v.

        Mặc dầu khoa giải phẫu tiến bộ rất mau, mặc dầu kỹ thuật giải phẫu đã được hoàn bị, vẫn còn có người chết vì giải phẫu do những xáo trộn trong cơ thể. Quan trọng hơn hết là xáo trộn sinh lý (desordres biologiques) gây ra một loại bệnh hậu giải phẫu (maladie post-operatoire) Bệnh này được nghiên cứu kỹ càng để dần dà đưa tới phương pháp hồi sinh (reanimation) một phương pháp ngày nay rất thông dụng, không những ở ngoại khoa mà còn ở nội khoa nữa.

        Một trong những kỹ thuật kỳ lạ nhất của khoa gây mê là đông miên nhân tạo (hibernation artificielle) và nhờ phương pháp này, người ta có thể giải phẫu tim được.

        Một đàng, nhờ có phương pháp hồi sinh và thuốc mê, đàng khác nhờ có thuốc trụ sinh- mỗi ngày một nhiều- nhờ có thuốc ngăn đông huyết (anticoagulants) và sau hết nhờ tiếp máu, có khi thay cả máu nữa, mà khoa giải phẫu đã đi vào những con đường mà từ xưa tới nay không ai dám nghĩ tới như là mổ phổi để rồi cắt đi, mổ óc, tủy, xương sống, giao cảm thần kinh (sympathique) hoặc ghép mạch máu, ghép xương, ghép mắt, ghép thận …vv. Mới đây các bạn còn nghe nói về những vụ thay tim làm chấn động dư luận thế giới và khiến mọi người phải kinh ngạc và thán phục vô cùng.

        Bên cạnh những thành công rực rỡ đó nội khoa cũng phát triển rất nhanh.

        Nhờ có thuốc trụ sinh, phát minh vào cuối thế chiến thứ hai, nhiều bệnh truyền nhiễm như thương hàn, giang mai…. đã bị đẩy lui.

        Nhờ có Penicilllin -do Fleming tìm ra- nhiều loại vi trùng như: pneumocoque, streptocoque, méningocoque. đã bị tiêu diệt và nhiều bệnh phổi, bệnh đau màng óc cấp tính, bệnh lậu, có thể trị được, cũng như bệnh đau tim do vi trùng streptocoque viridans-còn gọi là bệnh Osler- mà xưa kia y học đã phải bó tay.

        Còn nhiều trụ sinh khác cũng được khám phá và đáng kể nhất là streptomycine- do Waksman tìm ra năm 1943- rất công hiệu để trị bệnh lao, một trong tứ chứng nan y của ta. Lần đầu tiên bệnh nguy hiểm này đã bị đánh bại.

        Ngoài trụ sinh ra, người ta còn tìm ra được nhiều loại thuốc hóa học nữa, trong đó phải kể Isoniazide rất thông dụng từ năm 1952 để chữa bệnh lao, song song với streptomycine và nhiều thuốc khác như Chlopromazine (largactyl) để trị các bệnh thần kinh. Từ ngày có thuốc này và những thuốc mới như reserpine, tại các dưỡng đường điều trị người điên, loạn óc, ta không còn chứng kiến những cảnh huyên náo nữa, và nhất là bệnh nhân không còn bị đối xử như những con thú vật, mỗi khi lên cơn điên, bị nhốt trong chuồng sắt, chân tay bị trói chặt, như cách đây trên 30 năm, hồi tôi còn là sinh viên.

        Chúng ta cũng không thể quên được những khám phá quan trọng trong ngành học về những bệnh do siêu vi trùng gây ra, và nên biết rằng ngày nay, nhờ có thuốc chích hoặc uống thuốc phòng ngừa mà nhiều bệnh như bệnh tê liệt (poliomyélite) có thể tránh được, cũng như bệnh cúm (grippe) bệnh sởi (rougeole). . vv

        Những bệnh truyền nhiễm ghê gớm như bệnh tả (choléra) bệnh dịch hạch (peste) bệnh cùi (hủi) bệnh hoàng đản (fièvre jaune) không còn là mối lo cho nhân loại như hồi xưa nữa. Và những bệnh như bệnh ngủ (maladie du sommeil) ở Phi châu, bệnh sốt rét cơn (paludisme) cũng đã bị đẩy lui. Nhờ có bột DDT mà hàng chục triệu người đã không mắc bệnh sốt rét cơn.

        Các bạn thân mến.

        Tôi không thể kê khai hết ở đây tất cả những phát minh khác của y học trong mấy năm vừa rồi, như: sinh tố, kích thích tố (đặc biệt là cortisone, A. C. T. H ) hoặc nói đến những phương pháp tối tân để định bệnh bằng quang tuyến, bằng isotope. . vv mà chỉ nhấn mạnh tới những khám phá quan trọng trên lãnh vực trị liệu thôi.

        Đời sống trung bình của con người cách đây hai thế kỷ là 35 năm, nay lên tới 70, và có lẽ chỉ trong vài chục năm nữa số người thọ 100 tuổi là thường.

        Nhưng chúng ta đừng quá lạc quan và yên trí rằng bất cứ bệnh nào cũng có thể trị được dù y học tiến bộ mấy đi nữa, hiện nay vẫn còn có một số bệnh mà người ta vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân, như bệnh tê thấp, bệnh chai động mạch (arterio-sclerose), bệnh ung thư máu (leucemie)…Còn đối với những bệnh ở thần kinh hệ do siêu vi trùng gây ra (virus neurotrope) chúng ta vẫn còn …. . bất lực.

        Y học hiện nay vẫn chưa có thuốc để cho ta khỏi già. Không những đừng quá lạc quan mà còn phải biết những nguy hiểm và những bệnh do chính thuốc gây ra (maladies thérapeutiques). Giáo sư Michel Conte đã nói:

        Hiện nay chúng ta đang đứng trước một bi kịch mà chúng ta không phải là khán giả. Chúng ta bị lôi cuốn vào trong một cơn gió lốc, và chúng ta phải chữa bệnh, tức là phải lựa chọn những thứ thuốc mới, và cái đó không phải là chuyện dễ. Chưa bao giờ quyền lực của người thày thuốc lại mạnh đến thế, nhưng chưa bao giờ họ lại cảm thấy mình lúng túng đến thế.

        Trụ sinh khi dùng bừa bãi, có thể tạo ra nhiều bệnh nặng do vi trùng staphylocoque gây ra, hoặc bệnh nấm(mycose) hoặc làm cho máu biến đổi.

        Một vài loại sulfamide có thể gây ra bệnh ngoài da chết người được. Aspirine dùng nhiều có thể làm loét bao tử và xuất huyết, dùng corisone có thể làm thủng bao tử, gây kinh phong, hoặc làm cho bệnh lao cũ tái phát. Butazolidine có thể làm băng huyết được. Nhiều tai nạn lưu thông đã xảy chỉ tại dùng thuốc an thần, những thuốc này làm cho phản ứng chậm lại.

        Người ta cũng nói nhiều về trường hợp các lực sĩ chết vì dùng kích thích tố trong các cuộc thi điền kinh.

        Vẫn hay rằng những thuốc nói trên, trước khi đem ra dùng đã được thí nghiệm cho súc vật (Florey và Chain đã chích Penicilllin cho chuột và thấy không độc nên mới chích cho người, cũng như các loại thuốc an thần) nhưng làm sao biết chắc được là khi áp dụng cho người sẽ không nguy hiểm? Làm sao có thể tiên liệu được những phản ứng chậm, còn những thứ thuốc, thuộc loại thuốc hóa học, mỗi ngày một nhiều, càng công hiệu lại càng nguy hiểm)

        Người ta đã từng thí nghiệm thuốc Thalidomide trước khi đưa ra thị trường nhưng có ai ngờ đâu rằng dược phẩm đó lại làm cho các sản phụ sinh ra quái thai. ?

        Các bạn thân mến.

        Tôi không có ý nêu ra đây những nguy hiểm của thuốc để các bạn sợ và đừng dùng, mà chỉ mong sao các bạn thận trọng mỗi khi các bạn cho toa, nhất là lưu ý các bạn đến những phản ứng bất ngờ có thể xảy ra với bất cứ loại thuốc nào. bởi vậy các bạn cần hỏi cặn kẻ bệnh nhân trước khi biên toa cho họ.

        Tôi đã nói với các bạn không có nghề nào có nhiều trách nhiệm bằng nghề thuốc, nhưng cũng không có nghề nào cao quý bằng. Cứu sống một người bị thương nặng nhờ giải phẫu kịp thời và đúng kỹ thuật, làm cho một bệnh nhân đang đau quằn quại chỉ trong phút chốc hết đau ngay, hoặc trả lại cho một bà mẹ đứa con yêu quý mà bà ta yên trí khó lòng qua khỏi, tất cả những cái đó, đối với một người không ở trong nghề, thật là phi thường và được coi như phép lạ.

        Trách nhiệm của người thày thuốc nặng nề ngay từ khi định bệnh cho đến lúc kê toa, hoặc giải phẫu, bởi tính mạng của một người nằm trong tay họ.

        Trách nhiệm đó làm cho người thày thuốc ngày đêm lo lắng đến quên ăn mất ngủ. Tôi thành thật mong cho các bạn được sống những giờ phút lo âu hồi hộp đó vì chính nhờ thế, rồi qua khỏi mới cảm thấy được tất cả cái cao đẹp của nghề thuốc.

        Trousseau, một vị danh sư của Pháp, đã từng khuyên các sinh viên y khoa:

        ”Các bạn có bổn phận làm vẻ vang cho nghề của các bạn, cũng như nhờ nghề đó mà các bạn được vẻ vang, một nghề đòi hỏi nhiều hi sinh, một nghề trong đó ngày và đêm của các bạn sẽ là ngày và đêm của người ốm.

        Các bạn nên yên trí rằng các bạn gieo tận tâm mà sẽ chỉ gặt bội bạc. Các bạn sẽ phải gạt bỏ hết những thú vui đầm ấm của gia đình và thì giờ nghỉ ngơi sau một thời gian làm lụng vất vả.

        Các bạn không được sợ thối tha bẩn thỉu hoặc nguy hiểm, các bạn không được lùi bước trước cái chết khi cái chết đó xảy ra giữa những lúc nguy hiểm của nghề chúng ta, bởi chết như thế sẽ làm cho ai nấy khi nhắc đến tên bạn, phải tỏ lòng kính mến. ”

        Như tôi vừa nói, y học ngày nay tiến rất nhanh, và muốn trở thành một bác sĩ lành nghề, các bạn khi còn là sinh viên, phải siêng năng học tập, từ lý thuyết đến thực hành. Định bệnh chậm trễ hoặc sai lầm khi cho thuốc (cho quá hoặc không đủ liều) đều là những lỗi không thể tha thứ được. Bởi vậy thiết tưởng trong LỜI TUYÊN THỆ của Hippocrate cần ghi thêm câu này: Tôi xin thề suốt đời học hỏi Trong thời buổi này, bổn phận đầu tiên của người thày thuốc là phải học, phải biết, và phải biết cho đến nơi đến chốn, chứ không được biết lờ mờ.

        Không nói tất các bạn cũng rõ là những kiến thức của chúng ta ở trên mọi lãnh vực, chứ không riêng gì ở y khoa, chỉ trong vài ba năm, có khi vài tháng, đã trở thành “cũ rích”, vì vậy chúng ta cần phải trau dồi học hỏi luôn luôn, suốt đời chúng ta vẫn phải là sinh viên đầy nhiệt hứng. Bận rộn mấy các bạn cũng cố dành thì giờ để đọc sách, báo y học, ngõ hầu theo dõi những tiến triển của y khoa, và nếu các bạn có thể tìm tòi, khảo cứu được thì càng hay. Thật là một tai họa cho người ốm nếu chẳng may gặp phải ông thày thuốc, dù tử tế dù tận tâm, nhưng “gà mờ” khiến tiền mất mà tật vẫn mang.

        Người ta thường nói “Có học mà không có lương tâm là sự đồi bại của linh hồn” (science sans conscience n’est que ruine de l’âme) nhưng có lương tâm mà không có học, nhất là khi làm nghề thuốc, cũng bằng thừa, nguy hiểm nữa là khác. “Tài năng và lương tâm chức nghiệp đều có liên hệ mật thiết với nhau, và giá trị nghề nghiệp phải đi đôi với giá trị đạo đức. Dốt nát và lừa bịp đều như nhau cả” (Gosset)

        Ngoài việc trau dồi kiến thức y học, người thày thuốc còn phải có một vài đức tính sau đây:

        a) Có óc nhận xét, nếu không sẽ bỏ qua những triệu chứng cần thiết để định bệnh.

        b) Có lương tri, tức óc phê bình, biết phán đoán, không quá tin ở những kỹ thuật hoặc thuốc mới nếu xét thấy những kỹ thuật và thuốc này trái ngược với bệnh lý (phòng thí nghiệm vẫn có thể nhầm được). Đừng ham mới chuộng lạ nếu thuốc kê cho bệnh nhân dùng chưa được các danh sư hoặc các bác sĩ đứng đắn xác nhận là công hiệu và không nguy hiểm. Có nhiều thứ thuốc hôm nay được ca tụng như thần dược mà chỉ trong một thời gian ngắn đã bị bỏ rơi (trường hợp vàng để trị bệnh lao, thạch tín (arsenic) để chữa giang mai. . ) Bởi vậy trước khi cho toa các bạn phải thận trọng và luôn luôn nhớ tới lời châm ngôn cổ: Primum non nocere (trước hết đừng làm hại).

        c) Có kinh nghiệm:

        Muốn có kinh nghiệm dĩ nhiên phải hành nghề lâu năm. Tuy nhiên đối với nghề thuốc cũng như với nhiều nghề khác, các bạn đừng tưởng rằng cứ nhiều tuổi nghề mà có nhiều kinh nghiệm, nhiều từng trải, vì có “những cái mà mình cho là kinh nghiệm, kỳ thực là những sai lầm chồng chất lên nhau” (Sergent)

        Một sinh viên y khoa năm thứ nhất, lần đầu tiên gặp một người mắc bệnh thương hàn lần sau gặp một người sốt liên miên, nom có vẻ mệt mỏi, chàng ta không do dự gì cả, bảo người đó bị bệnh thương hàn. Trái lại một sinh viên năm thứ năm, hoặc một sinh viên nội trú hoặc một vị giảng sư dù đã từng chữa hàng trăm người mắc bệnh đó rồi, bao giờ cũng dè dặt, không vội vả. Những người ít học lại càng hay tự phụ, còn những người học rộng tài cao lại càng khiêm tốn “khác nào những bông lúa lép bao giờ cũng ngạo nghễ vươn đầu lên trời, trong khi những bông lúa vàng nặng trĩu hạt thì nằm rạp xuống đất” (Leonard de Vinci )

        Ngoài kiến thức về y học ra người thày thuốc còn phải có những đức tính tinh thần, nhất là phải có tình thương.

        Làm thày thuốc dù giỏi, dù có lương tâm mà thiếu tình thương thì chỉ được coi như mới làm có một nửa phận sự thôi, và nhất định không thể nào yêu nghề được. Từ mấy ngàn năm nay Hippocrate đã nhấn mạnh tới điểm quan trọng này rồi.

        Bạn săn sóc người ốm, sau khi đã thăm bệnh, cho toa, dặn dò cặn kẻ cách dùng thuốc như thế nào và cho biết bệnh tình nặng nhẹ ra sao, bao giời khỏi, rồi bạn ra về, như vậy đã đủ chưa? Tôi thấy là chưa đủ. Vì ngoài cái đau đớn về thể xác, bệnh nhân nào cũng mong được vỗ về, an ủi, bệnh nhân nào dù sang hèn, cũng muốn rằng người thày thuốc kiêm cả một nhà tiên tri nữa, biết hiện tại lẫn tương lai, chữa được mọi bệnh ngay cả tâm bệnh.

        Phải chính bản thân mình đã từng bị đau ốm mới biết thế nào là một người thày thuốc. Trong khi mong đợi thì xiết bao lo ngại, băn khoăn, rồi khi thấy mặt thì mừng rỡ, cảm thấy vững tâm ngay. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của người thày thuốc đều quan trọng đối với người bệnh, và người này chỉ muốn cho ông thày lúc nào cũng ở bên cạnh mình, không rời mình ra, bất kể đêm khuya, bất kể họ mệt nhọc. Nào chỉ có thế thôi !Lại còn những lời trách móc nếu mời mà đến chậm, hoặc đi vắng vì hôm đó nhằm ngày chủ nhật hay ngày lễ.

        Chính nhờ có sự vững tâm nói trên mà nhiều khi bệnh mau khỏi. Bởi lẽ đó, y học muốn trở thành một nghề cao quý, cần phải là một nền y học nhân bản, nghĩa là hiểu thấu những gì thuộc về con người, con người toàn diện, con người trong quá khứ và hiện tại. Và nhất là phải tôn trọng con người.

        “Nhân bản là cảm thấy trong lòng con người ta trải qua bao thế kỷ, cái gì đó vẫn bất di, bất dịch, con người thì hoàn toàn và sống trong một thế giới thích hợp với họ, con người biết rung động trước thiên nhiên, biết rung động khi nghe một bản nhạc, khi đọc một cuốn sách khi suy ngẫm về những sự huyền bí của tạo vật. Nhân bản tức là biết cảm, biết yêu, biết thương xót” (Maranon)

        Một người ốm, không phải chỉ có phần xác, với tim, gan, phổi, thận mà thôi, lại còn có cái mà từ ngàn xưa Platon gọi là phần hồn nữa.

        Một bệnh nhân thuộc về bất cứ thành phần nào trong xã hội không phải là một con số, hay là một lá phiếu như ta thường quan niệm ở bệnh viện. Họ không phải là một kẻ vô danh, mà ngược lại, là một người như chúng ta, một người có tên, có tuổi, có nghề nghiệp, địa chỉ, có gia đình, có những hoài bão, ước mơ, cảm xúc.

        Các bạn nên biết rằng một bệnh nhân khi nằm trên giường bệnh, không bao giờ có những phản ứng tâm lý như một người bình thường, và buổi đầu thế nào họ cũng có những xúc động lo âu.

        Người thày thuốc không phải là một người thợ máy sữa chữa cơ thể như ta sửa một cái máy hư: “Đó là một con người cúi xuống một con người khác, mong giúp đỡ họ, có gì cho nấy, đem lại cho họ một chút khoa học nhưng rất nhiều tình thương”(Ignacio Chavez).

        Muốn rằng thày thuốc là một con người máy và người ốm là một con số tức là không hiểu một tí gì về khoa tâm lý cả. Không nói tất các bạn cũng rõ là con người ta phức tạp vô cùng, đầy mâu thuẩn, có lúc sống với những bản năng cực kỳ hèn thấp, nhưng đôi khi lại có những hành động thật là cao thượng, siêu nhân. Và có lẽ bởi nhìn thấy rõ các nhược điểm đó nên người thày thuốc, mỗi khi gặp một bệnh nhân khó tính, hoặc đối xử với mình tệ bạc mà vẫn sẵn lòng tha thứ.

        Không có một bộ máy nào dù cho tinh xảo mấy đi nữa, có thể ủy lạo người ốm với những lời dịu dàng trìu mến được, và giữa người thày thuốc và con bệnh, bao giờ cũng có một sự cảm thông, một mối dây liên lạc mật thiết “một cuộc đối thoại kỳ lạ”(une colloque singulier) như Duhamel đã nói, một bên thì ký thác những gì bí ẩn trong cõi lòng của mình, còn một bên thì cho mà không hề đòi hỏi. Hiểu như vậy các bạn sẽ cảm thấy sung sướng vô cùng, và nếu cái học của các bạn không phải là cái học nhân bản thì thật là vô ích và đáng tiếc lắm.

        Tóm lại đối với người thày thuốc, xứng đáng với danh từ đó: “không có bệnh mà chỉ có người bệnh thôi” (Mondor).

        Ta thường nghe người ta phê bình ông thày thuốc này tốt, ông kia tử tế. Tốt hay tử tế không phải vì mát tay, mà vì ngoài công việc chữa bệnh ra, người thày thuốc còn hỏi han đến gia cảnh của thân chủ mình, đến sự học hành của con cái họ, có khi khuyên răn, có khi giúp đỡ, nghĩa là làm tất cả những gì có thể làm cho bệnh nhân và gia đình họ được hài lòng “Chỉ có người tốt mới có thể thành danh y được” (Nothnagel) vì nhiều khi chính nhờ tấm lòng tốt của người thày thuốc mà bệnh nhân chóng bình phục.

        Ngoài tình thương và tấm lòng tốt ra người thày thuốc còn phải tế nhị đối với bệnh nhân nhất là ở bệnh viện.

        Các bạn đừng quên rằng người ốm bao giờ cũng có nhiều mặc cảm (mặc cảm tự ti) hay lo lắng và thường để ý tới cử chỉ và lời nói của các bạn.

        Các bạn đừng khinh người nghèo khó và nên nhớ rằng trước bệnh tật và cái chết ai ai cũng như nhau cả.

        Ambroise Paré người đã được coi như cha đẻ của khoa giải phẫu, nguyên là ngự y cho vua Chareles IX một hôm nhà vua đau cho vời ông lại và bảo: “Trẩm mong khanh săn sóc Trẫm chu đáo hơn những người khác”. Ambroise Paré đáp: “Tâu bệ hạ, hạ thần rất tiếc vì kẻ hạ thần chữa thân chủ của hạ thần như chữa các bậc đế vương”.

        Ngay đến những sa đọa về tinh thần của bệnh nhân các bạn cũng phải tôn trọng.

        Các bạn sinh viên thân mến,

        Như trên tôi vừa nói, trong nghề thuốc của chúng ta có nhiều buồn, nhiều đau khổ hơn vui, nhất là nhiều nhục hơn vinh. Có những người mà ta tận tình săn sóc lại là những kẻ bội nghĩa vong ân, và trái lại, có những người mà tự xét ta chẳng làm được gì gọi là đáng kể thì suốt đời họ lại coi ta như bậc ân nhân.

        *********

        Nói tới những bổn phận của các bạn, tôi không thể không đề cập đến vấn đề bí mật nghề nghiệp (secret professionnel)

        Tuyệt đối người thày thuốc không được tiết lộ cho ai biết căn bệnh của thân chủ mình. Trong bệnh viện khi các bạn còn là sinh viên, các bạn không được nói to để người ngoài biết bệnh tình của con bệnh, hoặc cho biết họ mắc bệnh gì (một bà chủ muốn biết người làm công của mình mắc bệnh lao hay không). Ngay cả đối với nhà cầm quyền, các bạn cũng không được tiết lộ những gì bạn biết về thân chủ của các bạn. Khi viên cảnh sát trưởng hỏi ông Dupuytren để biết ai là kẻ phiến loạn trong số người nằm điều trị trong bệnh viện, ông ta đáp: “Tôi không biết ai là phiến loạn cả, tôi chỉ biết có những người bị thương thôi”.

        Các bạn cũng nên biết rằng các bạn có thể bị phạt tù nếu các bạn không kín miệng.

        Sau hết các bạn phải có lương tâm chức nghiệp, hay nói một cách vắn tắt, các bạn khi hành nghề phải có lương tâm. Giaó sư Jean Gosset đã từng nói: “Trong phòng giải phẫu người thày thuốc là chúa tể sau đức Thượng Đế nhưng có trách nhiệm trước lương tâm của mình”.

        Không riêng gì thày thuốc ngoại khoa mà có thể nói một cách tổng quan là không một ai có thể kiểm soát nỗi một bác sĩ ngoại trừ lương tâm của họ.

        Sở dĩ ngày nay y học không có một địa vị xứng đáng trong xã hội, sở dĩ người thày thuốc không được trọng vọng, không được kính nể như hồi xưa (kể cả ở Việt Nam) là bởi trong nghề của chúng ta có một số con chiên ghẻ, thiếu lương tâm chức nghiệp.

        Các bạn thân mến

        Nghề thuốc mà các bạn đã lựa chọn không giống những nghề khác. Nhất định không, một trăm, một ngàn lần không. Ai đã chọn nghề này cần phải biết rằng có nhiều cái không được phép làm, và phạm tới những cấm điều đó, tức là làm hoen ố nghề mình.

        Nếu các bạn không muốn sống khắc khổ, không sẳn sàng hi sinh tốt hơn hết là các bạn tìm một nghề khác, ngay từ bây giờ cũng chưa muộn. Không thiếu gì nghề ngoài nghề thuốc vừa đem lại cho các bạn danh giá tiền bạc lại không vất vả, nhất là không có trách nhiệm gì hết.

        Có người, nhiều người lắm tưởng rằng nghề thuốc cũng như nghề đi buôn. Kỳ thực, giữa nghề đi buôn và những nghề tự do, trong đó có nghề thuốc, có một hố sâu không sao lấp được.

        Mục đích nghề đi buôn là mua rồi bán để lấy lời. Giá hàng cao hay hạ là tùy thuộc ở món hàng tốt hay xấu, bền hay không bền.

        Trái lại mục đích chính của nghề tự do không phải là tiền tài hay lợi lộc. Người thày thuốc khi săn sóc một người ốm, cũng như một giáo sư khi giảng bài cho học sinh, sinh viên, đều cố gắng hết sức mình chứ đâu có nghĩ tới tiền thù lao, lương lậu ?

        Người đi buôn có quyền làm quảng cáo rùm beng, hoặc trên báo, hoặc trên đài phát thanh, trên đài truyền hình để “câu khách”, hoặc nhờ người dắt mối rồi cho họ ăn hoa hồng.

        Người đi buôn có thể rao ầm ỉ để mọi người biết là hàng của họ đep, bền, rẻ nhất thế giới chẳng hạn mà không sợ ai chê cười. Trái lại, người thày thuốc, biết tự trọng, có liêm sĩ, không được phép làm như vậy. Không những Y sĩ đoàn, Nghĩa vụ luận không cho phép mà chính lương tâm của họ cũng không cho phép.

        “Người ốm không phải là một món hàng và chúng ta cũng thế, chúng ta không phải là món hàng để cho thiên hạ đem tiền ra mua chuộc. Chính người thày thuốc, khi đem tài nghệ của mình ra để phục vụ người ốm, đã làm ơn cho họ, chứ không phải người ốm, vì đem tiền bạc hay thế lực mà ban ơn cho người thày thuốc”. (Leannec)

        Ngoài bổn phận đối với bệnh nhân ra, các bạn còn có bổn phận đối với các bạn đồng nghiệp nữa.

        Tôi nhận thấy ngày nay phần đông các bác sĩ không đối xử với nhau như các bậc đàn anh của họ hồi xưa: trên kính dưới nhường. Tuyệt đối các bạn không được nói xấu bạn đồng nghiệp, không được phê bình (với ác ý) chỉ trích cách định bệnh hoặc chữa bệnh của họ, không được gièm pha để tranh khách, không được len lỏi vào một gia đình nếu gia đình đó đã có một dồng nghiệp rồi.

        Giáo sư P, V. Badot có kể lại truyện về giáo sư Maranon, một hôm tới bệnh viện Bichat và chăm chú nghe một sinh viên nội trú giới thiệu một bệnh nhân mắc chứng bệnh ở nội tiết tuyến (glandes endocrines) P, V. Badot viết: ”Khi tôi hỏi ý kiến của ông trước mặt đông đủ học trò của tôi thì ông chỉ mỉm cười, không trả lời. Khi chỉ có một mình ông với tôi, tôi nói:

        -Thế nào, ông có đồng ý không?

        Giáo sư Maranon đáp:

        -Tôi không hoàn toàn đồng ý với học trò của ông.

        -Thế tại sao lúc ấy ông không nói?

        -Bởi vì không ai có thể biết sự thật chắc chắn được, Vả lại, không bao giờ được làm mất lòng một bạn đồng nghiệp cả!”

        Rồi giáo sư PVBadot kết luận: “Lịch sự tới cực độ ấy là một đặc tính của ông. ”

        Còn một điều này nữa tôi muốn nói với các bạn, là ngoài nghề thuốc ra các bạn cần phải trau dồi văn hóa, không những trên lãnh vực khoa học mà cả trên lãnh vực văn chương nữa. Ở vào thời buổi này một nhà khoa học phải ham thích văn chương cũng như một nhà văn, không thể không biết tới khoa học.

        Chính nhờ văn hóa mà bạn có óc phê bình, sự phán đoàn của bạn được sắc bén, mau lẹ và minh mẫn, trí tuệ không bị cùn nhụt, căn cỗi, thành chai, tâm hồn của bạn vẫn giữ được trẻ trung mãi mãi.

        Giáo sư P, V. Badot đã viết:

        Phải mở mang trí tuệ của thanh niên hơn là để họ sống gò bó trong khuôn khổ chật hẹp của y khoa.

        Tôi nhận thấy nhiều danh y của thế giới, hoăc nhiều giáo sư đại học, đều là những người hiếu học, ham đọc sách, yêu sách, yêu nghệ thuật, học thức rất uyên thâm, vừa là thầy thuốc trứ danh, vừa là nhà văn nổi tiếng, như Mondor (nổi danh nhờ con dao cây bút và cây cọ) Jean Delay, P. V. Radot, Duhamel…. những người này vừa có chân trong Hàn Lâm viện Y khoa vừa là Hội viên của Hàn Lâm viện Pháp.

        Nữ văn hào Han Suyin, Sommerset Maugham, Cronin, trước khi là nhà văn, đã từng làm nghề thuốc.

        Tchekov, đại văn hào Nga, vừa sống về nghề thuốc, vừa viết văn. Ông thường nói: ”Y học là vợ chính thức của tôi, còn văn chương là tình nhân. Khi tôi chán bà này thì tôi đi với bà kia. Tuy nhiên đối với cả hai, tôi đều trung thành cả. Nếu không có nghề thuốc, có lẽ tôi không có tài liệu để viết văn. ”

        Giáo sư Trousseau tôi đã dẫn thượng, cũng bảo: “Một nhà bác học mà không phải là một nghệ sĩ thì chỉ là một nhà bác học tầm thường”

        Bởi vậy tôi khuyên các bạn, ngoài việc học ra, nên để thời giờ nhàn rỗi, trau dồi văn hóa, rèn luyện văn chương, nghệ thuật (âm nhạc, hội họa……) chơi thể thao, để cuộc đời đỡ buồn tẻ, vì theo tôi, nếu suốt đời làm mãi một nghề, bất cứ nghề gì, mà vẫn hăng say, không thấy chán thì quả thật là một sự lạ.

        Không những để cuộc đời khỏi buồn tẻ mà còn làm cho đời sống thêm phong phú, để biết sâu hiểu rộng, ngoài lãnh vực y khoa.

        Người ta thường so sánh thày thuốc với ông Cha sở và ông Luật sư. Tôi không mang tiếng mắc bệnh chủ quan nếu phê bình vai trò của ba loại người đó, mặc dầu ở đây chỉ có các bạn và tôi mà chỉ xin dẫn Balzac và Duhamel là hai văn hào đã viết rất nhiều về cuộc đời của mấy nhân vật đó. Balzac nói:

        “Tôi cho rằng sở dĩ văn minh tiến bộ và nhân loại được sung sướng là nhờ ba người này”

        Nhưng sau khi nhận thức đúng vai trò của người thày thuốc, ông nói thêm:

        “Người nhà quê sẵn sàng nghe lời người kê toa cho mình để họ khỏi bệnh hơn là nghe lời ông Cha sở diễn thuyết về việc cứu vớt linh hồn. Một đàng có thể nói chuyện với họ về đồng áng và một đàng, chỉ có thể bàn với họ về thiên đàng, điều mà họ ít quan tâm tới. ”

        Còn Duhamel thì viết về ba vị đó như sau:

        “Ông luật sư mà ta nhờ cậy để bệnh vực công lý cho ta có thể chọn ngày giờ để tiếp khách. Nếu ông yêu nghề, ông sẽ hăng hái làm việc, dù sao, không có gì cấp bách cả. Đối với thân chủ của ông, dù sao tình thương không quý bằng tài hùng biện, bằng sự khôn khéo, bằng giao thiệp rộng.

        Công việc của một nhà tu hành có thể ví với công việc của người thày thuốc, tuy nhiên tôi cần nói ngay là chỉ khi nào hấp hối, người ta mới mời ông Cha Sở. Lương tâm dù bị cắn rứt, đợi đến sáng hôm sau cũng không muộn. Nhưng thường thường khi lên cơn đau vì trong thận có sạn, thì không thể nào đợi được. Ít khi người ta đánh thức ông Cha sở, dù ông này tốt, vì có người ăn năn sám hối; nhưng hơi nhức đầu một tí, có khi chẳng sao cả, đang đêm người ta cũng dựng ông thày thuốc dậy. ”

        Các bạn sinh viên thân mến

        Tôi vừa phác họa ra đây hình ảnh của một người thày thuốc, xứng đáng với danh từ ấy, suốt đời tận tụy, hi sinh cho người ốm, không quản vất vả, không mấy khi có thì giờ để nghỉ ngơi, giải trí, bữa ăn giấc ngủ thất thường, ngay đến những thú vui trong gia đình cũng không được hưởng, đã thế lại gặp nhiều bội bạc, hoăc có khi bị chính các bạn đồng nghiệp dèm pha, ghen ghét.

        Tuy vậy nhưng tôi chưa hề thấy một người thày thuốc nào than phiền về cái nghề của họ, vì đó là một nghề cao đẹp, cao đẹp hơn hết mọi nghề khác cao đẹp ở chỗ tất cả những cảnh khổ não trên thế gian này chỉ càng thắt chặt thêm mối dây liên lạc giữa người thày thuốc với người ốm, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, cao đẹp ở chỗ chỉ có nghề thuốc mới dung hòa được khoa học với lý trí và tình thương.

        Và để kết thúc buổi nói chuyện, kể cũng khá dài rồi, tôi xin mượn lời giáo sư E. Rist, trích trong cuốn: Y học là gì ? (Qu’est-ce la Medicine ?)

        “Muốn lúc nào cũng lãnh được hết trách nhiệm tinh thần của nghề chúng ta, chỉ có cách chắc chắn nhất, ấy là chuyên tâm vào nghề của mình, yêu nghề đó tha thiết, và luôn luôn cố gắng để mỗi ngày một tiến.

        Người thày thuốc muốn được tín nhiệm cần phải xứng đáng là người thày thuốc, cần phải có một nếp sống giản dị, không xa hoa đàng điếm, nêu một tấm gương thanh bạch đứng đắn.

        Người thày thuốc phải sống thực tiễn và sống theo thời đại. Trí tuệ phải được rèn luyện, trau dồi luôn, hợp nhân đạo. Đối tượng của sự học là con người, con người toàn diện.

        Người thày thuốc không những nên tìm hiểu con người trên lãnh vực khoa học mà còn cần biết đến đời sống tâm linh nhờ được tiếp xúc với đủ mọi tầng lớp người, nhờ được trông thấy những thử thách của cuộc đời và làm quen với những kiệt tác của nhân tâm, của nghệ thuật và của khoa học.

        Sống cho người thân yêu và cho nghề của mình, đó không phải là một đề mục khá đẹp cho một mộ chí hay sao? Và nếu lại còn được cái đặc quyền sống cho Tổ Quốc nữa thì thật là sung sướng vô cùng. Và chung quy có lẽ đó là một cách thẳng thắn nhất để sống cho Nhân loại. ”

        Tôi thành thật cầu chúc cho các bạn sẽ là người thày thuốc gương mẫu đó.

        BS Nguyễn Hữu Phiếm
        (nguồn: dohongngoc.com)

      • Trần thị Bảo Vân
        28/02/2012 lúc 22:33

        Chị Ba, chị Năm kính: Ui!!! Tại Út.. “bày đặt xí xọn”..nên chị Năm phải “xin lỗi” chị Ba!
        Vậy cho Út cũng thành thật xin lỗi chị Năm vì cái tánh “xí xọn” này nghen..
        Nói đến “xin lỗi”, Út chợt nhớ có một bài hát của Elton John rất hay:

        ” Sorry seems to be the hardest word ”

        Chị Năm tìm post lên đây nghe..nghen chị Năm.

  11. Trần thị Bảo Vân
    24/02/2012 lúc 22:40

    Chị Năm ơi, nãy giờ Út nghe Chị Cam Li hát nhạc phẩm “Nha Trang”…
    Vậy, thêm vài bản nhạc nữa thư giãn nghen chị Năm:

    1/ Top of the world – The Carpenters
    2/ My heart will go on – Celine Dion

    • 25/02/2012 lúc 13:15

      Bảo Vân: Entry này là Quà tặng trang PV kính gởi đến Chị Cam Li. Chị Cam Li đã đọc còm của em rồi, và đã ưu ái gởi tặng bản Top of the world do chính Chị hát.

      Mời em nghe tiếp Chị Cam Li hát bản này nghen:
      Woman in love

      • Nguyễn Tuấn Anh
        25/02/2012 lúc 20:46

        Chị Năm: Ui chu choa!!!
        Lần trước, chị Năm nói chị Cam Li gởi cho chị bản nhạc Woman in love này lâu rồi, chị Năm hứa sẽ cho mọi người nghe trong tháng giêng!!!! Thế mà hôm nay chị mới cho trình làng bản nhạc này qua giọng ca của chị Cam Li.
        Hôm nay chắc còn tháng giêng, và chị Năm hình như ở..”nước lèo”..hở chị Năm??!!!!hihihihihi…

        Nhóm tụi em nghe bản nhạc này qua giọng ca của Barbra Streisand, phối hợp bè nghe rất thích!
        Nay nghe giọng chị Cam Li hát, với kỷ thuật phối hợp bè thật là nhuyễn. Chị Cam Li đã lớn tuổi mà giọng chị thật là trong, phát âm lời hát nghe thật là..đã!!!!
        Em sẽ gõ chép lời bài hát này ở còm dưới, để dễ nghe theo lời bài hát nghen…

      • Nguyễn Tuấn Anh
        25/02/2012 lúc 20:51

        WOMAN IN LOVE

        Life is a moment in space
        When the dream is gone
        Its a lonelier place
        I kiss the morning goodbye
        But down inside you know
        We never know why
        The road is narrow and long
        When eyes meet eyes
        And the feeling is strong
        I turn away from the wall
        I stumble and fall
        But I give you it all…

        Chorus:

        I am a woman in love
        And I do anything
        To get you into my world
        And hold you within
        Its a right I defend
        Over and over again
        What do I do?

        With you eternally mine
        In love there is
        No measure of time
        We planned it all at the start
        That you and I
        Would live in each others hearts
        We may be oceans away
        You feel my love
        I hear what you say
        No truth is ever a lie
        I stumble and fall
        But I give you it all

        Repeat Chorus:

        I am a woman in love
        And I’m talking to you
        Do you know how you feel
        What a woman can do
        Its a right
        That I defend over and over again…

      • Nguyễn Tuấn Anh
        25/02/2012 lúc 21:01

        Chị Cam Li ơi, cho em tò mò hỏi một câu nghen:
        Chị có phòng thu âm, kỷ thuật hoà âm phối khí riêng và nhóm hát bè riêng hở chị?
        Bởi hôm trước trong tháng 11/2011 chị có trình bày bản nhạc: ” Galveston” và đã “cùng hát” với Glen Campbell.
        Nếu không có gì bí mật, chị giới thiệu vài nét cho tụi em biết chút chút đi chị Cam Li!

      • Võ Trung Tín
        25/02/2012 lúc 21:09

        Chị Cam Li ơi, còn bản ” My heart wil go on ” chị đã “thực hiện” rồi chứ?
        Cho tụi em nghe luôn đi chị, nãy giờ giải lao, tụi em ngồi nghe chị hát không đó…

      • Nguyễn Tuấn Anh
        26/02/2012 lúc 20:55

        Chị Năm: Em nói chị Năm hình như ở..” nước LÈO “..chớ bộ!!!! hihihihihihihi…

        Dạ, còn tết LÀO, thì em cũng có biết sơ sơ, vì em có xem một phóng sự “té nước” vào dịp tết của nước Lào, hình như diễn ra vào tháng 4 hàng năm thì phải?

    • Trần thị Bảo Vân
      26/02/2012 lúc 10:17

      Dạ, Út kính cám ơn chị Cam Li nhiều ạ.
      Sáng hôm nay chủ nhật Út rảnh rảnh một tí, Út vào thăm chị và đang mở nghe chị Cam Li hát đây…

    • Trần thị Bảo Vân
      26/02/2012 lúc 10:18

      Chị Cam Li ơi,
      Út cũng nhất trí với ý của bạn Tuấn Anh đề nghị chị Cam Li giải thích chút chút…
      Và xin phép chị cho phép em nêu một đề nghị nữa nghen:

      – Chị hát một hoặc hai nhạc phẩm nào đó, do chính chị vừa hát vừa đàn Guitar đi, Được không chị?

  12. Công Thành
    25/02/2012 lúc 11:23

    Mời cả nhà đọc đoạn cảm tưởng này của một du khách viếng thăm mộ Bs A. Yersin…

    “…Một nơi cần sự trang nghiêm lại đào giếng, để phô trương thành tích chăng? Tôi có cảm nghĩ từ bộ y tế, uỷ ban nhân dân tỉnh, đến hội phụ nữ như ĐEO THEO BÁC SĨ ĂN CÓ ”

    Đọc, mà thấy chua chát cho cái bản chất làm văn hoá…đến vô văn hoá!

    Vô google đọc toàn bài : ” Mộ bác sĩ Yersin – VienDongDaiLy – Homepage “

  13. Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
    26/02/2012 lúc 10:24

    Cam Li xin thân mến chào quý anh chị em trang nhà Phay Văn.

    Trước hết, thương quý cám ơn cô chủ Phay Văn đã có một entry rất cảm động về Bác sĩ Alexandre Yersin, thần tượng của Cam Li. Cám ơn quý anh chị em đã góp những bài sưu tầm giá trị về Ông. Và bên cạnh đó, cám ơn những tâm hồn trẻ trung yêu nhạc (yêu nhạc thì luôn luôn được trẻ các em út ạ!). Út Bảo Vân chắc không “chê” giọng hát của chị khi so sánh với ca sĩ “nhà nghề” há!

    Tuấn Anh thân, chị không có phòng thu âm với kỹ thuật tối tân gì cả. Chị giản dị như “Ông Năm Yersin” vậy đó! Hi hi, chị thu bằng một microphone loại thường, một cái mixer loại rẻ, và thu thẳng vào computer. Muốn hát bè với ông Glen Campbell chẳng hạn, chị mix với bài hát ông hát, cũng thu từ internet (YouTube). Bản nào có sẵn nhạc nền karaoke thì chị “mượn”, bản nào không có nhạc nền thì chị đi thu nhờ với máy hát karaoke, hoặc chị đệm đàn lấy. Chẳng có gì “bí mật” phải không em?

    Còn yêu cầu của Trung Tín thì chị sẽ thực hiện, nhưng “thư thả” chút nha em!

    Mến chúc cả nhà Phay Văn luôn dồi dào sức khoẻ. Khi nào có thời gian Cam Li lại vào hàn huyên.

    • Trần thị Bảo Vân
      26/02/2012 lúc 10:30

      Chị Cam Li kính: Mãi gõ còm Út không thấy chị Cam Li xuất hiện!!!!!
      Út Vân kính chào chị Cam Li vào nhà chị Năm chơi ạ!

    • Nguyễn Tuấn Anh
      26/02/2012 lúc 20:52

      Chị Cam Li kính: Dạ, Tuấn Anh em kính chào chị vào chơi, và cám ơn chị đã dành thời gian trả lời những câu hỏi tò mò của em, em đã thoả trí tò mò rồi ạ.
      Em kính chúc chị luôn vui và khoẻ mạnh.

    • Võ Trung Tín
      26/02/2012 lúc 20:57

      Chị Cam Li kính: Dạ, em và Tuấn Anh cũng như cả nhóm “kiến” cám ơn chị, và đang háo hức chờ chị hát bản nhạc “My heart will go on”..
      Cũng như các bạn, em cũng kính chúc chị và gia đình luôn vui, mạnh khoẻ, và hạnh phúc.

  14. 26/02/2012 lúc 13:07

    Chúa Nhựt bình yên nhé, nàng Phay!

  15. 27/02/2012 lúc 09:41

    Qua bài viết này mới biết gần Nha Trang còn lưu giữ được nhiều kỷ niêm về bác sĩ Yersin. Tiếc là không biết sớm hơn, Phay Van ạ.
    Nhìn cái cách người ta đối xử với bác sĩ Yersin mà đau buồn cho kiếp nạn của quê ta …

  16. Phạm Sơn
    27/02/2012 lúc 19:58

    Ghé vào đọc bài, chẳng biết còm gì thêm, vì bài và nội dung còm của mọi người đã nói đầy đủ tất cả rồi.

  17. Lưu Quốc Bình
    02/08/2012 lúc 12:42

    Năm 1983 Bố mình (cố hs Lưu Công Nhân ) là một người rất yêu quý ông Năm,lên mộ ông vẽ bức tranh mộ ông A.Yersin tặng cho Viện Pasteur Nha Trang,đến nay không biết có còn không…

    • 03/08/2012 lúc 12:20

      Cảm ơn bác Lưu Quốc Bình đã cho biết thông tin. Khi nào có dịp đến Nhà bảo tàng A.Yersin tại Viện Pasteur Nha Trang, em sẽ hỏi thăm bức tranh này, bác nhé.

  18. Tai
    04/11/2013 lúc 19:57

    Kính chào tất cả Anh Chị ,

    Tôi năm 2014 sẻ về thăm quê hương sau 40 năm , muốn hỏi có ai biết Lầu Ông Hoàng ( thật ) ở Phan Thiết , ở đâu xin chỉ giùm .

    Cám ơn

    Tài

  19. Tai
    05/11/2013 lúc 00:21

    Kính chào Anh Phay Van ,

    Cám ơn anh đả trả lời , Phan Thiết có nhiều người giỏi , nhửng tiếng hát vượt thời gian như Trần Thiện Thanh , Anh Khoa , Hửu Phước . Tôi biết nơi ở cùa Trần Thiện Thanh , Anh Khoa , nhưng không biết nơi ở nhà xưa của Ông Hửu Phước , ai biết xin chỉ giùm .

    Bà Mộng Cầm qua đời năm 2007 , theo tôi nghí có lẻ bà là người biết ró Lầu Ông Hoàng ở đâu . Bà đươc chôn tại nghỉa địa Phan Thiết , từ cái nghỉa địa nầy đứng nhìn ra hướng biển sẻ thấy di tích củ của Lầu Ông Hoàng .

    Cám ơn Anh

    Tài

  20. Võ Trung Tín
    05/11/2013 lúc 12:30

    Ngay cả dân địa phương, thậm chí là cán bộ trong ngành văn hóa, có người cũng chưa biết Lầu Ông Hoàng ở đâu, vì sao có Lầu Ông Hoàng, hiện nó còn hay đã mất…!?
    Rất nhiều tờ báo, kể cả báo của ngành văn hóa cũng nhầm lẫn Lầu Ông Hoàng với các lô cốt của người Pháp đặt ở gần đấy. Tệ hại hơn, nhiều hướng dẫn viên du lịch ở Saigon dẫn khách đến đây tham quan, cũng đã thuyết trình sai hoàn toàn về di tích này.
    Trên thực tế, Lầu Ông Hoàng nằm trong quần thể gồm tháp Chăm Pôsahinư và bia tích chiến tranh trên đồi Bà Nài. Nhưng nó gần như đã bị xóa sổ. “Nhiều người khi đến đây thấy những lô cốt hoang vắng này nhầm tưởng đó là Lầu Ông Hoàng!

    Hình ảnh…Lầu Ông Hoàng, bị…”Ngộ Nhận”!!!

    http://banchanviet.vn/place/lau-ong-hoang-phan-thiet-676.htm

  21. Võ Trung Tín
    05/11/2013 lúc 12:33

    Video Clip quay tại khu vực đồi Lầu Ông Hoàng (thành phố Phan Thiết) vào tháng 7-2013, nơi đây cảnh vật hoang tàn xác xơ… Tác giả quay video vào buổi sáng trời mưa phùn , đường đá dốc gồ ghề , nên máy bị rung ,thỉnh thoảng có vài đôi trai gái dắt nhau lên hẹn hò lãng mạn .. Xa xa dưới đồi là thành phố Phan thiết…

  22. Tai
    05/11/2013 lúc 14:19

    Cám ơn các Anh và Chị ,

    ông Nội và ông Ngoại của tôi đều chôn trong nghỉa địa Phan Thiết , năm 1962 là năm cuối cùng tôi về Phan Thiết thăm mả. Bây giờ vì tuổi già , trí kém không nhớ rỏ nên xin hỏi cái địa chỉ của cái nghỉa địa nầy .
    Tôi xin kể theo trí ức của tôi : ” đứng từ vườn hoa Phan Thiết mặt nhìn về một cái cầu bắt qua sông Cà Ty , bên kia cầu bên tay trái là trường nử , cứ đi thẳng mải , ngày xưa chỉ đi bộ hay đi xe ngựa , đi rất lâu thì bên mặt là một nghỉa địa rất lớn . Từ cái nghỉa địa nầy nhìn ra biển thì thấy mấy cái lô cốt và lầu Ông Hoàng ” .
    Tiệm nước mắm Hồng Hương còn hay đả mất rồi .

    Xin Cám Ơn Chị Phay Van , Anh Võ Trung Tín

    Tài

  23. Mai
    07/11/2013 lúc 06:26

    Anh Tài,
    Phay Van nhờ NM hỏi giúp anh những câu hỏi về Phan Thiết. Sau đây là câu trả lời của người bạn quê quán tại Phan Thiết, xin gửi đến anh để tham khảo:

    1. Theo tôi biết, người Bình Thuận không có nghệ sĩ nổi danh nào tên Hữu Phước. Nếu chị có ý hỏi nghệ sĩ cải lương Hữu Phước (cha của ca sĩ Hương Lan) thì ông không phải ở Phan Thiết.
    http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%AFu_Ph%C6%B0%E1%BB%9Bc_%28ngh%E1%BB%87_s%E1%BB%B9%29

    2. Về nghĩa trang Phan Thiết, nếu tính cách nay 15- 20 năm, thì nghĩa trang Phan Thiết nằm ở phía Nam Phan Thiết (gần sân bay trước 1975). Sau này, nghĩa trang Phan Thiết dời về khu vực phía Bắc Lầu Ông Hoàng, cách trung tâm Phan Thiết về hướng Đông chừng 7- 8 km. Nghĩa trang Nam Phan Thiết hiện nay không cho an táng nữa.

    3. Hiện nay, tên gọi Lầu Ông Hoàng để chỉ chung một khu vực rộng lớn bao gồm các ngọn đồi gần Tháp Chăm Phố Hài. Người ta cũng gọi nghĩa trang Phan Thiết hiện nay là nghĩa trang Lầu Ông Hoàng. Còn về ngôi biệt thự (hoặc lâu đài) của Ông Hoàng người Pháp nằm chỗ nào, chị có thể tham khảo trong bài viết “Một chút tình Phan Thiết”:
    http://newvietart.com/index3.2461.html

    Hy vọng đã trả lời được những thắc mắc về Phan Thiết của anh.

    NM

  24. Tai
    07/11/2013 lúc 11:51

    Xin cám ơn Chị NM và Chị Phay Van

    Tài

  25. Mai
    07/11/2013 lúc 19:10

    Không có chi, anh Tài và nàng Phay.
    Ước mong đó là thông tin hữu ích.
    NM

  26. 10/12/2016 lúc 12:02

    Tình cờ ghé thăm, gặp bài hay quá, đọc một mạch đến… gảy lưng luôn. Có một chi tiết nếu chủ nhà quan tâm bổ túc sẽ rất thú vị, Thập niên 90 1992, 1993 gì đó, Tổng Thống Pháp Francois Mitterrand có chuyến thăm VN, trước chuyến đi Ông TT ngõ ý muốn thăm mộ và di sản của BS Yersin, báo hại phía VN phải dáo dác tìm kiếm, tôn tạo, trùng tu, đánh bóng ngôi mộ của “thằng Tây thực dân” đến “liệt sĩ Năm” với nhiều công trạng tưởng tượng trước khi trả lại nguyên hình hài cho danh nhân. Loạt bài này được đăng trên TT, TTC và TN với nhiều tình tiết cực hài, nếu ai có điều kiện tìm được các bài báo thời ấy đưa lên đây cống hiến cho độc giả để nhớ đến một thời…

    • 12/12/2016 lúc 07:48

      Thưa bác Lê, các báo TT, TTC và TN hồi 1992, 1993 chưa có online, nên khó kiếm được bài vở thời đó, trừ khi có ai lưu trữ báo giấy. Tuy nhiên, xin mạn phép đăng cái còm của bác lên phần cuối entry này, hy vọng một ngày đẹp trời nào đó chúng ta sẽ có câu trả lời từ quý vị độc giả.

  27. 15/07/2017 lúc 21:13

    I must thank you for the efforts you’ve put in writing this blog.
    I’m hoping to see the same high-grade content from you later on as well.
    In truth, your creative writing abilities has motivated me
    to get my very own website now 😉

  1. 26/04/2014 lúc 21:37
  2. 31/08/2017 lúc 14:47

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: