Trang chủ > Tem > Tem Indochine

Tem Indochine

Tem Indochine lưu hành tại 3 nước Đông Dương (Việt Nam-Lào-Campuchia) từ năm 1889 đến năm 1945.

.

Phế tích Angkor Thom:

(ảnh PV)

.

Auguste Jean-Marie Pavie (1847- 1925) là công chức dân sự thuộc địa người Pháp, nhà thám hiểm và ngoại giao, người đóng vai trò trọng yếu trong việc thiết lập quyền kiểm soát của Pháp tại Lào trong hai thập niên cuối của thế kỷ 19. Sau một đời phục vụ lâu dài tại Campuchia và Nam kỳ, Pavie trở thành phó công sứ Pháp tại Luang Prabang năm 1885, và cuối cùng là Thống đốc và Đặc nhiệm Toàn quyền Pháp tại Lào.
Tem Auguste Pavie phát hành năm 1944.

.

Jean-Marie de Lanessan (1843-1919) là một nhà tự nhiên học, bác sĩ, chính trị người Pháp, toàn quyền Đông Dương từ tháng 6 năm 1891 đến tháng 12 năm 1894.
Tem De Lanessan phát hành năm 1944.

.

Paul Doumer sinh năm 1857. Khi trưởng thành, ông học nghề chạm khắc rồi tự học đỗ tú tài toàn phần, trờ thành một giáo sư dạy toán, rồi hoạt động chính trị.

Paul Doumer trở nên có tiếng, khi ông đã làm một bản thuyết trình về những dự luật của Pháp dành cho Trung kỳ và Bắc kỳ. Về thành tích này, ông đã được trở thành Toàn quyền Đông Dương vào năm 1896 khi chưa đầy 40 tuổi (cho tới năm 1902), rồi nghị sĩ, rồi Chủ Tịch Thượng Viện. Cuối cùng Doumer được bầu làm Tổng thống Cộng Hòa Pháp Quốc ngày 13 tháng Năm năm 1931. Một năm sau, Doumer bị một Nga kiều (Paul Gorgulov) bắn tử thương ngày 6 tháng Năm năm 1932. Nước Pháp treo cờ rũ, để quốc tang tiếc thương một nhà lãnh đạo và các con phụng sự tổ quốc cho đến giọt máu cuối cùng.

Nhận chức Toàn Quyền, Doumer đã thực hiện được nhiều đại công trình tại Ðông Dương, bao gồm hệ thống 1,625 km đường xe lửa, dựng cầu Doumer (cầu Long Biên Hà Nội) trên sông Hồng dài 1,680 m, tổ chức ngân sách Ðông Dương, lập Phái Ðoàn Khảo Cổ Ðông Dương (1898) năm sau đổi tên thành Trường Viễn Ðông Bác Cổ, nha khí tượng, nha địa chất, trường đại học Y Dược. Ông đã hợp tác với bác sĩ Yersin để mở một dưỡng đường dành cho bệnh nhân bị bệnh lao phổi tại Đà Lạt; đã nghiên cứu để làm cho cây caoutchouc hợp thuỷ thổ tại Việt Nam. Dưới quyền của Paul Doumer, Hà Nội là thành phố đầu tiên tại Á Châu được cài đặt hệ thống điện.

Bô tem Paul Doumer phát hành năm 1944.

.

Pierre Marie Antoine Pasquier (1877- 1934) là Toàn quyền Đông Dương từ năm 1928 đến 1934.
Pasquier tốt nghiệp Trường Thuộc địa năm 1898 rồi được bổ vào ngạch công chức ở Đông Dương. Năm 1921 ông thăng chức làm khâm sứ Trung Kỳ, đại diện chính quyền Bảo hộ ở Huế. Bảy năm sau ông lên nắm chức vụ cao nhất: Toàn quyền Đông Dương, thay thế Alexandre Varenne.
Trong thời kỳ làm khâm sứ, ông là người đề nghị chính sách tách dần vùng Tây Nguyên khỏi quyền kiểm soát của triều đình Huế và hạn chế việc người Việt di cư lên vùng núi lập nghiệp.
Khi lên làm Toàn quyền, Pasquier có tiếng là thủ cựu. Đầu năm 1929 ông bị mưu sát. Sau đó Pasquier càng tỏ ra cương quyết trong việc dập tắt phong trào kháng Pháp. Chính quyền phản ứng mạnh mẽ sau Vụ ám sát Bazin, rồi tiếp theo là cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Thái Học chỉ huy. Mười ba người thụ án tử hình bị chém đầu; hơn 7.000 người bị kết án và đem đày ra Côn Lôn.
Tem Pierre Pasquier phát hành năm 1944.

.

Henri Philippe Benoni Omer Joseph Pétain (1856 – 1951), thường được biết đến với tên Philippe Pétain, là thống chế quân đội Pháp đồng thời là thủ tướng trong chính phủ Vichy từ năm 1940 đến năm 1944. Ông là anh hùng dân tộc của Pháp trong Thế chiến thứ nhất nhưng đến cuối đời lại bị kết tội phản quốc vì đã hợp tác với Đức Quốc Xã trong Thế chiến thứ hai.


.

Sisavang Phoulivong (hay Sisavang Vong) (1885– 1959) là quốc vương của Vương quốc Luang Phrabang và sau đó là của Vương quốc Lào từ 28 tháng 4, 1904 cho đến khi qua đời vào ngày 20 tháng 10, 1959.
Tem Sisavang Vong phát hành năm 1943.

.

Sisowath Monivong (1875-1941) là vua của Campuchia từ năm 1927 cho đến khi băng hà năm 1941. Ông là ông ngoại của quốc vương Norodom Sihanouk.

.

Norodom Sihanouk (sinh năm 1922) là cựu quốc vương, và hiện nay là Thái thượng hoàng của Vương quốc Campuchia.
Tem Nodorom Sihanouk phát hành năm 1943.

*

Chú thích:
CHUOC: hoạ sĩ Bùi Trang Chước
Các thông tin lấy từ internet.

Advertisements
Chuyên mục:Tem Thẻ:
  1. 02/10/2012 lúc 09:11

    Tem cái tem này! 😉

    • Võ Trung Tín
      03/10/2012 lúc 22:06

      Chị Năm ơi…
      Bác levinhhuy đã xí phần lấy mất..tem!
      Dzậy thì..Ròm em bỏ..”cò”..cho entry.. “cò..Indochine”.. này đó nghen….
      hihihihihihi…

      • 04/10/2012 lúc 07:51

        Tín: Hihi.

    • Võ Trung Tín
      03/10/2012 lúc 22:09

      Bác levinhhuy ơi,
      Bác đang..” vinh dự mở màn bằng bài Hầu quyền, tỉnh trưởng xoa đầu, cho cái lì xì với 2 trái quít, hi hi!”…năm xưa đây.. phải không ạ?
      Hihihihihi…

    • Võ Trung Tín
      03/10/2012 lúc 22:11

      Hay là bài này..hở bác? hihihihihi…

    • Võ Trung Tín
      03/10/2012 lúc 22:13

      “Trước năm 1975, lân ở Biên Hòa đã nổi tiếng nhưng ít có tài liệu ghi chép cụ thể. Theo lời kể của một số người hiểu biết, đội lân Tân Bình Đường được gia truyền từ lâu đời, những năm 1976 Bầu É phát huy, nổi danh khắp vùng, các bài: Lân qua cầu, lân xuất động, lân uống nước, mai hoa thung… đạt trình độ xuất chúng, thường biểu diễn thành công ở Thủ Dầu Một, Biên Hòa. Đội lân của Tám Xiểng ở phường Hòa Bình được lập cũng từ lâu đời, từng biểu diễn ở Thái Lan, Campuchia và đạt nhiều giải thưởng lớn. Các đội lân có truyền thống như: Thạnh Sơn Đường (Bửu Long), Tái Khánh Đường (Hóa An), Việt Hoa Đường (Bình Trước)… được duy trì, phát triển, nổi danh trong vùng…”

      Bác levinhhuy ơi, hồi đó (trước 1975) bác là thành viên trong đội lân nào ở Biên Hoà..dzậy bác?

      MÚA LÂN :

  2. 02/10/2012 lúc 09:28

    Hồi VC vào chiếm Biên Hòa, mình theo chân các chú bộ đội vào dinh tỉnh trưởng, hôi được 2 của quý: bộ Chiến tranh & Hòa bình do Nguyễn Hiến Lê dịch và 2 album tem. Tết 1975, đoàn lân ông Cấu được tỉnh trưởng mời vào dinh biểu diễn. Mình được vinh dự mở màn bằng bài Hầu quyền, tỉnh trưởng xoa đầu, cho cái lì xì với 2 trái quít, hi hi! Không nhớ ông ấy họ tên gì nữa!
    Bộ sách và tem ấy mình giữ kỹ như báu vật, hy vọng một ngày nào đó gặp lại sẽ trang trọng 2 tay trao lại cho ông: “Bác ơi! Gia tài của bác, con chỉ giành lại được chừng này thôi!”. Nhưng rồi sau đó hơn mười năm, cuối 1985, mình buộc phải bán đi cả “hai đạo phù thần”, Chiến tranh và Hòa bình được 1 chỉ, 2 album tem được 3 chỉ, thuở đó nó là cả gia tài, giúp mình ra được tủ đồng hồ bên lề đường Nguyễn Hữu Cảnh. Bác tỉnh trưởng năm xưa ơi! Gia tài của bác, con phá hết rồi! Hu hu hu!

    • Phạm Sơn
      02/10/2012 lúc 13:03

      “Mình được vinh dự mở màn bằng bài Hầu quyền, tỉnh trưởng xoa đầu, cho cái lì xì với 2 trái quít, hi hi! Không nhớ ông ấy họ tên gì nữa!…
      …Bác tỉnh trưởng năm xưa ơi! Gia tài của bác, con phá hết rồi! Hu hu hu!”

      Tên của vị Tỉnh Trưởng Biên Hoà, đây bạn levinhhuy:

      – 196 . Lưu Yểm : Cựu Tỉnh Trưởng kiêm TKT Biên Hòa .

      http://www.generalhieu.com/colonels-u.htm

      • 02/10/2012 lúc 13:31

        Cảm ơn bác Phạm Sơn đã tìm giúp thông tin. Em cũng có tìm mà không ra 😦

        Kính gởi hai bác levinhhuy và Phạm Sơn xem mấy tấm hình của Dinh Tỉnh Trưởng Biên Hòa xưa (nay là Nhà Thiếu Nhi tỉnh Đồng Nai):

        .

        .

      • 03/10/2012 lúc 12:36

        Em cảm ơn bác Phạm Sơn nhiều, lâu nay em vẫn lên mạng gúc hoài mà không ra tên bác tỉnh trưởng Biên Hòa thuở ấy đấy ạ!

      • 03/10/2012 lúc 18:06

        Hình này Phay Van tìm đâu ra tài vậy? Từ hồi nó thành Nhà văn hóa gì đó, mình không bước vào đó nữa.
        Lấy tấm thứ hai mà xem nhé, hôm ấy là mùng 1 Tết 1974 (không phải 75), bàn hương án đặt ngay chỗ bậc tam cấp lên xuống ấy, đơn sơ mà trịnh trọng. Bác tỉnh trưởng cùng gia đình đứng ở bên trái, chỗ chị áo đen. Hôm đó, bác tỉnh trưởng mặc áo trắng, thắt cà vạt đen, bác thấp và đậm người, trắng trẻo, có nụ cười hiền. Tỉnh trưởng phu nhân rất đẹp, hình như là phụ nữ Bắc. Đứng cạnh họ là ba người con, lớn nhất là một em gái nhỏ hơn mình chừng 2, 3 tuổi… Và dĩ nhiên là hồi ấy không có tấm ảnh to đùng ở trên, hi hi!

      • 03/10/2012 lúc 20:36

        Hình em chụp năm ngoái (2011) đó bác Ly. Hình 1 trông ra Công trường Sông Phố, hình 2 trông ra bờ sông Đồng Nai. Em có nhiều hình BH lắm, hôm nào đưa lên khoe bác Ly há.
        Cái hình to đùng ở trên tòa nhà như một vết lọ nghẹ trên một khuôn mặt đẹp.

    • 02/10/2012 lúc 13:40

      Bác levinhhuy: Bác Phạm Sơn có tra giùm bác rồi đó, bác rán kiếm Đại tá Lưu Yểm để tạ tội đi nhé (em nói đùa).
      Nhưng như thế lại hay, vì ngày ấy bác không giữ “hai đạo phù thần” đó thì có khi nó ra tro rồi, vì sẽ bị kết án là “văn hóa đồi trụy”. Năm 1985 bác bán được như thế là đủ biết người mua đã trân trọng giá trị của “hai đạo phù thần” này.

    • Trần thị Bảo Vân
      03/10/2012 lúc 11:09

      – “…cuối 1985, mình buộc phải bán đi cả “hai đạo phù thần”, Chiến tranh và Hòa bình được 1 chỉ, 2 album tem được 3 chỉ, thuở đó nó là cả gia tài…”

      Bác levinhhuy ơi, đọc cái ý còm trên của bác, khiến BV hơi…tò mò đến ngạc nhiên!
      Thế, bác levinhhuy cho cháu mạn phép tò mò hỏi một ý nghe:
      – Lúc ấy (cuối 1985) bác bán “hai đạo phù thần” cho người nước ngoài hay người Việt Nam vậy?

      Cháu thiển nghĩ, chắc chắn là chỉ có người nước ngoài hoặc Việt kiều mới có khả năng tài chính vào lúc ấy (cuối 1985) mua lại “hai đạo phù thần” quý hiếm của bác, đúng không bác?( Đây là “sự kiện” bước ngoặt lớn của bác, ắt hẳn là bác phải nhớ (tên)…người mua?)

      Vì, theo cháu tìm hiểu, thì người dân sống ở trong nước lúc ấy, thời bao cấp, cuộc sống tài chính của tất cả mọi người rất chi là “eo hẹp”, chắc là khó có ai có đủ khả năng tài chính để mua lại “hai đạo phù thần” quý hiếm này, dù rằng, chắc là có nhiều ai đó rất ao ước muốn sở hữu?!
      Cháu có cái ý trên, là bởi đọc tìm hiểu và xem xét thấy có các lý do “lịch sử” sau:

      1/ Đổi tiền lần 1: ngày 22/ 9/1975
      – 500 đồng tiền VNCH Saigon cũ lấy 1 đồng mới Ngân hàng Việt Nam.
      – Mỗi gia đình (miền Nam) được đổi 100.000 đồng cũ (200 đồng mới) cho tiêu dùng hàng ngày.

      2/ Đổi tiền lần 2: ngày 2/5/1978.
      – Miền Bắc đổi 1 đồng tiền củ bằng 1 đồng tiền mới, miền Nam đổi 80 xu bằng 1 đồng tiền mới.
      – Tối đa cho mọi gia đình trong thành thị bất kể số người là 500 đồng.
      – Tối đa cho mọi gia đình vùng nông thôn bất kể số người là 300 đồng.

      3/ Đổi tiền lần 3: ngày 14/9/1985 (đã được gọi 1 cách mỹ miều là ” Cải cách giá-lương-tiền”)
      – Thu đổi tiền: 10đ tiền cũ=1đ tiền mới.
      – Mỗi gia đình chỉ được phép đổi 2.000 đồng, phần còn lại nộp vào trương mục ngân hàng, chờ xem xét, kết quả là mất trắng. Năm 1986, lạm phát đến 774,7%, kinh tế kiệt quệ.

      Bác levinhhuy ơi, bác vui vẻ “quá bộ”…hồi âm còm, cho BV thoả…tò mò…chứ ạ?
      Rất cám ơn bác trước ạ.

      • Nguyễn Tuấn Anh
        03/10/2012 lúc 15:23

        Tiền Việt Nam xưa và trước 1975

      • Nguyễn Tuấn Anh
        03/10/2012 lúc 15:28

        Chị Năm hồi xưa đó (trước 1975) có sở hữu và tận tay cầm những đồng tiền này “tiêu xài” chưa vậy?

        – “VRNs (30.08.2012) – Sài Gòn – Các đồng tiền ở Việt Nam càng ngày mất giá, chẳng cần các con số thống kê của các chuyên gia đưa ra để so sánh nữa, chỉ cần xem giá xăng, giá thực phẩm và giá hàng tiêu dùng cứ tăng là biết rồi.

        VRNs xin giới thiệu một bộ sưu tầm hình các đồng tiền Việt Nam được sử dụng trước 1975, đang được truyền nhau xem trên internet, để xem như một kỷ niệm. Và biết đâu từ kỷ niệm này, chúng ta có thể tìm một giải pháp gì tốt hơn cho Việt Nam trong lúc này.”

        http://nam64.multiply.com/journal/item/5341?&show_interstitial=1&u=%2Fjournal%2Fitem#

      • 03/10/2012 lúc 20:43

        Chị nhớ loáng thoáng thôi em, nhớ đồng tiền màu đỏ (?) có hình Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, màu xanh hình Đức Thánh Trần Hưng Đạo, đồng tiền mệnh giá lớn nhất mà chị Năm được thấy là 1.000đ màu xanh, có hình con voi.
        Chị Năm không có biết xài tiền, vì hồi đó còn nhỏ xíu mà em.

      • 03/10/2012 lúc 17:38

        Bảo Vân ạ, sách thì tôi bán cho một tay đầu nậu sách ở Sài Gòn, tem thì sang lại cho một tay cò người Triều Châu ở chợ Biên Hòa, anh ấy bán lại cho một tay nào đó ở Bình Dương, cũng phải hơn 5 chỉ!
        Chuyện đổi tiền có gây ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân miền Nam, nhưng vẫn có nhiều trường hợp ngoại lệ…
        À quên tự giới thiệu, tôi là dân Ba Tàu, Bảo Vân ạ. Đợt đổi tiền lần đầu, 1975, nhiều người Tàu ở Biên Hòa đã phải điêu đứng đến mức khốn nạn, có người đã phải tự tử. Nhưng đến hai đợt sau thì chúng tôi chẳng hề hấn gì mấy, vì đã có được thông tin từ trước đó cả tuần 🙂
        Còn nhớ, năm 1982, tôi ở quê ngoại Trà Vinh, phụ ba mẹ làm vườn làm rẫy, chỉ bữa trưa là được ăn cơm độn khoai, còn buổi chiều thì phải ăn khoai độn cháo, buổi sáng là thứ xa xỉ không cần thiết. Người chú út đang sửa đồng hồ ở BH mới gọi tôi lên lại. Mưu sinh bên lề đường vào thời buổi đó thật sự là huy hoàng! Còn nhớ, ngay cái ngày đổi tiền đợt 1985, hôm ấy chú cháu tôi sửa đồng hồ chỉ một buổi sáng đã được số tiền tương đương 3 chỉ.
        Đến cả họ tên bác tỉnh trưởng mà tôi còn không nhớ mà Bảo Vân quyết rằng tôi phải nhớ tên của họ thì e rằng đã khe khắt quá chăng?
        Gọi việc bán 2 đạo phù thần đó là sự kiện buồn thì đúng, chứ không phải bước ngoặt gì lớn lắm đâu. Bởi sau đó, tôi móc ngoặt với một tay sĩ quan trong phi trường BH, chỉ làm cò mồi trung gian dẫn mối cho hắn bán… xác máy bay cho Ba Tàu Chợ Lớn (máy bay còn mới, nhưng kẹt tiền nên hắn cho thanh lý luôn), hoa hồng của tôi là 4 cây vàng, đó mới là bước ngoặt làm đà cho tôi! Và tôi cũng không nhớ tên viên sĩ quan nọ, còn chú Ba Tàu trúng thầu chiếc máy bay thì cũng chỉ nhớ mỗi cái họ là Hứa, vậy thôi!
        Từ đó, tôi nghiệm ra rằng: muốn làm người lao động chân chính như các cha cách mạng vẽ vời thì sẽ nghèo đói, cùng đồ mạt kiếp, chỉ có mưu mẹo xoay xở luồn lách mới có thể sống cho ra hồn. Tôi hãnh diện về sự xoay xở trí trá của mình, bởi từ bấy đến nay, tôi chỉ toàn giở mưu mẹo để moi tiền của các tay cán bộ, dân thường thì lấy đâu ra tiền cho mình moi chứ, hà hà!
        Kết luận, thời điểm đó, chưa có Việt kiều nào được về nước đâu (vì lúc đó tôi vẫn còn đang ấp ủ mộng vượt biên kia mà); nhưng dân mình vẫn có lắm người giàu dư sức mua phù thần của tôi, nhất là các cán bộ miền Bắc thì ối tiền ấy chứ!
        Vài dòng trao đổi, chúc bạn vui, Bảo Vân nhé!

      • Trần thị Bảo Vân
        04/10/2012 lúc 12:43

        Bác levinhhuy kính,
        Nội dung cái còm hồi âm của bác, với văn phong còm cùng với những thông tin trong quá khứ mà bác chân tình trao đổi chia sẻ…; cháu đọc, cảm thấy thật là thú vị lắm…bác ạ!
        Bảo Vân cám ơn bác rất nhiều nhé, vì bác đã vui vẻ “quá bộ”, dành thời gian hồi âm còm, cái còm của bác đã làm cho BV cháu được thoả cái ý…tò mò…rồi ạ!

        Bác levinhhuy ơi, qua văn phong của nội dung diễn đạt trong còm, cháu đoán bác là người đeàn ông có đầy tự tin, bản lĩnh và trình độ…!
        Nhưng, thật tình trong suy nghĩ, cháu cảm thấy mình hơi…”vương vướng”…cùng…”trúc trắc”…một chút… ở cái ý mà bác…
        – “À quên tự giới thiệu, tôi là dân Ba Tàu, Bảo Vân ạ.”

        Sao bác lại…”tự giới thiệu, tôi là dân Ba Tàu”…?!
        Cháu… không đồng ý bác dùng cụm từ “Ba Tàu”, để nói về mình và những người Việt gốc Hoa sống ở miền Nam Việt Nam trước 1975 đấy ạ!?

        – Bác levinhhuy ơi,
        Bảo Vân cháu, đang chờ còm hồi đáp…đầy sức thuyết phục…của bác về cái ý của cụm từ “Ba Tàu” mà bác đã nói…đó nghen?

        Cháu kính chúc bác cùng gia đình của bác luôn an vui và hạnh phúc ạ…

        P/s: Cháu đang là sinh viên…bác ạ.

  3. Phạm Sơn
    02/10/2012 lúc 11:23

    Rất cám ơn chủ nhà, vì có dịp được xem những con tem quý!
    Cô Phay Van còn sỡ hữu nhiều con tem quý hiếm thật!

  4. 03/10/2012 lúc 00:21

    Chào PV,
    Một nhân chừng sống về cha chính Vinh đã ra đi
    Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện qua đời, thọ 73 tuổi
    Tuesday, October 02, 2012 8:53:34 AM

    QUẬN CAM, CA 2-10 (NV) – Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục, vừa qua đời lúc 7 giờ 17 phút sáng Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012, tại một bệnh viện ở thành phố Santa Ana, quận Cam, California, thọ 73 tuổi.

    Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (bên phải) gặp dịch giả Huỳnh Sanh Thông (bên trái) tại thành phố New Haven, Connecticut, hồi Tháng Tư 2005. (Hình: Quang Phu Van – Vietnam Literature Project)

    Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện vào bệnh viện vào sáng sớm ngày 26 Tháng Chín, 2012. Tại đây, bệnh viện điều trị chứng nhiễm trùng đường phổi nhưng ông vẫn thấy đau ở ngực. Một số xét nghiệm cả về tim mạch, chụp phim và lấy mẫu phổi (biopsy) truy tìm ung thư cũng đã được thực hiện.

    Tuy nhiên, cho đến sáng ngày Thứ Hai, 1 Tháng Mười 2012 thì bệnh trở nặng. Mười giờ sáng Thứ Hai, Linh Mục Cao Phương Kỷ đã làm các nghi thức cần thiết để ông trở thành một tín đồ Công Giáo theo ước nguyện trước sự chứng kiến của ông bà Bác Sĩ Trần Văn Cảo, Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Trang, bà Lâm Thiên Hương, nhà văn Trần Phong Vũ.

    Nhà văn Trần Phong Vũ, người kề cận, chăm sóc nhà thơ Nguyễn Chí Thiện trong những ngày ở bệnh viện, đã vuốt mắt cho nhà thơ sau khi ông qua đời.

    Người anh của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đáp máy bay từ Virginia tới Quận Cam sáng nay cũng không kịp gặp mặt em trước khi mất.

    * Người tù 27 năm

    Ông Nguyễn Chí Thiện sinh năm 1939 tại Hà Nội. Ông có một người anh là sĩ quan cao cấp VNCH đang ở sống ở tiểu bang Virginia, hai người chị ở Việt Nam.

    Ông bị tù cộng sản tổng cộng 27 năm qua nhiều nhà tù miền Bắc, đặc biệt là nhà tù nổi tiếng Cổng Trời. Lần ra khỏi tù sau cùng của ông là ngày 28 Tháng Mười 1991.

    Khi ông chạy vào Tòa Ðại Sứ Anh Quốc ở Hà Nội đưa tập thơ và xin tị nạn chính trị, viên chức tòa đại sứ chỉ nhận tập thơ để chuyển ra ngoại quốc và cho biết họ không giúp ông tỵ nạn chính trị được. Bước ra khỏi trụ sở Tòa Ðại Sứ Anh thì ông bị công an CSVN bắt giữ liền.

    Nhờ sự can thiệp đặc biệt của nhiều nhân vật quốc tế, ông đã được chế độ Hà Nội thả cho đi Mỹ định cư Tháng Giêng 1995.

    Ông đã đem kinh nghiệm về chế độ Cộng Sản, kinh nghiệm tù đày trình bày với các cộng đồng người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu và Úc Châu.

    Tập thơ Hoa Ðịa Ngục đã được dịch ra Anh, Pháp, Ðức và Hòa Lan ngữ.

    Sau khi đến Mỹ, năm 2001 ông cho xuất bản tập truyện Hỏa Lò. Tập truyện Hai Chuyện Tù được ông xuất bản năm 2008.

    Ông Nguyễn Chí Thiện từng gặp cha Chính Vinh, cha Nguyễn Văn Lý trong nhà tù CSVN.

    Nhân cách và cái chết của cha Chính Vinh tại nhà tù Cổng Trời (tỉnh Hà Giang) được nhiều người viết hồi ký kể lại trong đó có ông Kiều Duy Vĩnh. Ông Vĩnh là một trong rất ít người thoát chết trở về sau nhiều năm bị giam ở trại Cổng Trời, mới qua đời hồi Tháng Bảy vừa qua và cũng đã chịu các phép bí tích để trở thành tín đồ Công Giáo.

    Những kỷ niệm cũng như nhân cách của cha Chính Vinh, Linh Mục Lý đã gây ấn tượng sâu sắc thúc đẩy nhà thơ Nguyễn Chí Thiện chọn đức tin Công Giáo và lấy tên thánh là Thomas More.

    Tác giả Hoa Địa Ngục

    Vào năm 1980, người ta thấy xuất hiện ở hải ngoại một tập thơ không có tên tác giả, xuất bản bởi “Ủy Ban Tranh Ðấu cho Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam”. Tập thơ mang tựa đề “Tiếng Vọng Từ Ðáy Vực” mà tác giả là “Ngục sĩ” hay khuyết danh. Ít tuần lễ sau, tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong đưa ra một ấn bản cùng một nội dung nhưng với tựa đề “Bản Chúc Thư Của Một Người Việt Nam”.

    Tựa đề tập thơ Hoa Ðịa Ngục có từ khi Yale Center for International & Area Studies ấn hành bản Anh ngữ Flowers From Hell do ông Huỳnh Sanh Thông dịch. Sau người ta mới biết tác giả tập thơ là Nguyễn Chí Thiện.

    Những bài thơ của ông trong tập Hoa Ðịa Ngục gây xúc động sâu xa trong tâm thức người đọc về cái đói, sự đày đọa ác độc, sự gian ác của chế độ Cộng Sản đối với con người.

    Tập thơ thoát ra khỏi Việt Nam khi nhà thơ lén lút mang tới Tòa Ðại Sứ Anh tại Hà Nội và được Giáo Sư Patrick J. Honey thuộc đại học London sang Việt Nam Tháng Bảy năm 1979 và mang về. Kèm trong tập thơ 400 trang viết tay này là lá thư mở đầu với lời ngỏ:

    “Nhân danh hàng triệu nạn nhân vô tội của chế độ độc tài, đã ngã gục hay còn đang phải chịu đựng một cái chết dần mòn và đau đớn trong gông cùm cộng sản, tôi xin ông vui lòng cho phổ biến những bài thơ này trên mảnh đất tự do của quý quốc. Ðó là kết quả 20 năm làm việc của tôi, phần lớn được sáng tác trong những năm tôi bị giam cầm.” (TN)

    • Ngô Tấn
      03/10/2012 lúc 13:10

      Vâng, thắp một nén nhang tưởng nhớ và đưa tiễn Ông về cõi vĩnh hằng!
      Người chiến sĩ, người Ngục Sĩ, rất xứng đáng được sự trân trọng lẫn khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất của tất cả mọi người yêu chuộng Tự Do Dân Chủ.

      ĐẢNG ĐẦY TÔI

      Đảng đầy tôi trong rừng
      Mong tôi xác bón từng gốc sắn
      Tôi hóa thành người săn bắn
      Và trở ra đầy ngọc rắn, sừng tê
      Đảng dìm tôi xuống bể
      Mong tôi đáy nước chìm sâu
      Tôi hóa thành người thợ lặn
      Và nổi lên ngời sáng ngọc châu
      Đảng vùi tôi trong đất nâu
      Mong tôi hóa bùn đen dưới đó
      Tôi hóa thành người thợ mỏ
      Và đào lên quặng quý từng kho
      Không phải quặng kim cương hay quặng vàng chế đồ nữ trang xinh nhỏ.
      Mà quặng uranium chế bom nguyên tử.

      ( Nguyễn Chí Thiện – 1972)

      • 03/10/2012 lúc 20:55

        Bác Ngô Tấn: Em cho rằng giờ thì “Ngục sĩ” NCT đã được hưởng hạnh phúc. Giá mà ông có thể trở về trần gian, để bảo cho cái đám con cháu “mấy ông râu dài rảnh rỗi” biết rằng các cụ tổ của họ đang bị cái gì nhỉ, để họ sửa mình.

    • 03/10/2012 lúc 23:53

      Bà con cho hỏi: đức cha Chính Vinh được mọi người nhắc tới ở đây có phải là người tù đặc biệt trong một truyện ngắn nằm trong tập “Ba phút sự thật” của nhà văn Phùng Quán, viết về người bạn Tuân Nguyễn không?

      • 04/10/2012 lúc 02:22

        to @cua đồng,
        Cha chính Vinh chính là người tù đặc biệt trong một truyện ngắn nằm trong tập “Ba phút sự thật” của nhà văn Phùng Quán, viết về người bạn Tuân Nguyễn . Cha thuộc lòng những áng văn chương nổi tiếng của Pháp vì cha du học Pháp 17 năm
        Đây là thông tin chính thức về cha của HDGM Việt Nam

        Cha Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912 – 1971)
        Cha chính Hà Nội
        Tấm gương can trường

        Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
        Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.
        Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.
        Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbonne, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.
        Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbonne, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.
        Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
        Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh văn, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
        Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
        Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
        Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.
        Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
        Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.
        Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.
        Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.
        Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.
        Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội.
        Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
        Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
        Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.
        Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”.
        Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.
        Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
        Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
        Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”.
        Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
        Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

        TGP Hà Nội

      • 04/10/2012 lúc 16:48

        Cám ơn bác Doan Tran, cám ơn Phay Van nhiều.
        Khi đọc truyện ngắn nói về người tù đặc biệt, tôi đã có một ấn tượng rất mạnh. Và bây giờ, được biết người tù đặc biệt đó không phải là hư cấu mà là một người có thực, tôi vô cùng khâm phục ông. Khâm phục cha chính Vinh.

    • 05/10/2012 lúc 04:27

      Thánh lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của LM Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh
      Gioan Đình Sơn10/3/2012
      HÀ NỘI – Vào lúc 18h00, ngày 2 tháng 10 năm 2012, tại nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, Đức Tổng Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn đã chủ tế Thánh lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh (2/10/1912 -2/10/2012). Cùng đồng tế với ngài có Đức cha Giuse Đặng Đức Ngân- Giám mục Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng, Đức cha Phụ tá Lô-ren-sô Chu Văn Minh, Đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến, khoảng 40 linh mục thuộc Tổng Giáo phận Hà Nội, đông đảo quý nam nữ tu sỹ và bà con giáo dân.

      Xem hình ảnh

      Trước khi bước vào Thánh lễ, Đức Tổng Giám mục đã giới thiệu với cộng đoàn về cha Gioan Lasan: ” Ngài là một linh mục ưu tú, một chứng nhân đức tin của Tổng Giáo phận Hà Nội. Chúng ta dâng thánh lễ này để tưởng nhớ đến ngài, và noi gương ngài đã sống can trường trong đức tin với những nhân đức tốt đẹp của ngài”.

      Trong phần giảng lễ, Đức cha Phụ tá Lô-ren-sô Chu Văn Minh đã tóm tắt về cuộc đời cha Gioan Lasan, nêu lên những mốc thời gian quan trọng, những tài năng, những công việc ngài đã làm và những nhân đức anh hùng của ngài. Đức cha đặc biệt nhấn mạnh tới lòng can trường, cương nghị, tinh thần hăng say phục vụ và lòng bác ái mục tử của cha Gioan Lasan. Ngay cả những lúc khó khăn ở trong tù, ngài vẫn luôn quên mình để phục vụ mọi người và luôn kiên trung trong đức tin, không chịu khuất phục và không bị lôi kéo trước bất cứ cường quyền nào.

      Đức cha còn nhấn mạnh đặc biệt đến tài năng âm nhạc của cha Gioan Lasan. Ngài có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt về âm nhạc, lại được đào luyện chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm thánh ca tuyệt vời. Lược qua các tác phẩm âm nhạc của ngài, chúng ta sẽ hình dung được thân thế, sự nghiệp và tâm hồn của ngài. Ngoài ra, cha cố còn phổ nhạc bài thơ “Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan, bài “Sao Mai” và bài “Ca vịnh 8″…

      Cuối thánh lễ, Đức cha Phụ tá Lô-re-sô và ca đoàn nhà thờ Chính toà Hà Nội trình bày một tác phẩm âm nhạc do cha Gioan Lasan sáng tác.

      Kết thúc thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Phê-rô, quý Đức cha đã thắp hương trước di ảnh của cha Gioan Lasan để tưởng nhớ một chứng nhân đức tin anh dũng, một linh mục can trường của Tổng Giáo phận Hà Nội. Ngài sẽ mãi là tấm gương để hậu thế kính tôn và tri ân.

      TÓM LƯỢC TIỂU SỬ
      Linh mục Gioan Baotixita Lasan NGUYỄN VĂN VINH

      – Sinh nhật: 02/10/1912
      – Quê quán: Ngọc Lũ, Bình Lục, Hà Nam (Nội) + Vạn Đồn, Thái Thụy, Thái Bình (Ngoại).
      – 1925 – 1929: Học trường Puginier – tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Nội.
      – 1930 – 1946: Học tại trường Đức Bà (Bretagne – Paris, Issy – Les – Moulineaux; Đại Chủng viện Sulpice).
      – 20/06/1940: Thụ phong linh mục, theo học Văn chương và Âm nhạc tại Paris. Cử nhân Văn chương – Triết học tại Đại học Sorbonne. Tốt nghiệp khoa Sáng tác – Hòa âm – Violon và Piano tại Nhạc viện quốc gia Pháp năm 1944.
      – 1947 – 1954: Về nước – chính xứ giáo xứ Chính Tòa Hà Nội – Giáo sư các môn Thánh Kinh, Âm nhạc, Triết học, Pháp, Anh ngữ tại Tiểu Chủng viện Piô XII, Trung học Chu Văn An, Đại học Hà Nội.
      – 1954 – 1971: Tự nguyện ở lại Hà Nội – Tổng Đại Diện Giáo phận Hà Nội.
      – Sau sự kiện “Vụ Noel 1958” bị kết án 18 tháng tù, lần lượt ở các trại giam Hỏa Lò, Yên Bái và qua đời tại trại Cổng Trời (Hà Tuyên) ngày 18/02/1971.

      Gioan Đình Sơn

  5. Trần thị Bảo Vân
    03/10/2012 lúc 11:02

    Hù..uuuuu..ù…!
    Chào chị Năm, bận lu bu quá, Út chỉ ghé vào thăm nhà một chút thôi nghe…
    Ở đâu mà chị Năm có nhiều tem hay vậy? Trước đây Chị sưu tầm bằng cách mua hay bằng cách gì vậy? Kể nghe đi chị Năm…
    À, chị Năm ơi, thế, trước 1975, hình của TT Ngô Đình Diệm và TT Nguyễn Văn Thiệu…có được in trong những bộ tem nào không?
    Nếu chị Năm có, post lên cho mọi người cùng xem đi…

    • Nguyễn Tuấn Anh
      03/10/2012 lúc 15:16

      Hay đấy chị Năm!
      Post nhiều nhiều để…xem cho đã!

    • 03/10/2012 lúc 18:43

      Có lẽ là :… chôm !

      • 03/10/2012 lúc 20:30

        Dạ em chưa hiểu, bác Trà?

      • Võ Trung Tín
        03/10/2012 lúc 22:17

        trà hâm lại :Có lẽ là :… chôm !

        – Có lẽ là:..”Trái..chôm chôm”.., phải hông bác Trà?
        hihihihihi…

      • 04/10/2012 lúc 11:48

        Bảo Vân nó hỏi thế này :” ……. Ở đâu mà chị Năm có nhiều tem hay vậy? Trước đây Chị sưu tầm bằng cách mua hay bằng cách gì vậy? Kể nghe đi chị Năm… ”
        Lão hâm đoán là bằng cách … chôm ! Đơn giản phải không nào ?

      • Trần thị Bảo Vân
        04/10/2012 lúc 13:06

        trà hâm lại :Có lẽ là :… chôm !

        Bác Trà này…thiệt…là…!!!!
        Cứ…nghĩ oan…cho chị Năm con là…”đạo chích”…không bằng!!!!
        À…mà có…”chôm”.. không đó…chị Năm?
        hihi…

    • Trần thị Bảo Vân
      04/10/2012 lúc 13:01

      “Cảm ơn góp ý của Bảo Vân. Để chị Năm làm một entry riêng về danh nhân VN (trên tem) đi há.
      Bận rộn quá hở em?”

      Chị Năm: Dạ, làm nhanh nhanh nghe…chị Năm!
      – Dạ, bận tít tắp rối bù đầu óc luôn đó chị Năm ơi (nhưng cũng gần xong rồi), bù lại cũng rất thích, vui và phấn khởi, vì cả nhóm kiến được “làm việc” theo chuyên môn mình học, cả nhóm đoàn kết, rất hoà đồng, nhịp nhàng và đều tay…nên dẫn đến “thành công nho nhỏ cho dự án” vượt dự kiến, làm cả nhóm vui lắm…chị Năm ơi!
      hihi…

    • Trần thị Bảo Vân
      05/10/2012 lúc 12:23

      Nhà “tài trợ” chưa tổng kết vì còn chờ các nhóm khác nộp kết quả chị Năm à, chắc có lẽ tháng 12 mới có kết quả!
      Nhưng nhóm kiến tụi em cũng “hy vọng” rất nhiều, vì “chủ dự án” đánh giá cao kết quả làm việc của nhóm kiến…đó chị Năm.
      Phần thưởng là học bổng cho cả nhóm cũng…”khá nặng túi”! hihi…

  6. Nguyễn Tuấn Anh
    03/10/2012 lúc 15:14

    Nguyễn Chí Thiện xứng đáng được “in lên” TEM, chứ chị Năm? hihihihihi…

    – Nguyễn Chí Thiện trong “Đêm giữa ban ngày”.

    Vũ Thư Hiên: Người bạn tù thân thiết của tôi, anh Nguyễn Chí Thiện đã trút hơi thở cuối cùng lúc 7 g 17 phút sáng ngày 2 tháng 10 – 2012, ở xa quê hương mà từng phút từng giây anh hướng về. Chúng tôi có với nhau nhiều kỷ niệm, của đời tù cũng như của cuộc sống ngoài đất nước. Anh là nhà thơ bất khuất của “phe nước mắt” (chữ của nhà thơ Dương Tường). Khóc bạn, tôi chia sẻ vài dòng hồi ức về anh để các bạn hiểu thêm về con người đáng kính, và hơn nữa, đáng yêu này…

    https://secure.loder.in/nph-viet.s/20/http/www.danchimviet.info/archives/66422

  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: