Trang chủ > Văn > Áo Dài Việt Nam

Áo Dài Việt Nam

Trong bài Tủ sách Tuổi Hoa hồi sinh có một số comments đề cập đến chiếc áo dài Việt Nam, em xin phép được đăng lại ở đây.

Đầu tiên là một comment của chị Nha Trang:

Hoài niệm đẹp về một thời nữ sinh áo trắng đáng yêu trong trắng , lồng trong bối cảnh chuyện đời các nhân vật …và nhất là phần kết của câu chuyện …, Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh , với cái tựa truyện ” Thấp thoáng áo về ” mang nội dung chứa thật đầy cảm xúc luyến nhớ , quyện đầy những xúc cảm bâng khuâng luyến lưu man mác đến cảm động…đã khiến cho người đọc… phải thả hồn….dọc trôi miên man theo dòng liên tưởng đến những câu thơ tuyệt mỹ của Nguyên Sa Trần Bích Lan :
” Có phải em về trên áo bay
Hai phần gió thổi một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thả cho làn áo trắng bay….”
( Tương Tư của Nguyên Sa Trần Bích Lan )
Hay êm đềm dịu dàng trang nhã :
” Giòng suối tóc dài buông thả
Ôm đôi vai nhỏ bé gầy
Những buổi chiều về êm ả
Tan trường áo lụa tung bay … ”
( Xuân Hương của Hương Ngọc Trần Thị Nguyệt Mai )

(…)
” Mặc áo dài mà đứng yên chưa chắc đã ăn đứt nổi những cô gái Âu Á khác mặc trang phục dân tộc của họ…Nhưng mặc áo dài mà đi , mà múa …, thì người con gái Việt Nam linh động hẳn lên…
Áo Dài Việt Nam , nó vừa theo sát những nét tuyệt mỹ của thân người , lại vừa trao cho tấm thân ấy sự linh động phơi phới mà nó không có . Những tà áo nhẹ ve vẫy phất phơ trong gió , làm cho một thân hình nặng nề nhất….cũng hóa ra thanh thoát….”
Vì vậy mà Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh nổi tiếng Nguyễn Cao Đàm , đã khẳng định trong câu trả lời qua những bức ảnh về chiếc áo dài Việt Nam , đoạt giải cao của ông :
” Áo Dài Việt Nam thắng lớn trong nước và ngoài nước , do đâu mà được vậy ?
– do nó cho thấy….GIÓ…! ”
( Trang 17 – Tùy bút : Đất Nước Quê Hương của Võ Phiến )

***

Rồi một quà tặng của chị Trần thị Nguyệt Mai:

Áo Dài Việt Nam Qua Các Thời Đại

Hương Kiều Loan

1.

Tiếng hát của Duy Trác tha thiết:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng
Anh vẫn yêu mầu aó ấy vô cùng….

Bản nhạc “Aó lụa Hà Đông” của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ từ thơ Nguyên Sa, thơ và nhạc đã khiến người nghe không khỏi bâng khuâng, quyến luyến một hình ảnh quyến rũ và duyên dáng của giai nhân trong chiếc aó lụa Hà Đông, một địa danh nổi tiếng về ngành dệt lụa. Chắc chắn chiếc aó mà Nguyên Sa mô tả đây phải là chiếc aó dài, chứ không thể là áo cánh hay aó bà ba đuợc. Vẫn biết y phục của phụ nữ Việt Nam có ba bốn loại aó. Aó bà ba mà người miền Nam thường mặc ở trong nhà hay đi chợ, giống như cái aó cánh của phụ nữ miền Bắc và miền Trung vậy. Thế nhưng, tất cả ba miền, khi người phụ nữ đi dự lễ, đình đám, tiệc tùng… thì hầu như các bà, các cô đều mặc aó dài cả.

Chiếc aó dài Việt Nam đã đuợc ca tụng qua bao nhiêu triều đại và quả đúng như vậy, vì chiếc áo dài khi đuợc mặc trên mình người thiếu nữ, đã duyên dáng xinh đẹp ra sao, nên mới đánh động đuợc các thi, hoạ,văn nhân tốn bao nhiều sơn, mực, phấn, giấy, vải, để lưu lại hình ảnh giai nhân với chiếc áo dài tha thướt đó. Các thi nhân thì ngẩn ngơ khi ngắm một tà aó bay bay trong chiều thu sang:

Áo nàng vàng, anh về yêu hoa cúc,
Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương,
Anh thay mực cho vừa mầu aó tím.

( Nguyên Sa)

Vâng, mầu aó nàng đã khiến những anh sinh viên ngơ ngẩn mỗi chìều bên cổng trường ngóng đợi một tà aó thân quen… .
Những tà aó trắng như những cánh buớm của nữõ các sinh đang tuổi xuân thì đã khiến bao con tim các nam sinh rung động.

Sân trường bầy gái trẻ
Đùa nắng má hây hây
Gió vô tình thổi nhẹ
Tà áo trắng tung bay…

( Trần Văn Lương)

Và còn nhiều nữa, như:

Sàigòn bây giờ trời mưa hay nắng?
Tà aó em bay theo giọt nắng vàng.
Con đường ta đi giòng sông kỷ niệm,
Nỗi nhớ trong em nỗi nhớ dịu dàng.

( Trần Ngọc)

Ngoài cửa lớp
Là áo người trắng cả giấc ngủ mê
Là bài thơ còn hoài trong cặp
Giữa giờ chơi mang đến lại mang về.

( Đỗ Trung Quân)

Em về mặc cánh hoa rơi
Áo em tím suốt một trời bằng lăng.

( Bình Nguyên Trang)

Áo dài thường may bằng những hàng lụa mỏng, mầu sắc nhẹ nhàng. Chiều dài của aó cách gấu quần khoảng 30 phân, có khi ít hơn. Áo dài có cổ, giống như cổ aó tàu, cổ áo cao chừng hai, ba centimet. Thân trên của aó dài may sát với thân hình người phụ nữ, kín từ cổ đến cánh tay, nhưng vẫn phô trương đuợc nhưng nét mỹ miều của thân thể, và vẫn là kín đáo đoan trang. Từ vòng eo trở xuống thân aó gồm hai vạt aó, vạt trước và vạt sau. Bên trong, người phụ nữ mặc quần dài, may thuôn theo hai ống chân, những cô gái có đôi chân dài, mặc quần bằng tơ, hay lụa óng, khi buớc đi, dáng uyển chuyển, và hai tà aó đuợc tự do bay bay theo gió thổi, đã khiến một ký giả người Mỹ, bạn của anh tôi, lần đầu đến Việt nam vào thập niên 60 khi nhìn các nữ sinh trung học lúc tan truờng, đã phải kêu lên là đẹp quá và đã ví những tà aó trắng đó không khác gì một đàn bướm bay lượn trên con đuờng Cường Để ngập lá vàng.

2.
Chiếc áo dài đã đuợc biến dạng ra sao từ những năm xa xưa?
Khoảng thời điểm của năm 1910 tới 1950, chiếc aó dài đuợc may hơi rộng rộng, không bó sát thân hình, vì người phụ nữ phải mặc chiếc aó cánh ngắn tay bên trong, thông thường là aó “phin” hàng cotton, mỏng, sợi tơ vải rất thanh, và nhẹ, gọi là aó “phin nõn”. Chiếc aó ngắn đó có túi nhỏ bên hai vạt aó. Hàng aó dài thường là luạ, vải, còn gấm và tơ dành cho những người giàu có. Người nghèo thì may aó dài bằng vải.

Về mầu sắc của aó dài, thì vào thời điểm đó, phụ nữ còn nhiều nhút nhát e dè. Không dám làm cách mạng trong vấn đề y phục, nên họ thường mặc những mầu nhạt, nhẹ nhàng, mà không dám mặc những mầu sặc sỡ, trông chói lọi vì sợ cho là không đứng đắn. Cái nền nếp, sự bảo thủ của lớp người cổ xưa đã khiến người phụ nữ thuở đó phải ngại ngần trong sự chọn mầu sắc của áo. Chỉ những ả đầu hay đào hát mới dám dùng mầu sặc sỡ cho y phục. Còn các tiểu thư, các bà mệnh phụ đa số là mặc những mầu hồng nhạt, mầu lòng tôm, mầu mỡ gà. Những mầu rực rỡ chỉ đuợc họ mặc trong dịp lễ lớn như đám cuới, đám rước hội. Hầu như người ta không thấy người phụ nữ bình thường ở lớp tuổi 30 lại mặc mầu đỏ khi đi phố.

Mầu trắng, đen, xám, và nâu là dành cho những phụ nữ tuổi ngoài 40. Vào thập niên đó khó mà kiếm đuợc một cô gái đương thì, tuổi xuân mộng lại chọn mầu xám buồn để mặc. Mầu trắng, quần trắng là thuờng dành cho học sinh trung học, Ngoài ra, mầu trắng, mầu đen, cũng thường dùng cho những truờng hợp tang chế.
Cổ áo dài thường may giống như cổ aó Tầu. Phụ nữ ở vào tuổi trung niên thì cổ aó may hở một khúc nhỏ phía truớc khoảng bằng nửa gang tay để phô trương những dây hột vàng 24k đuợc đánh như dây chuyền, gồm các hột vàng nhỏ bằng 1/3 hột đậu xanh, kết lại thành một chuỗi dài và quấn nhiều vòng quanh cổ, nhưng họ chỉ khoe phần nữ trang đó ỡ chỗ cổ phiá truớc. Phần còn lại đuợc đeo dấu bên trong aó. Họ không đeo nguyên xâu chuỗi ra ngoài cổ aó.

3.
Khuy aó cũng đóng một vai trò quan trọng và biến dạng dần theo mốt của áo. Khuy áo cũng đuợc đổi thay theo mốt của áo. Khuy aó thường đuợc làm bằng những hạt thuỷ tinh trong, tròn như hòn bi và to hơn hạt ngô, đủ mầu theo aó. Nhưng thường là mầu hổ phách, hay mầu xanh ngọc, như mầu qủa nho, hoặc hạt khuy đuợc tráng thủy giống như những viên ngọc trai mầu phấn hồng, mầu ngà.
Khuy aó đuợc đính vào aó bằng chân khuy. Chân khuy aó đuợc tết bằng hàng vải cùng mầu, hay chính vải của aó, đuợc may lộn nhỏ như thân cây tăm to, đó là những chiếc chân khuy đẹp. Người thợ may xếp hai chân khuy như hai chiếc tăm nhỏ nằm song song nhau. Khéo và may giỏi là sao hai chân khuy aó may lộn cho thật muớt, đều và nhỏ, mũi kim đính khuy vào thân aó phải đều như tắp, chiếc khuy đuợc lồng vào chân khuy, bộ khuy đuợc chia làm hai phần, phần một là phần có hạt khuy aó, phần kia là phần hạt khuy aó đuợc lồng vào, chân của khuy aó đều giống nhau từ dạng đến kích thước. Ngoài ra khuy cũng được làm bằng vải tết lại. khuy thường là bằng vải cùng màu với vải may áo, nếu là áo hoa, thì sẽ phải chọn một màu nào nhiều nhất của áo để làm khuy.

4.

Thế rồi có một cuộc cách mạng lớn về y phục cuả thập niên 30, do nhà vẽ kiểu mẫu y phục thời trang : Cát Tường, đuợc mệnh danh là Le Mur, Người sáng chế những đổi mới cho áo dài, đã làm một cuộc cách mạng lớn về y phục phụ nữ ngày đó. Ông Cát Tường đã cải biến những chiếc aó dài, gây sôi nổi trong xã hội thời bấy giờ và bị giới bảo thủ chống đối kịch liệt, cho là kiểu áo mới làm hư phụ nữ. Dĩ nhiên những kiểu aó dài do ông sáng chế ra đã đuợc một số phụ nữ theo mới yêu thích. Những chiếc aó đó có cái đẹp riêng của chúng. Chiếc aó Le Mur cải biến là tay aó không ráp theo lối thường truớc đó, tức là tay aó ráp ở khoảng giữa cánh tay, từ vai xuống khuỷu. Lối cải biến của nhà may Cát Tường thì tay aó đuợc ráp từ vai như aó sơ mi hay áo ngắn. Vai aó hơi bồng, Hò aó đuợc thay đổi, cổ aó đuợc cắt rộng xuống, không còn cổ như kiểu áo Tàu nữa, mà cổ aó là hình trái tim, hay cổ tròn, rồi kết ren quanh cổ, tuỳ theo mầu áo và mầu sắc.

Ngực aó thêu hay gắn ren. Khuy aó cũng đuợc thay đổi, người ta dùng những loại khuy tròn và dẹt, hình những bông hoa v…v… như khuy dùng cho các loại aó ngắn.
Những kiểu aó Le Mur này đã bị những người bảo thủ cho là lố lăng, dị hợm, và lên tiếng công kích dữ dội trên baó chí, mặc dù các kiểu aó đuợc những phụ nữ cấp tiến hưởng ứng nhiều. Vào giai đoạn 1930, xã hội VN cũng có những thành phần chạy theo Tây, học đòi theo ngoạị bang những cái rởm, hành động lố lăng, trơ trẽn của một lớp người trưởng giả học làm sang, đã khiến nhà văn Vũ Trọng Phụng cho ra đời cuốn truyện “Số Đỏ” để chấm biếm những thói hư tật xấu của một tầng lớp nào đó trong xã hội đương thời.

Nhưng rồi phong trào cấp tiến của aó dài đó cũng không tồn tại, người ta lại trở về với lối áo cổ xưa, nghiã là chiếc aó dài đơn thuần giản dị hợp với cá tính của phụ nữ Việt Nam hơn. Áo vẫn may hơi rộng rộng.

Mãi cho đến thời điểm 1960, người ta mói bắt đầu mặc aó dài may bó sát lấy thân hình để phô trương nét kiều diễm của thân thể, tà aó may vừa phải, không quá lớn, cũng không quá nhỏ. Sau đó mốt aó lại được cải biến dần dần, cứ vài năm lại thay đổi một tý, khi thì cổ aó đuợc may thấp, khoảng 1 centimet rưỡi,đến 3 centimet là tối đa, chiều dài của aó cũng đuợc may ngắn hơn, khi thì mode lại đổi, là chiều dài của vạt aó dài chỉ cách gấu quần khoảng một gang tay, và cổ aó lại đuợc may cao hơn, từ 5 tới 7 centimet. Mốt áo may ngắn đi thì dễ cho phụ nữ sửa lại, chỉ việc cắt vạt aó cho ngắn bớt, là có áo mặc hợp với thời trang, nhưng khi mốt aó đổi thành dài hơn, thì người phụ nữ bắt buộc phải tốn tiền may aó mới. Chiếc aó dài lại kén chủ nhân mặc nó, bới vì mập quá, hay ốm quá, đều đuợc “nó phản bội” rõ ràng, không giúp chủ nhân che những khuyết điểm của thân hình, như khi người phụ nữ mặc y phục của Tây Phương: dress hay blouse, hay longdress, và nhất là kiểu aó đại lễ của Đại Hàn thì còn che đuợc bụng bầu đến vài ba tháng . 😀
Ngoài ra quần mặc với aó dài cũng đuợc thay đổi theo mốt luôn. Mầu quần căn bản là quần lụa trắng, hoặc đen, nhưng thường người ta mặc quần trắng, chỉ mặc quần đen vào những kỳ có kinh nguyệt. Quần thuờng may bằng hàng lụa mềm, may dài đến gót chân, ống quần rộng khoảng một gang tay rưỡi, lưng quần đuợc lồng dây thun. Vào năm 1954, người miền Nam có sáng kiến rất hay,là họ mặc quần nút bấm, thì quần đuợc may sát vòng bụng, may vừa đúng eo, và để thân hình có chui lọt đuợc, bên hông phía trước của quần đuợc xẻ xuống chừng một gang tay, và có nút bấm, loại quần này khi mặc với aó dài sẽ đẹp hơn, vì vải không cộm lên ở bụng như lưng quần bằng thun, nên nhìn rất muợt mà.

6.

Thập niên 60, có rất nhiều đổi thay quan trọng về chiếc aó dài Việt Nam. Đó là tay aó raglan. Người ta sáng chế ra aó tay raglan, tức là tay aó nối từ cổ xuống nách, xéo theo hò áo. Loại tay aó này sẽ không nhìn thấy khúc nối ở lưng cánh tay nữa, Chiếc áo dài coi đẹp hơn. Và cũng từ kiểu aó raglan này, lại sáng chế thêm sự văn minh khác nữa, tức là người mặc có thể cho may hai tay aó bằng hàng ren một mầu trong các hoa của áo, hoặc tiệp mầu với mầu vải aó, có khi là hàng voan, coi cũng rất đẹp. Và khuy aó cũng đuợc thay đổi luôn, họ dùng khuy bấm cho aó dài. Áo dài ở thời điển này may ôm sát vào thân hình, eo aó đuợc thắt chặt, có người còn dùng dây quanh aó phiá trong ở vòng hai để eo đuợc nhỏ hơn. Vạt aó may dài lê thê, chỉ hở tý gấu quần. Giữa thập niên 60, mốt aó mới thay đổi là aó dài midi, coi xinh xắn hơn, vì vạt aó không dài nữa, chỉ dài quá đầu gối một gang tay.

7.

Một biến đổi lớn vào nữa đầu thập niên 60 là áo dài cổ hở do bà Ngô Đình Nhu sáng chế. Aó dài không có cổ, mà cắt hở chút vai, mốt này cũng bị nhiều người chống đối, nhưng khi nhìn quen mắt lại thấy đẹp, nhất là cho những ai có cổ cao và trắng, với bộ ngực đầy đặn. Sau này cổ aó lại cắt sâu xuống, hình vuông, hay hình tròn rộng để khoe một phần da thịt mịn màng hoặc khoe dây nữ trang đeo cổ.

Ngoài kiểu áo hở cổ lại có mốt là aó không cổ, tức là cổ aó cắt sát chân cổ, chỉ có đuờng viền nhỏ quanh cổ mà thôi.

Mốt cổ aó bà Ngô Đình Nhu này không đuợc mặc ở trường Trưng Vuơng. Thuở đó tôi còn nhớ, lúc năm đệ tứ, hay tam, mấy chị đệ nhị hay đệ nhất, aó mặc chít eo chật quá, để khoe vòng số hai nhỏ xíu, là bị các bà giám thị gọi lên văn phòng, “chỉnh” cho và bắt về nhà thay aó. Thập niên đó, cô đào Người Pháp Brigitte Bardot,đang là thần tượng cho nhiều học sinh , sinh viên lúc bấy giờ. BB có mái tóc dài buông lơi đến quá lưng rất là quyến rũ. Tóc cũng hơi đánh rối phiá trước. Nên nhiều nữ sinh bắt chước kiểu tóc của nàng. Tại Trưng Vương, nữ sinh nào tóc đánh rối cao quá, cũng bị các bà giám thị tóm vô văn phòng, bắt gỡ tóc chải lại. Ngoài ra cũng tuyệt đối cấm mặc aó dài mà chỉ mặc su chiêng ở trong. Các nữ sinh của trường đều phải mặc aó lá mỏng ngắn bên trong aó dài, ngoại trừ aó dài nào may bằng hàng teteron dầy, khiến các bà giám thị hay giám học không nhìn thấy su chiêng thì mới thoát.
Cũng ở thập niên này, aó dài đuợc chế biến thêm là kiểu aó ba tà. vạt aó phía truớc xẻ từ cổ xuống thành hai tà phiá truớc, và dùng khuy tàu đính từ cổ aó một hàng khuy dài đến tận eo bụng ở vạt trước. Tay aó raglan, hàng may aó thuờng đuợc lựa là hàng gấm, mốt aó này cũng không đuợc chuộng cho lắm,
Thập niên 60, lại phát minh ra aó vẽ, người mặc aó vẽ đầu tiên, phát minh ra kiểu aó vẽ là HKL, khi đó mới đệ ngũ, tự mình vẽ lấy aó. Ai đã đi chợ tết vào thập niên đó, chắc hẳn có người đã nhìn thấy và còn nhớ một cô bé với chiếc aó dài mầu hồng phấn, vạt aó vẽ hình một thiếu nữ phù tang, che dù, mặc kimono đi duới hàng cây anh đào, hoa anh đào rơi lả tả từ ngực xuống tận gấu áo. Tấm aó vẽ ngày đó đã lôi keó bao sự tò mò của mọi người đi chợ tết khi nhìn chiếc áo dàí đặc biệt như thếù. Nhưng với trí óc của tuổi học trò đệ ngũ, đã không biết là có những thứ sơn có thể vẽ trên vảiù, để mình có thể làm giàu bằng sự sáng tạo đó. Aó HKL vẽ bằng mầu nuớc, giặt một lần là hết. Đến hai ba năm sau Saigòn mới có aó vẽ do các nhà thuơng mại và hoạ sĩ hợp tác. Áo vẽ thịnh hành từ thuở đó, nhưng đâu có ai biết rằng, nguời đầu tiên nghĩ ra vẽ trên vải aó, và nguời đầu tiên mặc chiếc aó vẽ thuở đó là một cô bé mới 13 tuổi đầu, nay đang ngồi viết bài này và nhớ lại một thuở học trò xa xưa!

Cũng ở thập niên này, phụ nữ lăng xê mốt mặc áo dài với quần tây may ống thẳng, chán rồi đổi qua mốt quần xéo, may bằng những hàng mềm, và quần may đuợc xếp vải thật xéo để cắt cho ống thật rộng, rất tốn vải. Muốn diện đẹp và có tiền thì may quần bằng hàng mouseline mỏng, có lót, coi rất tha thướt và duyên dáng, hàng may quần cũng chỉ là mầu đen, hay mầu trắng.

8.
Sau 75, thì chiếc aó dài bị cách mạng cho là loại y phục hủ hoá, làm giảm thiểu mức sinh hoạt của phụ nữ, nên chiếc aó dài hầu như bị biến mất ở thành thị. Không hiểu có phải chiếc áo dài xinh xắn bị ruồng rẫy một cách oan uổng đáng thương bởi do thời điểm nghèo khó của đất nước lúc bấy giờ? Vì mỗi gia đình một năm chỉ đuợc chính phủ cho mua vài mét vải, thì lấy đâu ra may aó dài? Ngay may quần mặc thuờng còn không đủ chiều dài cho những ai có chiều cao tốt nữa, nên quần mặc cũng ngắn cũn cỡn.
Những chiếc aó dài của thời vàng son truớc 75 nay đuợc cắt lấy hai vạt aó để may aó ngắn. Và thảm thương hơn nữa cho nhiều chiếc aó dài xinh đẹp của một thời xa xưa đó, nay nằm tủi buồn bên lề phố, chủ nhân nó phải ngậm ngùi bán nó đi để đổi lấy chút cơm gạo cho gia đình sống qua bữa, hoặc gom góp, chắt bóp để có tiền thăm nuôi chồng trong trại cải tạo.
Thỉnh thoảng tôi nhận đuợc thư gia đình và bạn bè thân còn kẹt lại bên quê nhà, thư chuyển qua đường bên Pháp rồi mới đến Mỹ, ngụy trang mọi cách, từ hình thức đến nội dung để đến đuợc tay mình. Nhìn hình ảnh những người bạn học xinh đẹp ngày xưa của một thời hoa gấm, một thời óng ả duyên dáng trong những chiếc aó dài duyên dáng. Nay thì…tuy vẩn còn được dậy học, nhưng nét mặt không dấu nổi nét buồn rầu u ám đến thảm haị. Thân phận cô giáo nghèo nàn trong chiếc aó ngắn bạc mầu, và chiếc quần đen cũ kỹ ,dáng dấp đã thay đổi, nét vất vả hằn trên khuôn mặt, trông bạn không khác gì mấy người buôn bán hàng rong ngoài chợ truớc 75. Nhìn hình ảnh bạn mà xót xa lòng!

9.
Thế rồi qua thập niên 80, chiếc aó dài đuợc rón rén về lại với dân thành thị Saìgòn, nhưng ở thời điểm này chiếc aó dài mất đi nét tha thướt duyên dáng truyền thống. Không biết có phải vì điều kiện khó khăn nghèo nàn của đất nuớc đã ảnh hưởng đến chiều dài, ngắn, của vạt aó đuợc may không? Bởi vì ở giai đoạn này, có thể nói là giai đoạn xấu nhất về mốt của aó dài. Tà áo ngắn cũn cỡn, hầu như chỉ dài hơn đầu gối tý chút mà thôi, vạt áo lại may nhỏ, kích aó cũng quá cao, nhìn người mặc aó, thấy như áo bị hớt lên. Giai đọan này chiếc nón lá cũng bị thay đổi kích thước nữa, Chiếc nón lá thuờng là vật làm tăng thêm nét duyên dáng rất nhiều cho thiếu nữ khi họ mặc aó dài. Nhưng sau 75, vòng nón ,đường kính đã bị thu nhỏ đi nhiều, khiến chiếc nón mất đi nét đặc thù của nó. Nhìn cái nón khá giống một loại mũ, hay giống giống kiểu nón của người Trung Hoa, nghĩ thật đáng tiếc!

10.
Buớc vaò thập niên 90, mốt aó dài lại đuợc thay đổi lần nữa, Lần này thì khá hơn. Khi mà Việt Nam có bộ mặt sung túc hơn thời điểm của thập niên 80, vì do sự tài trợ của Việt kiều đổ đô la về giúp thân nhân, người dân thành thị ở Sàigòn đã có bộ mặt sáng sủa hơn, nên mốt aó dài cũng đuợc thay đổi luôn. Tà aó đuợc may dài hơn, cổ aó cao hơn, hàng may aó mầu sắc cũng đẹp hơn, Áo thêu, aó vẽ trở nên thịnh hành … và người ta còn sáng chế ra kiểu mặc quần màu, thuờng là cùng mầu với hàng aó, hoặc chọn một mầu trong aó dài hoa đó. Nhìn những áo này, vẻ đẹp xấu tuỳ theo quan niệm mỗi người. Riêng cá nhân tôi, thì tôi vẫn thấy aó dài mặc với quần đen hay trắng là đẹp nhất.

11.
Thập niên 2000 thì phải nói chiếc aó dài Việt Nam đã đuợc buớc vào giai đoạn toàn mỹ nhất từ xưa đến nay. Bây giờ người dân ở Sàigòn đã diện lắm rồi vì cuộc sống đã sung túc hơn xưa rất nhiều nhờ những ngoại tệ của các nuớc đầu tư vào nền thuơng mại ở Việt Nam, nên hàng hoá tràn đầy, do đấy tơ lụa gấm vóc còn nhiều hơn thời điểm trước 75 nữa.

Ngoài ra hiện nay tại Việt Nam có nhiều nghệ sĩ vẽ kiểu mẫu thời trang về y phục. Họ đã rất thành công vì thiết kế đuợc nhiều kiểu aó dài độc đáo vàø quá đẹp. Những người vẽ kiểu mẫu áo dài này đã biết mang sắc thái cổ xưa vào phần thiết kế áo dài, để vẫn giữ đuợc những nét đặc thù của một loại y phục có lẽ là đẹp nhất Á Châu. Họ đã dùng những loại tơ, luạ in hình hoa văn, và dùng những loại luạ mềm để làm tăng nét tha thuớt uyển chuyển của nguời phụ nữ Việt Nam. Sự pha trộn về mầu sắc lại rấùt hài hoà, và chú trọng sự cắt ráp hoa để tạo nên những đuờng nét độc đáo của aó. Áo dài của giai đoạn này đã đạt đến mức tuyệt đỉnh về cả mỹ thuật lẫn kỹ thuật .

Các nhà thiết kế về áo dài còn phối hợp đuợc cái đẹp của Tây phương mang vào y phục Việt Nam, như những chiếc aó hở một bên vai, khoe cánh tay trần trắng nõn nà, hoặc những chiếc aó hở cả phần ngực trên và vai, lộ hai cánh tay trần, người mặc được choàng ra ngoài chiếc khan san mỏng, dài để che bớt cánh tay, và vẫn quyến rũ. Hoặc aó không dùng tay raglan, mà là khoá keó phiá sau lưng để phần ngực aó đuợc mượt mà…v..v… Thêm vào giới phụ nữ trẻ ở quê nhà, hay ngay cả bên hải ngoại, họ đều có chiều cao hơn phụ nữ ngày xưa, do đấy khi các thiếu Việt Nam mặc chiếc aó dàì, với thân hình dong dỏng cao, chân dài , buớc đi uyển chuyển trong chiếc quần tơ óng muợt, thật không một y phục Á Châu nào có thể quyến rũ và gợi cảm hơn chiếc aó dài VN trong thời kỳ hưng thịnh này.

(nguồn: vietnhim.com)

  1. 02/09/2011 lúc 21:29

    Tem !
    Một entry công phu quá.
    Người ta phải công nhận áo dài VN sexy bậc nhất thế giới. Nó còn gợi cảm trên cả sườn xám.
    Ngày mình còn công tác ở Nha Trang, thấy các cháu tan trường , gặp trời mưa to, rồi thì tất cả đều lấy cặp che phía trước và đi thật nhanh ,…. lúc ấy ( còn trẻ ) mình tự hỏi tại sao không che đầu cho khỏi ướt mà lại khum cặp che trước người ?
    Bây giờ thấy cái đẹp của áo dài mới nghiệm ra là ……. tại sao.

  2. Nguyễn thị Nha Trang
    02/09/2011 lúc 22:30

    Trong ” Thấp thoáng áo về ” , Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh có đoạn :

    ” – Hương à , sau ngày ấy , em đã đi đâu ?
    – Thưa cô , em đi kinh tế mới , cùng với ba má và các anh chị em của em . Một nhà sáu miệng ăn , vất vả lắm thưa cô . Nhưng không thể ở lại thành phố , vì áp lực nặng nề quá ! Tụi em ra sức tập tành trồng trọt , chăn nuôi , Sức vóc học trò yếu ớt không cày cấy nỗi trên sỏi đá…….”

    Với đoạn trên Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh , đã khiến người đọc phải rơi lệ…!… phải rơi lệ vì sự xót xa …, xót xa đến tận cùng của cung bậc cảm xúc thương cảm , như một thi sĩ nào đó đã phải bật ra những câu thơ đầy đồng cảm về nỗi xót xa này :

    ” Tôi biết em tay chưa quen cầm cuốc
    Cô sinh viên của thành phố Sài Gòn
    Với sách vở học đường là thân thuộc
    Còn vụng về khi phát rãy làm nương….”

    Cũng như đoạn viết của Hương Kiều Loan trong entry này ” Áo dài Việt Nam qua các thời đại ” :

    “…..Những chiếc áo dài của thời vàng son trước 75 nay được cắt lấy hai vạt áo để may áo ngắn . Và thảm thương hơn nữa cho nhiều chiếc áo dài xinh đẹp của một thời xa xưa đó , nay nằm tủi buồn bên lề phố , chủ nhân nó phải ngậm ngùi bán nó đi để đổi lấy chút cơm gạo cho gia đình sống qua bữa……”

    Đọc đoạn này , những ai là phụ nữ Việt Nam – Thậm chí là các anh , các ông , các đấng nam nhi yêu cái đẹp chân chính …không xót xa xúc động thật sự ! Xót xa xúc động vì nó như chạm khẽ vào nỗi đau đến tận cùng cung bậc…xót xa hận tủi… một giai đoạn lịch sử u ám đến rùng mình , đã ghẻ lạnh ….với chiếc áo dài chứa đầy nét kiêu sa , đài các , quý phái , thanh tao , lịch lãm …của quý bà , cùng những nét thanh thoát , trang nhã , đoan trang , duyên dáng , dịu dàng …..của những cô nàng thiếu nữ …:

    ” Lồng lộng mây trời trong tiếng hát ngân vang
    Đẹp lắm , Áo Dài như mang hồn sông núi
    Áo Dài Việt Nam , nét đặc trưng thời đại
    Ta thật tự hào : Thương…Mãi…Áo…Dài…Ơi…….! “

    • Nguyễn thị Nha Trang
      03/09/2011 lúc 15:48

      @ Phay Van :

      “…một nền văn hóa hết sức thô thiển ”

      Văn hóa xhcnvn là….đỉnh cao trí tuệ loài người đấy em ơi….!

      À…Phay Van , lo tất bật mưu sinh , chị cũng không rõ các em nữ sinh được mặc lại áo dài vào năm nào…
      Thế em có nhớ không ? lên cấp 3 , khi ấy em đã được mặc áo dài chưa ?
      Hãy cố nhớ lại xem , nơi em học – trường Ngô Quyền , Biên Hòa – thì áo dài được cho phép nữ sinh mặc lại vào năm nào hở em ?

      • 03/09/2011 lúc 17:23

        HL nghĩ từ thô thiển vẫn là còn hay đó nàng Phay!

  3. Nguyễn thị Nha Trang
    02/09/2011 lúc 23:23

    Áo Dài , đã làm … ngẩn ngơ tâm hồn …biết bao tao nhân mặc khách đa tình vì nét đẹp mê hồn vốn dĩ của …chính nó !
    Nhưng để thưởng lãm trọn vẹn nét đẹp tuyệt vời của áo dài , thiết tưởng chúng ta đừng …quên chiếc nón lá …Chính nón lá , đã tôn và làm thăng hoa vẻ đẹp của áo dài trọn vẹn ; giống như ta thưởng thức một bữa tiệc ngon có dùng kèm một chút vang cho tâm hồn được…chung chiêng cùng cảm giác vậy…

    * ” Áo trắng hỡi ! thuở tìm em chẳng thấy
    Nắng mênh mang mấy nhịp Trường Tiền
    Nón rất Huế nhưng đời không phài thế
    Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng ….” ( ? )

    * ” Người xứ Huế yêu thơ và nhạc Huế
    Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay
    Nón bài thơ e lệ nép trong tay
    Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng….” ( Bích Lan )

    * ” Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ
    Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
    Gió cầu vương áo nàng Tôn Nữ
    Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ….” ( Đông Hồ )

    • Nguyễn thị Nha Trang
      03/09/2011 lúc 15:55

      Phay Van mến yêu ,

      Đúng đấy em , hình ảnh thế hệ nữ sinh của các chị thời ấy là : áo dài , nón lá , tóc xõa ngang lưng và đôi guốc …cũng có thể nói thêm , là có chiếc cặp da đen thanh lịch nữa em ơi ….
      Còn bây giờ thế hệ nữ sinh các cháu cũng áo dài , nhưng lại…nón bảo hiểm , túi vải đựng sách vở… đủ loại , và lại còn cái nạn …đeo khẩu trang nữa chứ !

      Với những hình ảnh nữ sinh ngày nay như thế , theo chị , ít nhiều phần nào cũng làm giảm đi thi hứng của các thi sĩ…về nét duyên của áo dài nữ sinh !

      Thôi thì ta cứ hoài niệm vậy ….

      ” Tháng sáu gọi mưa về đổ hạt
      Phượng hồng theo gió lả lơi bay
      Có cô con gái chừng đôi tám
      Lụa trắng học trò đôi mắt nai

      Guốc mộc cô về khua phố vắng
      Đôi tà bùn vấy vẫn tung tăng
      Gót son dừng lại bên lề cỏ
      Cô nhặt vài ba đóa phượng tàn

      Ép vào trang vở thơm mùi giấy
      Như cánh bướm hồng giữa trang thơ
      Cô bé kia ơi sao giống lắm
      Là em ngày đó tuổi vào mơ

      Ngày đó bây giờ xa cách quá
      Em còn đâu nữa tuổi thơ ngây
      Trăng tròn là tuổi trăng mười sáu
      HAI SÁU ….làm sao trăng sáng đây !

      ( Hai sáu tuổi – Hoa Quỳnh )

      • Mai
        03/09/2011 lúc 22:19

        Bài thơ này dễ thương quá, Nha Trang ơi!
        Nha Trang cũng gõ lại từ tập thơ của con bé út, có phải không?

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 23:01

        Đúng đó Mai ! Con bé út của mình nó mê sưu tầm ghi chép thơ lắm – nhưng chẳng sáng tác được Mai ơi –
        Nó sưu tầm ghi chép nhiều lắm , và theo từng chủ đề …khoảng gần 90 cuốn đó Mai !

      • Mai
        04/09/2011 lúc 09:35

        Nha Trang ơi,
        Con bé út của bạn đúng là người yêu thích thơ nhất (nước VN và thế giới không chừng) rồi đó. Nếu Trang nói nó có 9 tập sưu tầm thơ thì mình cũng đã ngả mũ chào. Đằng này cháu có gần 90 tập. Mình rất bái phục cháu, Trang ạ!
        Qua lời Trang kể, mình đoán cháu rất giỏi về văn chương, phải không?

      • Nguyễn thị Nha Trang
        04/09/2011 lúc 15:52

        @ Mai thân mến ,

        Vâng…Mai ơi , chính vợ chồng mình trong lòng cũng cảm thấy vui , vì con nó có sở thích rất thanh nhã này…
        À ..cho mình nói rõ hơn một chút : 90 ” cuốn sổ ” sưu tầm ghi chép thơ của cháu , chỉ là 90 ” cuốn vở ” học sinh loại 100 trang thôi Mai ơi …., tuy nhiên xem các cuốn sổ thơ sưu tầm ghi chép thơ này của cháu , thật lòng mình cũng thầm phục sự cẩn thận , nâng niu …sưu tầm thơ của cháu nó …qua từng trang một…

        Còn về việc ” giỏi văn chương ” mà Mai hình dung , thì Mai nghe nó nói đây :

        ” Con không thích học loại văn chương chỉ dạy 1 chiều và….nhồi sọ khuôn mẫu…..”

        Cho nên điểm số môn văn của cô nàng hồi học sinh , chỉ làng nhàng 5 , 6 …thôi Mai ơi…

        Nhưng thật lòng , vợ chồng mình rất vui khi con bé có suy nghĩ….” không trật ” !

      • Mai
        04/09/2011 lúc 23:38

        Nha Trang thân mến,
        Mai cũng rất vui khi nghe con gái của Trang phát biểu: ”Con không thích học loại văn chương chỉ dạy 1 chiều và….nhồi sọ khuôn mẫu….” Nha Trang có một cô con gái thật tuyệt vời!

    • 03/09/2011 lúc 17:25

      @ Chị Nha Trang và Phay Van: em nghĩ k gì thô thiển hơn là áo dài+mũ bảo hiểm.
      Năm em về Nha Trang đi biển, buổi chiều thì có một loạt các nữ nhân viên mặc áo dài+đội mũ bảo hiểm các thể loại đi về..chời ơi, em chán không buồn nói!
      Mọi người thử tưởng tượng ai đó mặc áo dài tha thướt+đội cái mũ phi công chiến đấu xem sao….

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 23:33

        @ Hà Linh em , hình ảnh em nêu lên , đúng là :

        Thương quá… áo dài ơi !
        Ngậm ngùi quá…áo dài ơi !
        Tội nghiệp quá…áo dài ơi !

        Phải không em…

    • Mai
      03/09/2011 lúc 22:39

      Nha Trang thân mến,
      Bốn câu thơ bạn trích dẫn ở trên thật hay nhưng không có tên tác giả, nên Mai đã “đi tìm” giúp bạn. Nó là của nhà thơ quá cố Thu Bồn (1935 – 2003).
      Sau đây là toàn bài thơ:

      TẠM BIỆT

      Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
      Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
      Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
      Mặt trời vàng và mắt em nâu

      Xin chào Huế một lần anh đến
      Để ngàn lần anh nhớ trong mơ
      Em rất thực nắng thì mờ ảo
      Xin đừng lầm em với cố đô

      Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
      Nắng mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền
      Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
      Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

      Nhịp cầu cong và con đường thẳng
      Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
      Con sông dùng dằng con sông không chảy
      Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

      Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt
      Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya
      Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
      Anh trở về hoá đá phía bên kia

      THU BỒN (1980)

      Bài thơ này được Thu Bồn viết sau chuyến đi Huế (đã được nhạc sĩ Nhạc Xuân An phổ nhạc) bằng giọng địa phương truyền cảm “rượu hồng đào chưa nhấm đã say”.

      Với chỉ chừng hai mươi câu và một trăm sáu mươi âm tiết, thi sĩ đã là một họa sĩ phác họa cả bức tranh thủy mặc về Huế vừa hữu tình chất chứa vừa hữu duyên mà mở đầu bài thơ thi sĩ đã có cái cớ “Bởi vì em dắt anh” mà cảnh và tình ở đây nhập vào làm một. Con người Thu Bồn là sự kết hợp của những gì tưởng chừng khó kết hợp, vừa hào sảng vừa nhiệt tình, vừa đa tình vừa thật tính, anh có cái chất của người rất Quảng Nam nên tình yêu cũng rất tinh tế, nhịp nhàng.

      Thơ kết hợp với hiện thực vì trong đó chất chứa tình cảm của một người luôn nghĩ tới tình yêu, đa tình đa sầu đa cảm như vậy nên Thu Bồn đã chỉ có thể “Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt”. Hình ảnh của người đi và người ở lại, người ra đi vì một lý do khách quan nào đó còn người ở lại trong hoài cảm “minh mang” chứ không là “mênh mông”, “tiễn biệt” chứ không là “ly biệt”, “tạm biệt”, “vĩnh biệt” – một vị từ thật đắt chỉ có Thu Bồn vì yêu quá mới có cái dùng từ vi diệu như thế. Chỉ “một lần đến” vậy mà “ngàn lần nhớ trong mơ”. So sánh như thế không gì là khập khiễng vì “Em rất thực nắng thì mờ ảo/Xin dừng lầm em với cố đô”.

      Cố đô Huế là vẻ đẹp của “lăng tẩm” trầm lặng và là của thiên nhiên ban tặng cho đất thần kinh nhưng với em là vẻ đẹp của “áo trắng” thướt tha cầu Tràng Tiền trong cái gió lộng tư bề. Cổ kính như Huế nhưng với em thì truyền thống trong cách tân hiện đại để có yêu, có nhớ có nên duyên vợ tình chồng thì âu đó cũng là quy luật tự nhiên vậy. Thế nhưng lòng thi sĩ đã ngà ngà say men hồng đào xứ Quảng mà lảo đảo chếnh choáng hơi men tình. Câu ca dao xưa nói rất thật ở trong tình cảm nhà thơ lúc này: “Học trò ở Quảng ra thi/Thấy cô gái Huế chân đi không đành!” thật đúng quá với Thu Bồn.

      Tôi là người con của xứ Huế, mặc dầu vì hoàn cảnh mà đã gần cái tuổi ba mươi nhưng chưa một lần được về quê cha đất mẹ để cảm cái tĩnh mịch của Huế mộng Huế mơ, nên khi đọc bài thơ này tôi thật sự xúc động không phải vì ngôn từ hoa mỹ mà vì lòng người Huế cứ ám ảnh tôi nhớ đến Ba Mạ với giọng Rất Huế nơi quê nhà. Con người Huế, cảnh Huế được con mắt rất tinh của thi sĩ Thu Bồn chộp lại thật đẹp trong huyền ảo bảng lãng hơi sương của “12 nhịp Tràng Tiền”, Sông Hương làm nên Huế bằng lòng sông của phá Tam Giang hợp lưu lại:

      “Con sông dùng dằng con sông không chảy
      Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”

      Từ láy “dùng dằng” của con sông là sự mềm yếu nhưng rất mạnh mẽ “giữ mình” của cô gái Huế để khi về thi sĩ chỉ dám “hôn thầm lặng” rồi “hóa đá”. Xưa nay chỉ có biểu tượng “Hòn vọng phu” chỉ thiếu phụ chờ chồng chinh chiến trở về mà ôm con hóa đá. Nay Thu Bồn vì yêu mà “hóa đá bên kia” – ở Ngũ Hành Sơn-quê hương thi nhân chỉ cách quê em-Huế một dãy đèo Hải Vân.

      Như nhà thơ Chế Lan Viên thừa nhận: “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương” với Thu Bồn quả chẳng ngoa chút nào.

      Theo Cao
      (Nguồn: NetCoDo)

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 23:18

        Cảm ơn Mai , thật tuyệt !
        Mình sẽ chép giúp con vào sổ sưu tầm ghi chép thơ của cháu .
        Mai quả là 1 Người Thơ , tìm tư liệu thơ thú vị và nhanh thật .

      • Mai
        04/09/2011 lúc 09:30

        Phay Van ơi:
        Chị chưa bao giờ đọc Thu Bồn nên không hề biết về ông này Nhân chị Nha Trang trích dẫn mấy câu thơ thật hay, nên chị “tò mò” muốn biết về bài thơ đó. Tìm trên Net thì thấy và post lên để chia sẻ với mọi người.

  4. Nguyễn thị Nha Trang
    02/09/2011 lúc 23:52

    @ Phay Van :

    Ba ngày nay , chị có 1 linh cảm – lại là…linh cảm .. hi hi .. – , để trong lòng thì cứ ấm ức mãi…vậy nói …nhỏ…. với em nha :

    Em vào link của Nguyệt Mai cho ở entry ” Tủ sách Tuổi Hoa hồi sinh “…ghé qua trang nhà của Trường Trung Học Tống Phước Hiệp – Vĩnh Long : xem cái ảnh ….Người Mặc Áo Dài Trắng… ở trang bìa truyện ” Thấp thoáng áo về ” của chị Cam Li .
    Hãy liên kết các dữ kiện , rồi đoán thử : Người Trong Ảnh Là Ai ?

    P/s : nói nhỏ…nhỏ …khéo ” Người Ấy ” nghe đấy em……..

    • Nguyễn thị Nha Trang
      03/09/2011 lúc 15:53

      @ Phay Van mến ,

      Thế theo em thì…là ai ?

      • 03/09/2011 lúc 17:02

        Theo suy đoán thì có đến 99% ảnh đó là của người hỏi em đó , Phay Van@ !

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 22:10

        @ trà hâm lại :

        Vui thật , bạn quả là dí dỏm …

        Cứ phong cách dí dỏm như thế để…..sống thọ bạn nha…

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 22:18

        @ Phay Van :

        Hay là ….Hà Linh ! hi..hi..

        Nguyệt Mai ơi….. ! .. lên tiếng đi chứ …..để Nha Trang có thể ” chảnh ” 1 chút vì cái ” linh tính ” xem nào ….

        Cầu Trời …cầu Phật…..phù hộ….

      • Mai
        03/09/2011 lúc 22:22

        Nha Trang và Phay Van:
        Tấm hình đó không phải là Mai đâu, các bạn ạ!
        Phay Van nói đúng đó. 🙂

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 23:09

        Thôi rồi ! lần này thì bị….tổ trác !

      • Nguyễn thị Nha Trang
        04/09/2011 lúc 15:49

        Trời ơi….bị tổ trác , rồi còn bị….hi..hi…nữa chứ !
        ” Chảnh ” sao nổi đây ta…!

  5. 03/09/2011 lúc 09:16

    Một số phụ nữ NB cũng thích mặc áo dài, HL cũng có bạn Mỹ thích mặc áo dài nhưng đoạn cúp ở ngực đó Phay Van, họ thường yêu cầu người may nới rộng ra chứ không thắt chătj như ở mình.

    • Nguyễn thị Nha Trang
      03/09/2011 lúc 15:37

      @ Hà Linh yêu mến ơi ,

      Thế hệ học sinh trung học của lứa tuổi em , lúc ấy còn học hệ 10 năm , hay đã chuyển sang học hệ 12 năm như ở miền Nam…? , và thời nữ sinh trung học , em nhớ mình lần đầu tiên mặc áo dài vào năm nào vậy Hà Linh ?
      Hãy cố nhớ chính xác nơi quê hương em học tập , thì áo dài được chính thức cho phép nữ sinh mặc vào năm nào ? Chị tò mò muốn biết lắm….

      Nhớ không em…?

      • 03/09/2011 lúc 17:15

        @ Chị Nha Trang kính mến,

        Em học theo hệ 12 năm chị à. Thời em học thì chưa có “phong trào” mặc áo dài, em mặc áo dài lần đầu tiên là khi học đại học chị à, nhân dịp sinh nhật của bạn em.Lần đầu tiên mặc áo dài trắng thêu hoa, thấy xao xuyến “kinh khủng” chị à!

      • 03/09/2011 lúc 17:22

        @ Chị Nha Trang: em nhớ cô giáo dạy tiếng Anh của em là học sinh trường nữ học gì đó ở Hà Nội trước 1954 kể chuyện, sau 1954 thì có ai đó nói là” một áo dài bằng 3 áo cánh” vậy cho nên những cô gái Hà Nội không dám mặc áo dài nữa để “tiết kiệm”!

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 22:40

        @ Hà Linh mến yêu ,

        Ừ…Chị cũng đã từng đọc 1 bài có cho biết chi tiết em nêu :

        ” Ngày 20/3-1947 Hồ chí Minh , với bút hiệu Tân Sinh , đã có 1 bài viết tựa đề ” Đời Sống Mới ” nội dung vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài , để thay bằng ” áo vắn ” ….Áo Dài tốn vải , khoảng 2 cái áo dài may được 3 cái ” áo vắn “……Áo Dài không hợp với phụ nữ VN Đời Sống Mới….” ( sic )

        Thế là Áo Dài ở miền Bắc ” lặn tăm “…sau lời….của bác vĩ đại….

      • Nguyễn thị Nha Trang
        04/09/2011 lúc 15:50

        @ Phay Van mến yêu ,

        ” Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng “…..luôn nha em :

        * Xưởng đẻ
        * Cửa hàng thịt tươi sống Phụ Nữ
        * Công ty chất đốt Thanh Niên

        Hi..hi..

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 22:25

        @ Hà Linh yêu mến ,

        ” Xao xuyến kinh khủng ” lắm hở em …có ” chung chiêng ” không…? hi..hi..

        Em mà ở miền Nam trước 1975 …Em sẽ thấy cái cảm giác xao xuyến , hân hoan …đến khó tả…khi bắt đầu bước vào lớp 6 đó Hà Linh em…

    • 03/09/2011 lúc 17:14

      Cho đến khi kết thúc cuộc nội chiến ( 1975 ) thì ở miền Bắc học sinh không hề biết cái áo dài là gì. Sau này, chắc phải là khoảng sau 1990 mới có đồng phục áo dài cho học sinh thì phải.
      Về việc mặc áo dài cho học sinh có lẽ cũng là một sai lầm về GD, chiếc áo dài đẹp, nhưng chỉ đẹp khi một thiếu nữ mặc mà thôi, vì áo dài nó yêu cầu khắt khe về 3 vòng và các số đo ,…. nhìn đồng phục áo dài của các em mà thấy thương cho chúng, trẻ em dưới 16 , khi chưa là thiếu nữ mà mặc áo dài thấy rất phản cảm.
      Hồi ngay sau 1975, khi vào miền Nam công tác , tôi lại chứng kiến những cô gái mặc áo dài nhưng lại mặc quần Tây ống loe, nhìn cũng thấy tồi tội,….
      Vậy nên không hẳn cứ có áo dài, cứ mặc áo dài là … đẹp !
      Và hình như , cho đến bây giờ , ngay bây giờ thì chiếc áo dài mới hoàn toàn là một trang phục truyền thống thì phải !

      • 03/09/2011 lúc 20:31

        Là … tội cái áo dài đó chớ. nhìn các em khốn khổ , xoay xở với cái áo dài trong khi HÌNH THỂ CHƯA DẬY THÌ ,… chổ dư, chỗ thiếu,…. trông ngại quÁ.
        Có những em mập bụ bẫm, có những em ” quá chung thủy ” ,….
        Tụi anh hay đùa vui là cô ca sĩ Hồng Nhung có răng khểnh rất đẹp, một cô nói là em cũng có răng khểnh nè, hỏi đâu ? Cô ấy cười lớn và quả là có răng khểnh thật, có 9 cái răng cửa đều khểnh cả !
        Không biết có nên khen đẹp không nữa ?????

      • Nguyễn thị Nha Trang
        03/09/2011 lúc 22:01

        @ trà hâm lại : Chào bạn !

        Rất vui khi được bạn trà hâm lại tham gia vui vẻ , trò chuyện thân mật , với chủ đề Áo Dài thuộc phái ” liễu yếu đào tơ ” này …, cả nhà ta cùng vui vẻ trò chuyện bạn nhé…

        Với Nha Trang , ý kiến của bạn :

        ” …về việc mặc áo dài cho học sinh có lẽ cũng là một sai lầm cho giáo dục….”………” …nhìn đồng phục áo dài của các em mà thấy thương cho chúng , trẻ em dưới 16 tuổi , khi chưa là thiếu nữ mà mặc áo dài thấy rất phản cảm…”

        Ý kiến bạn rất đúng ….nhưng …..chỉ sau 1975 thôi bạn ạ , vì thật tình nền giáo dục sau 1975 không có 1 chút gì gọi là giáo dục cho nữ sinh ý thức ” văn hóa mặc Áo Dài ” khiến các cháu xem áo dài như là những trang phục bình thường khác , vì vậy mà chúng ta mới chứng kiến nhiều hình ảnh phản cảm của các cháu trong trang phục áo dài nữ sinh …., đúng thật là đáng tiếc !

        Trước 1975 , những thế hệ nữ sinh chúng tôi bắt đầu bước vào cấp trung học – từ đệ Thất ( lớp 6 ) – đều luôn được gia đình , cụ thể là mẹ , chị , hoặc các cô , thím , dì , mợ…hướng dẫn và dạy bảo từng chi tiết , hành động nhỏ rất tinh tế …khi mặc trên người bộ áo dài nữ sinh bạn ạ .
        Còn ở trường , những cô giáo với tư cách , lời nói , dáng đi đứng , dáng ngồi ….nói chung tất cả những cử chỉ và hành động nghiêm nhã , thùy mỵ , đoan trang , dịu dàng , đầy tính chất mô phạm của tất cả các cô – có thể nói 100% -….là những hình ảnh giáo dục trực quan rất sinh động , và không một nữ sinh nào có thể lơ là và quên được….( trà hâm lại có thể đọc kỹ lại truyện ” Thấp thoáng áo về ” , Tác giả Cam Li có đề cập đến chi tiết này đấy…)

        Các thế hệ nữ sinh chúng tôi hồi ấy , có thể nói rất háo hức , hân hoan , lẫn tự hào…khi lần đầu tiên được chính thức mặc áo dài nữ sinh …, Nha Trang nêu 1 dẫn chứng nha :

        Nhạc sĩ Phạm Duy có nhạc phẩm ” Tuổi Ngọc ” , diễn tả về niềm hân hoan của cô bé khi bước chân vào Trung Học , lần đầu tiên khoác lên mình ” một chiếc áo như mây hồng ” :

        ” – Xin cho em một chiếc áo dài , cho em đi mùa xuân tới rồi .
        Mặc vào đời rồi ra mừng lạy chào mẹ cha
        Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ……”

        Luôn vui và khỏe bạn nhé ,

      • 04/09/2011 lúc 19:41

        Chị Nha Trang và bác Trà: em copy bài hát tặng chị và bác Trà đây:

      • Nguyễn thị Nha Trang
        04/09/2011 lúc 20:59

        @ Phay Van : Thật là tuyệt vời !

        Chị như ….ngẩn…. ngơ …ngơ…ngẩn….đắm chìm ….mộng du…. trong giai điệu của nhạc phẩm…cùng những hình ảnh nữ sinh áo trắng một thời …như thấy lại chính mình trong ấy vậy…

        Tuyệt lắm ! Cừ lắm ! Phay Van…..ơi….!
        Cho chị… ngắt vào má của em….. một cái nha….

      • Nguyễn thị Nha Trang
        05/09/2011 lúc 22:26

        @ Phay Van yêu mến ,

        “…. Còn Thầy , Thầy bảo anh em : đừng chống cự người ác ; trái lại , nếu bị ai tát má bên phải , thì hãy đưa cả má bên trái ra nữa…..”

        Chị ” ngắt ” chứ không phải ” tát ” à nha … !

    • 03/09/2011 lúc 17:17

      và hoj cũng không để đường xẻ tà cao hở nhiều như ở bên mình đầu nàng Phay, dường như là chạm lưng quần đó!

      • Mai
        03/09/2011 lúc 22:16

        Phay Van:
        Em sửa chữ masouer của em thành ma sœur cho đúng rồi delete entry này của chị nha! 🙂
        Đó là một error em ạ!

      • Mai
        04/09/2011 lúc 09:24

        Phay Van yêu mến:
        masoeur phải viết rời ra em ạ. Nó gồm 2 từ ma (tĩnh từ) và soeur (danh từ).
        Delete entries của chị đi em.

      • Nguyễn thị Nha Trang
        04/09/2011 lúc 20:18

        Nguyệt Mai ơi…, Nha Trang đồng thuận với ý của Phay Van , là không xóa các comments này của Mai , vì đây là một trong những dấu ấn đẹp , sẽ trở thành kỷ niệm …ngày Mai ” nhè nhẹ ” vào nhà Phay Van mà…..

  6. Nguyễn thị Nha Trang
    04/09/2011 lúc 21:41

    Trong chính tả tiếng Việt chúng ta , có 1 từ rất ấn tượng về độ dài và nhiều chữ cái nhất đó là từ : N G H I Ê N G !

    Nghiêng …Nghiêng …chứ chưa Ngã …và chưa Rơi ..! Một từ Nghiêng …tượng hình rất thơ…! Thế là thử lục lọi trong ký ức , xem thử có văn thi sĩ nào dùng từ NGHIÊNG này để diễn đạt cảm xúc của mình chưa…., và…thế là nhớ ra thi sĩ Trần Quang Long , với 1 bài thơ rất….nghiêng…nghiêng…đầy cảm xúc lãng mạn đến nao lòng người quân tử….!
    Nha Trang xin được sẻ chia cùng các bạn…..

    N G H I Ê N G N Ó N
    **********************************

    * Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón
    Chiều mùa thu mây che có nắng đâu
    Nắng sẽ làm phai mái tóc xanh màu
    Sẽ làm khô làn môi em dịu ướt
    Còn tia mắt anh….
    Có… sao đâu…mà em cúi đầu từ khước

    * Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
    Sao mười ngón tay em bỗng cuống quýt đan nhau
    Nửa vành má em bỗng thắm sắc hồng đào
    Đôi chân bước anh nghe chừng sai nhịp
    Gió níu tà áo em , bảo thầm ” đi không kịp ,
    Nhà không xa sao nàng bỗng nhanh chân ? ”
    Nếu nghiêng nón có nghĩa là từ khước
    Sao loanh quanh em chẳng chọn đường gần ?

    * Em nghiêng nón để rồi về hối tiếc
    Sao không đi êm như gió mùa thu
    Cho chàng làm thơ , cho chàng ngẩn ngơ
    Cho hoàng hôn buông trên sông thầm thì
    Sao không đi thản nhiên như mình không tình ý

    * Cho tim chàng se thắt , cho mắt chàng dâng cay
    Cho đêm nay men hờn giận dâng đầy
    Bên trang giấy chàng đề thơ tuyệt vọng
    Mà thật ra mình đã có gì đâu
    Sao thấy chàng làm má mình nóng bỏng

    * Em nghiêng nón khuất vào đầu lối rẽ
    Tà áo em lưu luyến vẫy anh theo
    Bước nhẹ nghe em kẻo động vỡ tơ chiều
    Kẻo hoàng hôn ngại ngùng dâng sắc tím
    Anh vẫn là thư sinh đêm đêm ngào nghẹn
    Nhưng em có còn là nàng tiên chưa một lần lưu luyến…?

    ( Trần Quang Long – 1960 – )

    • Mai
      04/09/2011 lúc 23:24

      Rất đồng ý với Nha Trang. Chữ “nghiêng” rất thơ, rất lãng mạn. Xin gởi đến các bạn bài thơ mà Mai rất yêu thích.

      Ngày xưa…Hoàng thị

      Em tan trường về
      Đường mưa nho nhỏ
      Chim non giấu mỏ
      Dưới cội hoa vàng

      Bước em thênh thang
      Áo tà nguyệt bạch
      Ôm nghiêng cặp sách
      Vai nhỏ tóc dài

      Anh đi theo hoài
      Giót giày thầm lặng
      Đường chiều úa nắng
      Mưa nhẹ bâng khuâng

      Em tan trường về
      Cuối đường ráng đỏ
      Anh tìm theo Ngọ
      Dáng lau lách buồn

      Tay nụ hoa thuôn
      Vương bờ tóc suối
      Tìm lời mở nói
      Lòng sao ngập ngừng

      Lòng sao rưng rưng
      Như trời mây ngợp
      Hôm sau vào lớp
      Nhìn em ngại ngần

      Em tan trường về
      Đường mưa nho nhỏ
      Trao vội chùm hoa
      Ép vào cuốn vở

      Thương ơi vạn thuở
      Biết nói chi nguôi
      Em mỉm môi cười
      Anh mang nỗi nhớ

      Hè sang phượng nở
      Rồi chẳng gặp nhau
      Ơi mối tình đầu
      Như đi trên cát

      Bước nhẹ mà sâu
      Mà cũng nhòa mau…
      Tưởng đã phai màu
      Đường chiều hoa cỏ

      Mười năm rồi Ngọ
      Tình cờ qua đây
      Cây xưa vẫn gầy
      Phơi nghiêng dáng đỏ

      Áo em ngày nọ
      Phai nhạt mấy màu
      Chân theo tìm nhau
      Còn là vang vọng

      Đời như biển động
      Xóa dấu ngày qua
      Tay ngắt chùm hoa
      Mà thương mà nhớ

      Phố ơi! Muôn thuở
      Giữ vết chân tình
      Tìm xưa quẩn quanh
      Ai mang bụi đỏ

      Dáng ai nho nhỏ
      Trong cõi xa vời.

      Tình ơi!… Tình ơi!…

      Phạm Thiên Thư
      (Nguồn: Tuổi Trẻ online)

      • 05/09/2011 lúc 07:31

        Chị Mai: em cũng rất thích thơ của Phạm Thiên Thư.

        Em copy tặng chị nhé:

        Ðưa Em Tìm Ðộng Vàng

        Phạm Thiên Thư

        1
        Mười con nhạn trắng về tha
        Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
        Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
        Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

        2
        Xe lên bụi quán hoa đường
        Qua sương trắng dậm phố phường úa thu
        Tiếng chim ướt sũng hai mùa
        Hạt rơi thêm lạnh hững hờ mây qua

        3
        Dế buồn dỗ giấc mù sa
        Âm nao lãng đãng tơ ngà sương bay
        Người về sao nở trên tay
        Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót mơ

        4
        Con khuyên nó hót trên bờ
        Em thay áo tím thờ ơ giang đầu
        Tưởng xưa có kẻ trên lầu
        Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa

        5
        Tóc dài cuối nội mây xa
        Vàng con bướm nhụy lẫn tà huy bay
        Dùng dằng tay lại cầm tay
        Trao nhau khăn lụa nhớ ngày sầu đưa

        6
        Từ chim thủa núi xa xưa
        Về đây rớt lại hạt mơ cuối rừng
        Từ em khép nép hài xanh
        Về qua dục nở hồn anh đóa sầu

        7
        Ừ thì mình ngại mưa mau
        Cũng đưa anh đến bên cầu nước xuôi
        Sông này chảy một dòng thôi
        Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông

        8
        Ngày xưa em chửa theo chồng
        Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi
        Mùa thu áo biếc da trời
        Sang đông em lại đổi dời áo hoa

        9
        Đường về hái nụ mù sa
        Đưa theo dài một nương cà tím thôi
        Thôi thì em chẳng yêu tôi
        Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

        10
        Sao em bước nhỏ ngập ngừng
        Bên cầu sương rụng mấy từng mai mơ
        Đêm về thắp nến làm thơ
        Tiếng chân còn vọng nửa tờ thơ tôi

        11
        Đôi uyên ương trắng bay rồi
        Tiếng nghe tha thiết bên trời chớm đông
        Nửa đêm đắp mảnh chăn hồng
        Lại nghe hoa lạnh ngoài đồng thiết tha

        12
        Con chim chết dưới cội hoa
        Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao
        Mai anh chết dưới cội đào
        Khóc anh xin nhỏ lệ vào thiên thu

        13
        Tường thành cũ phiến bia xưa
        Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
        Chiều xanh vòng ngọc trao tay
        Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

        14
        Đêm dài ươm ngát nhụy hoa
        Chim kêu cửa mộ trăng tà gõ bia
        Em ơi rũ tóc mây về
        Nhìn trăng nỡ để lời thề gió bay

        15
        Đợi nhau tàn cuộc hoa này
        Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
        Tìm trang lệ ố hàng thơ
        Chữ xưa quyên dục bây giờ chim di

        16
        Mây xưa cũng bỏ non về
        Em xưa cũng giã câu thề đó đây
        Nhớ đành biết mấy tầm tay
        Lông chim biển bắc hoa gầy bãi đông

        17
        Đợi ai trăng rõi hoa buồn
        Vắng em từ thủa theo buồm gió xuôi
        Chiều chiều mở cổng mây trôi
        Chênh vênh núi biếc mắt ngời sao hôm

        18
        Thế thôi phố bụi xe hồng
        Hồ ngăn ngắt đục đôi dòng nhạn bay
        Đưa nhau đấu rượu hoa này
        Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm

        19
        Xuống non nhớ suối hoa rừng
        Vào non nhớ kẻ lưng chừng phố mây
        Về thành nhớ cánh chim bay
        Xa thành thương vóc em gầy rạc hoa

        20
        Hạc xưa về khép cánh tà
        Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần
        Em về hong tóc mùa xuân
        Trăng trầm hương tỏa dưới chân một vành

        21
        Em nằm ngó cội thu xanh
        Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi
        Về em vàng phố mây trời
        Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân

        22
        Thì thôi tóc ấy phù vân
        Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương
        Thì thôi mù phố xe đường
        Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

        23
        Gầy em vóc cỏ mây dời
        Tay em mai nở chân trời tuyết pha
        Ngày dài ngựa soải cầm ca
        Trán cao ngần nửa trăng tà ngậm sương

        24
        Xe lăn bánh nhỏ bụi hường
        Lao xao vó rụng trên đường phố mây
        Mưa giăng ráng đỏ hao gầy
        Đôi con ngựa bạch ném dài tuyết sa

        25
        Chim nào hát giữa thôn hoa
        Tay nào hong giữa chiều tà tóc bay
        Lụa nào phơi nắng sông tây
        Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông

        26
        Con chim mùa nọ chưa chồng
        Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu
        Từ em giặt áo đông tơ
        Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm

        27
        Thuyền ai buông lái đêm rằm
        Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào
        Cửa sương nhẹ mở âm vào
        Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca

        28
        Lên non cuốc sỏi trồng hoa
        Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương
        Vớt con cá nhỏ lòng đòng
        Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ

        29
        Vào non soi nguyệt tầm rùa
        Đọc trên mai nhỏ xanh tờ lạc thư
        Thả rùa lại đứng ưu tư
        Muốn qua hang động sống như nguyệt rùa

        30
        Em nghiêng nón hạ cầu mưa
        Sông ngâm mây trắng nước chưa buồn về
        Hoa sầu cỏ cũng sầu chia
        Lơ thơ xanh tụ đầm đìa vàng pha

        31
        Đất nam có lão trồng hoa
        Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông
        Lại đem bầu ngọc ra trồng
        Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân

        32
        Người vui ngựa chợ xe thành
        Ta leo cầu trúc bên ghềnh thác rơi
        Theo chân chim gặp mây trời
        Lại qua khói động hỏi người tu non

        33
        Bông hoa trắng rụng bên đường
        Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng
        Con ong nhỏ mới ra giàng
        Cũng nghiêng đôi cánh nhụy vàng rụng rơi

        34
        Mùa xuân bỏ vào suối chơi
        Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa
        Múc bình nước mát về qua
        Ghé thôn mai nọ hỏi trà mạn xưa

        35
        Chim từ bỏ động hoa thưa
        Người từ tóc biếc đôi bờ hạ đông
        Lên non kiếm hạt tơ hồng
        Đập ra chợt thấy đôi dòng hạc bay

        36
        Người về đỉnh núi sương tây
        Ta riêng nằm lại đợi ngày mướp hoa
        Bến nam có phố giang hà
        Nghiêng nghiêng nậm ngọc dốc tà huy say

        37
        Tình cờ anh gặp nàng đây
        Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
        Qua sông có kẻ chợt buồn
        Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu

        38
        Mốt mai em nhớ bao giờ
        Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
        Chân chim nào đậu bên cồn
        Ngựa xuôi có kẻ lại buồn dấu chim

        39
        Đợi người cuộc mộng thâu đêm
        Sông Ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
        Anh nằm gối cỏ chờ hoa
        Áo em bạch hạc la đà thái hư

        40
        Em từ rửa mặt chân như
        Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
        Thâu hương hiện kính bồ đề
        Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi

        41
        Ta về rũ áo mây trôi
        Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan
        Rằng xưa có gã từ quan
        Lên non tìm động hoa vàng ngủ say

        42
        Ngựa xưa qua ải sương này
        Còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông
        Nước xuôi gờn gợn mây hồng
        Tiếng ca lạnh thấu hoàng hôn giục đò

        43
        Hoa đào tưởng bóng đào xưa
        Thuyền sang bến nọ dòng mờ khói vơi
        Hoa dương vàng nhạt sầu người
        Ta về uống nước sông khuây khỏa lòng

        44
        Đưa nhau đổ chén rượu hồng
        Mai sau em có theo chồng đất xa
        Qua đò gõ nhịp chèo ca
        Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say

        45
        Khăn trăng từ độ trao tay
        Nửa tan cát suối nửa mài nghiên sương
        Mốt mai lòng có nghe buồn
        Mảnh trăng hiện hóa thiên đường cõi chơi

        46
        Nhện cheo leo mắc tơ trời
        Dòng chim qua hỏi mộ người tà dương
        Đánh rơi hạt mận bên đường
        Xuân sau mọc giữa chân thường cội hoa

        47
        Nụ vàng hương rộ tháng ba
        Nửa đêm dậy ngó trăng tà tiêu tương
        Chẳng như cội liễu bờ dương
        Tóc xanh mướt giữa vô thường sắc không

        48
        Mai nào thơm ngát thu đông
        Lược em chải rụng đôi dòng tơ xanh
        Đôi chim hồng yến trên cành
        Ngẩn ngơ quên rỉa lông mình điểm trang

        49
        Mùa xuân mặc lá trên ngàn
        Mùa thu mặc chú bướm vàng tương tư
        Động nam hoa có thiền sư
        Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn

        50
        Nến khuya lửa hắt hiu vàng
        Trang kinh lác đác đôi hàng nhạn sa
        Ý nào hóa hiện ngàn hoa
        Chữ nào cẩn nguyệt trên tà áo ni

        51
        Dỗ non suối giọng thầm thì
        Độ tam thế mộng xá gì vóc hoa
        Ni cô hiện giữa ta bà
        Búp tay hồng ngọc nâng tà áo trăng

        52
        Tiếng chim trong cõi vô cùng
        Nở ra bát ngát trên rừng quế hương
        Tiếng em hát giữa giáo đường
        Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

        53
        Đố ai nhớ hết hoa vàng
        Đố ai uống cạn sương tàng trăng thâu
        Đố ai tát cạn mạch sầu
        Thì ta để tóc lên cầu đón ai

        54
        Em về sương đẫm hai vai
        Dấu chân là cánh lan dài nở đêm
        Từ em hé nụ cười huyền
        Mùa thu đi mất trên miền cỏ hoa

        55
        Guốc mòn lẫn tiếng sơn ca
        Sư về chống gậy trúc qua cầu này
        Ngó bờ suối lạnh hoa bay
        Thương sao giòng nước trôi hoài thiên thanh

        56
        Có con cá mại cờ xanh
        Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân
        Nửa dòng cá gặp phù vân
        Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi

        57
        Dù mai lều cỏ chân trời
        Khơi hương lò cũ khóc người trong thơ
        Em còn ửng má đào tơ
        Tóc xưa dù có bây giờ sương bay

        58
        Lên non ngắt đóa hoa này
        Soi nghiêng đáy suối bóng ai nhạt nhòa
        Nom hoài chẳng rõ là ta
        Tắm xong khoác áo hát ca về làng

        59
        Tay đeo vòng ngọc xênh xang
        Áo em bay giải tơ vàng thiết tha
        Bước chân tìm chán ta bà
        Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh

        60
        Hỏi con vạc đậu bờ kinh
        Cớ sao lận đận cái hình không hư
        Vạc rằng: thưa bác thiên thư
        Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ

        61
        Nước đi từ thủa bao giờ
        Dòng xuôi người đứng trên bờ ngó xuôi
        Chừng đâu dưới bến hoa tươi
        Buộc thuyền xưa đã có người ngó sông

        62
        Từ hôm em bỏ theo chồng
        Áo trắng em cất áo hồng em mang
        Chiều nay giở lại bàng hoàng
        Mười năm áo cũ hoe vàng lệ xanh

        63
        Đôi chim nho nhỏ trên cành
        Giục nhau đan tổ cỏ xanh bên đường
        Nửa đời mây nước du phương
        Thiền sư ngắt cỏ cúng dường phật thân

        64
        Gò chiều ùn bụi sương lên
        Hỏi ra mới biết nơi yên cành vàng
        Bên mồ chồn cáo đùn hang
        Chim kêu như lảnh tiếng nàng ngân nga

        65
        Cuối xuân ta lại tìm qua
        Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
        Sớm thu ta đánh đò sang
        Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

        66
        Trúc thưa cổng gió ơ hờ
        Em ra tựa cửa nghĩ chưa lấy chồng
        Sông ơi xanh nhé một dòng
        Mùa xuân cắp rổ ra đồng vớt hoa

        67
        Đường dài xao xác chim ca
        Người còn khoác nón theo tà dương nao
        Ván cờ bày trắng bông đào
        Sao lên núi thẫm trăng vào chén không

        68
        Đồi thu vắt suối mây hồng
        Chim xanh lác đác ngược dòng hoa tiên
        Bấc sầu lửa lụn chờ em
        Lệ xưa ai đã đổ nên dầu này

        69
        Đón em như ngóng chim trời
        Bãi xuân sớm đậu chiều dời khói thu
        Em còn áo trắng ngày xưa
        Trong anh muôn thủa bao giờ lệ hoen

        70
        Khơi trầm thơm tụng kinh hiền
        Máu xuân mạch lạnh trong miền xương da
        Vườn chùa có nụ hàm ca
        Sương khuya: pháp bảo trăng tà: vô môn

        71
        Mai tươi cánh nở bên cồn
        Mưa bay lấm tấm cành hương trắng ngời
        Thu đông tàng ẩn kho trời
        Hạt rơi rụng ngọc cánh rời rã hoa

        72
        Cổng làng mở cánh sao sa
        Nhã lan loáng thoáng tiếng gà xóm mai
        Lên chùa dâng dĩa hoa nhài
        Chợt viền trăng lạnh trên hài tổ sư

        73
        Chuông ngân chiều lặng trầm tư
        Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
        Điệu về tay giấu chùm bông
        Gót chân đất phật trổ hồng hằng sa

        74
        Bóng trăng tịch mặc hiên nhà
        Thành đàn nẩy hạt tỳ bà quyện hương
        Gió thu từ độ tha phương
        Về trên hốc gỗ bên đường lặng im

        75
        Áo em vạt tím ngàn sim
        Nửa nao nức gọi nửa im lặng chờ
        Yêu nhau từ độ bao giờ
        Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay

        76
        Tình cờ như núi gặp mây
        Như sương đậu cánh hoa gầy tiêu dao
        Tỉnh ra thì giấc chim bao
        Chuyện mười năm cũ lại nao nao lòng

        77
        Cành sen lá chĩu sương trong
        Áo ni xám vạt trời hong buồn về
        Tay nào nghiêng nón thơ che
        Tay nào lần chuỗi bồ đề xanh xao

        78
        Đôi mày là phượng cất cao
        Đôi môi chín ửng khoé đào rừng mơ
        Tiếng nàng vỡ bạc thành thơ
        Tụng dòng kinh tuệ trên tờ khói mây

        79
        Tóc em rừng ngát hương say
        Tay em dài nụ hoa lay dáng ngà
        Mắt xanh bản nguyện di đà
        Bước trầm hương nhẹ lẫn tà dương chim

        80
        Mắt nàng ru chiếc nôi êm
        Ru hồn tôi ngủ ngàn đêm tuyệt vời
        Em là hoa hiện dáng người
        Tôi là cánh bướm cung trời về say

        81
        Một đêm nằm ngủ trong mây
        Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời
        Cây bưởi trắng ngát hương đời
        Nụ là tay phật chỉ người qua sông

        82
        Non xanh khoác áo sương hồng
        Con chim điểm tuyết ngoài đồng vụt bay
        Tiếng kêu lạnh buốt lòng tay
        Ngón buông lại chợt tuôn đầy lòng hoa

        83
        Em bên cửa chuốt tay ngà
        Cội lan đông mặc nở qua mấy nhành
        Ngày em ướp áo hồ xanh
        Con uyên tha thiết trên cành gọi thu

        84
        Ni về khép cửa chùa tu
        Sớm mai mở cổng quét thu vườn hồng
        Thu vương ngọn chổi đôi bông
        Thoảng dâng hương lạ bướm vòng cánh duyên

        85
        Sư lên chót đỉnh rừng thiền
        Trong tim chợt thắp một viền tà dương
        Ngón tay nở nụ đào hương
        Cầm nghiêng tịnh độ một phương diệu vời

        86
        Một dòng hoa nổi trên trời
        Một dòng hoa nở trong người trầm tư
        Cánh nào mở cõi không hư
        Phiến băng tuyết khảm một tờ kim cang

        87
        Thư em ướp nụ lan vàng
        Lời em gió núi chiên đàn thoảng xa
        Áo em phất cõi di đà
        Ngón chân em nở cánh hoa đại từ

        88
        Chênh vênh đầu trượng thiền sư
        Cửa non khép ải sương mù bóng ai
        Non xanh ướm hỏi trang đài
        Trăm năm còn lại dấu hài động hoa

        89
        Ngày xưa bên dậu vàng hoa
        Chiều chiều kê chõng nằm ra ngó trời
        Năm sau em bỏ đi rồi
        Ta về ngồi lắng mưa rơi giậu buồn

        90
        Trên nền gạch nẻ rêu phong
        Xưa phơi nhã điệu giờ hong đóa quì
        Trẻ đào bãi cỏ xanh rì
        Được thanh kiếm quỉ bao kỳ thu han

        91
        Non đem nhạn nhốt trong thành
        Cho sông chưa trở yếm xanh dưới cầu
        Người còn dệt lụa tằm dâu
        Đêm nghe mưa rụng thiên thâu ngoài giàn

        92
        Núi nghiêng suối vắt tơ đàn
        Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa
        Nghiêng bình trà nhớ hương xưa
        Từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa

        93
        Sáng nghe lan rụng mái nhà
        Chừng như mưa nhẹ núi xa mùa này
        Đường về mù mịt ngàn mây
        Về nam đôi cánh chim bay xạc xào

        94
        Mây dù chẳng chất non cao
        Đường về dù chẳng sông đào nông sâu
        Đêm đêm lòng dục nẻo sầu
        Thềm trăng ngỡ tưởng hoa cau rụng thầm

        95
        Nhớ cha giọt lệ khôn cầm
        Dưới trăng lấp lánh như trâm vân quỳnh
        Nghiêng ly mình cạn bóng mình
        Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay

        96
        Gối tay nệm cỏ nằm say
        Gõ vào đá tụng một vài biển kinh
        Mai sau trời đất thái bình
        Về lưng núi phượng một mình cuồng ca

        97
        Gây giàn thiên lý vàng hoa
        Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây
        Xuống đầm tát cá xâu cây
        Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim

        98
        Khách xa nhớ đến nhau tìm
        Lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà
        Hứng nước suối thết bình trà
        Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn

        99
        Vào hang núi nhập niết bàn
        Tinh anh nở đóa hoa vàng cửa khe
        Mai sau thí chủ nào nghe
        Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh

        100
        Hoa vàng ta để chờ anh
        Hiện thân ta hát trên cành tâm mai
        Trần gian chào cõi mộng này
        Sông Ngân tìm một bến ngoài hóa duyên.

        (nguồn: quangduc.com)

      • Mai
        05/09/2011 lúc 09:35

        Cám ơn em. Chị cũng rất thích bài thơ này em ạ! Nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc một cách tài tình. Chị yêu mến cả thơ và nhạc.

      • Mai
        09/09/2011 lúc 00:11

        Mời Phay Van và các bạn nghe “Đưa em tìm động hoa vàng” do Thái Thanh hát:

        và “Ngày xưa Hoàng Thị” cũng do Thái Thanh hát:

      • Mai
        10/09/2011 lúc 13:34

        Phay Van thân yêu,
        Chị rất yêu tiếng hát Thái Thanh với những bài tình ca của nhạc sĩ Phạm Duy. Nó thấm đậm vào trong tim, trong óc. Gởi cho em và các bạn nghe để nhớ lại ngày xưa. 🙂

      • hth
        10/09/2011 lúc 19:24

        PV: phục lăn như bi!

    • Mai
      04/09/2011 lúc 23:47

      Nha Trang thân mến,
      Nhân nói về chữ nghiêng, thân mời Nha Trang và các bạn nghe bài “Có nghe đời nghiêng” của Trịnh Công Sơn do Khánh Ly hát.
      http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=AoYOZOMe8U

  7. Mai
    04/09/2011 lúc 22:44

    Phay Van yêu mến,
    Bây giờ, nơi chị đang ở, các em nhỏ đã bắt đầu đi học trở lại. Đã là mùa tựu trường. Ký ức cũ chợt về. Dịu dàng. Dấu yêu. Chợt nhớ bài văn “Tôi đi học” của Thanh Tịnh, mà ngày xưa học sinh đã yêu mến và thuộc lòng trong tâm khảm. Lang thang trên web, thấy bài viết này, nên chia sẻ với em và các bạn.

    Thanh Tịnh và ngày khai trường
    ĐOÀN ÁNH DƯƠNG

    “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đương có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”…

    “Mái trường thì không dấu yêu”, không biết vì sao ý nghĩ đó đến với tôi khi chợt nghe một cô bé học trò ngang qua trường cũ thốt lên câu nói thân thuộc “mái trường mến yêu” mà không một chút cảm xúc. Câu nói ấy đã quen nhàm đến rỗng nghĩa hay thực tế giáo dục học đường ngày nay không còn là môi sinh cho những cảm nghĩ như thế nữa? Hình như, một nền giáo dục hướng tới việc đào tạo những công dân chỉnh chu, chín chắn, đầy đủ tri thức và kỹ năng sống dần thành hình, bỏ quên triết lý xây dựng nền giáo dục đào tạo những người dân tự chủ, tự nhiệm lấy tình cảm, lý trí và phận sự giữa đời. Mặc lòng, chương trình giáo dục, nhất là giáo dục văn học và nhân văn, vẫn tạo cơ hội cho người học được tiếp cận, chia sẻ và đồng cảm với những trang sách chất chứa những xúc cảm, non tơ nhưng bền bỉ, nuôi dưỡng niềm hứng thú và say mê sự học. Những trang sách đi suốt đời vẫn nhớ/ Như đám mây ngũ sắc ngủ trong đầu… Đã có những trang sách như thế, như trích đoạn Ngày tựu trường (rút từ Cổ văn học/ Humanités, trong Sách của bạn tôi/ Le Livre de mon ami) của Anatole France với các nhà văn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là những người được giáo dục bởi nền giáo dục Pháp Việt chẳng hạn. Có lẽ đây là trích đoạn văn học có ảnh hưởng lớn tới tâm hồn họ. Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng,… đặc biệt là Thanh Tịnh, đã để lại những vần thơ, trang văn ghi dấu sự ảnh hưởng ấy. Trong tác phẩm của họ, hình ảnh chú bé A.France trong ngày tựu trường luôn khơi dậy những tình cảm trong sáng, bỡ ngỡ và êm ái của tuổi thơ. Bởi hơn đâu hết, chính những thầy giáo vỡ lòng, thông qua trang hồi ký tuyệt vời ấy, đã đánh thức ở họ những xúc cảm đầu đời: niềm đam mê học hành và tình yêu văn chương nghệ thuật.

    Đã qua đi quãng thời gian ước lệ 100 năm, thời gian mà Thanh Tịnh hiện diện giữa chúng ta, văn chương ông đã và vẫn sẽ còn đọng lại trong lòng bạn đọc nhiều thế hệ, nhất là với truyện ngắn Tôi đi học, tác phẩm có lẽ là xuất sắc nhất ghi lại “những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”. “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đương có sự thay đổi lớn: hôm nay tôi đi học”… Thanh Tịnh đã bắt đầu câu chuyện về ngày đầu cắp sách đến trường bằng những câu văn miên man cảm xúc như thế. Bởi với Thanh Tịnh, “hôm nay tôi đi học” là một sự kiện trọng đại đầu tiên mà ông trải qua. Bởi ngày đầu tiên đi học là một ấn tượng khắc sâu trong tâm khảm đến mức “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc” là “lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”. Cái ý tưởng “ghi lên giấy” một kỷ niệm sâu sắc của tuổi thơ bắt đầu từ tâm trạng “nao nức” ấy.

    Thực ra, nếu chỉ có mỗi tâm trạng nao nức thì chưa chắc đã đủ đánh thức ký ức bấy lâu bị khuất phủ. Thanh Tịnh đã rất khéo léo khi đưa ra hai “đồng minh” giúp cho dòng tâm sự ấy trỗi dậy và tràn lên trang viết. Đó là cảnh vật ảm đạm cuối thu và niềm vui rụt rè của những bé em lần đầu cắp sách đến trường. Khung cảnh u ám của ngày thu hôm nay đã khiến tác giả hồi tưởng, tiếc nuối về một khung cảnh rực rỡ đã qua – “những cảm giác trong buổi sáng ấy” – “nảy nở trong lòng tôi như mấy cánh hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Và chính hình ảnh “mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đi đến trường” đã là chất xúc tác kéo gần hai cảnh huống ngỡ như rất xa nhau như thế để nảy nở hồi ức về ngày đầu đi học. Đọc đến đây, hóa ra, Thanh Tịnh không kể cho chúng ta một câu chuyện mà viết ra một tự truyện. Truyện ngắn Tôi đi học, vì thế, bị tước đi phần lớn hư cấu để thuật lại nghiêm ngắn và xúc động một kỷ niệm ấu thời. Nhưng cái tài của Thanh Tịnh, cũng là cái độc đáo của tác phẩm, là đã chọn được một bút pháp thích hợp: lời văn nhẹ nhàng, thanh thoát, trang nhã và đặc biệt tinh tế. Điều này đã làm cho câu chuyện mang hơi hướng trang nghiêm trở nên giản dị và gần gũi hơn. Vẫn có một cốt truyện xuyên suốt, vẫn có những liên tưởng trữ tình ngoại đề, nhưng cái lấn át trong truyện ngắn là cảm xúc của nhân vật và chất thơ của ngôn từ. Tất cả làm nên vẻ đẹp đằm thắm, dịu êm như là một nét phong cách đồng thời cũng là sức hút riêng có của tác phẩm Thanh Tịnh.

    Câu chuyện được kể lại trong Tôi đi học dường như rất mờ nhạt. Đó là buổi sáng đi học đầu tiên của nhân vật xưng tôi. Ghép nối lại cũng chỉ có ba tiết đoạn chính: trên đường tới trường, trên sân trường ngày khai giảng và trong lớp học. Mỗi tiết đoạn cũng không có sự kiện nào thực sự nổi bật. Thậm chí, có thể nói cả truyện được hình thành theo chiều trôi chảy của thời gian và theo chiều vận động tâm lí của nhân vật. Choán hết toàn bộ tác phẩm là các biểu hiện thuộc về tâm lý. Đầu tiên, khi phát hiện ra sự hệ trọng của việc đi học, “tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn”. Một chút ghen tị, thèm thuồng với vẻ tự tin và tinh nghịch của những bạn cùng lứa gặp trên đường đã khiến “tôi” muốn tự mình mang sách vở, bút, thước như bạn bè. Ý định tập làm người lớn vừa nhen lên đã nhanh chóng tan đi bởi lòng yêu thương và cử chỉ âu yếm của mẹ. Dự định chỉ đủ “thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi” đã khiến ngay khi hòa vào bầu không khí đông đúc của sân trường, nhận ra sự khác biệt của ngôi trường so với “những buổi trưa hè đầy vắng lặng” trước kia, “lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ”. Trong trí tưởng của đứa trẻ non tơ ấy, trường học hiện lên vừa hấp dẫn vừa đáng sợ – “vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng Hòa Ấp”. Việc nép vào mẹ cũng không thể xoa dịu được nỗi lo sợ vẩn vơ này. Nó là lí do để ngay khi “một hồi trống thúc vang dội cả lòng tôi”, Thanh Tịnh đã đặt được một câu văn rất trúng: “Cảm thấy mình chơ vơ là lúc này”. Không tìm được sự bấu víu khi quanh mình toàn là những bạn bè đang sợ sệt như vậy. Các cậu bé cảm nhận được sự trọng đại của việc đi học, muốn đi học nhưng lại sợ hãi khi tuột khỏi vòng tay chăm bẵm của cha mẹ nên “hai chân các cậu cứ dềnh dàng mãi” và toàn thân “cũng đang run run theo nhịp bước rộn ràng”. Có lẽ, nếu không có ánh mắt “hiền từ và cảm động” của thầy giáo, “bàn tay dịu dàng đẩy tới trước” của cha mẹ thì các cậu đã khóc òa lên ngay từ khi “giật mình và lúng túng” vì thầy gọi đến tên mình… Nhưng cuối cùng các cậu vẫn khóc, khóc bởi nỗi hồi hộp và ngập ngừng không thể chia sẻ. Đó là tiếng khóc cuối cùng trước khi phải rời vòng tay cha mẹ nên cũng có thể coi là tiếng khóc từ biệt tuổi ấu thơ để trở nên chững chạc, mạnh mẽ, tự tin hơn. Và trong giây phút bật lên tiếng khóc ấy, một ý tưởng mới cũng sinh thành: “Trong thời thơ ấu tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như thế này. Tôi cũng thấy làm lạ”. Chỉ là cảm giác thôi nhưng là một cảm giác rất sâu sắc không thể cắt đặt thành hình hài. Bởi đó là cảm giác của sự trưởng thành, của việc tìm lại được sự tự tin một cách chóng vánh và bất ngờ đến nỗi “không dám tin là có thật” ở những đứa trẻ đầu óc còn vô cùng ngây thơ, trong trắng.

    Có thể khẳng định thành công nổi bật của truyện ngắn là đã khắc họa được chân thực và sinh động tâm lý của đứa trẻ ngày đầu chập chững bước tới trường. Thanh Tịnh đã sống lại trong cảm xúc trong trẻo và thơ ngây của tuổi thơ, bắt lấy những sự việc có tác động mạnh mẽ nhất đến tâm lí để thể hiện lên trang giấy. Nhưng chỉ thế thôi thì chưa đủ, bằng bút lực tài hoa của mình, ông đã diễn tả thấu đáo và đẹp đẽ những rung động tế vi ấy. Có lẽ chưa ở đâu, thủ pháp so sánh lại được vận dụng triệt để như ở trong truyện ngắn Tôi đi học. Có điều ấy là do: thứ nhất, tác giả đã đặt nhân vật vào thời điểm có sự biến động đột ngột và sâu sắc về tâm lý, đang phải đi trên lằn ranh của cái đã biết và những điều không dự tưởng hết; thứ hai, chỉ bằng cách so sánh, những rung cảm thơ trẻ, tinh khôi mới có thể hiện hình một cách sáng sủa, rõ ràng. Hãy thử điểm qua một vài so sánh của Thanh Tịnh. Để làm nổi bật ấn tượng của ngày tựu trường, ông viết: “những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng”. Còn khi nhấn mạnh tính chất vô tư trong suy nghĩ bất chợt của trẻ thơ: “ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi”. Và để làm sáng rõ sự lo lắng, phân hóa trong tâm tưởng của bọn trẻ, ông dùng liên tiếp các so sánh: “Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Họ thèm vụng và ước ao thầm được như những người học trò cũ, biết lớp, biết thầy để khỏi phải rụt rè trong cảnh lạ”. Nếu không xuất hiện những so sánh ấy, người đọc khó lòng có thể hình dung và cảm nhận được hết tâm trạng của nhân vật, dù cảm xúc trong ngày tựu trường đầu tiên không phải hoàn toàn xa lạ. Vì thế, chúng ta càng phải cảm ơn Thanh Tịnh vì điều này: ông đã giúp chúng ta nói rõ (và nói hay) xúc cảm của mình trong ngày tựu trường mà nhiều khi rất mong muốn, chúng ta cũng không thể diễn đạt được.

    Có điều, thủ pháp so sánh của Thanh Tịnh không chỉ dừng lại ở cấp độ so sánh những sự vật, sự việc, tâm trạng thông thường như trên, so sánh còn là thủ pháp để xây dựng kết cấu truyện ngắn. Đó trước nhất là sự phân đôi giữa hiện tại và quá khứ làm thành tình huống của truyện. Từ trong hiện tại, tiếp xúc với cảnh vật và lòng người của hiện tại, tác giả hình dung lại quá vãng của mình. Sau nữa, trong ngày đầu đi học ấy, ở mỗi trường đoạn đến trường, tác giả lại đưa ra một ngầm ý đối sánh giữa quá khứ với hiện tại và tương lai. Trong cái tương lai được định đoạt từ giờ phút “tôi đi học”, quá khứ luôn ẩn hiện để hoặc trì níu hoặc thúc đẩy sự lựa chọn trở nên dứt khoát, quyết định trở nên sáng rõ, quyết đoán. Đó là con đường đến trường vừa quen vừa lạ, quen vì là con đường rong chơi của tuổi thơ, lạ vì là con đường ngày đầu đến trường. Đó là sân trường vừa gần gũi vừa oai nghiêm, gần gũi vì từng là nơi đi bẫy chim, lạ vì là nơi đến học chữ. Đó là bạn bè vừa lạ vừa quen, lạ vì chưa từng chơi với chúng bao giờ, quen vì chúng cùng chăm chỉ học hành như mình. Đó là cảm giác chưa bao giờ xa mẹ như lần này, bởi các lần trước chỉ là đi chơi với chúng bạn, còn lần này là tự mình đến lớp. Đó là con chim hôm nay đậu ngoài cửa sổ gọi về những kỉ niệm cũ đi bẫy chim giữa cánh đồng lúa hay bên bờ sông Viêm… Bởi tất cả đang được đặt vào bước ngoặt – như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ. Bởi “tôi” đã ý thức được rằng: “Tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quý và không ra đồng nô đùa như thằng Sơn nữa”. Bởi tiếng phấn của thầy gạch mạnh trên bảng đã đưa tôi vào cảnh thật. Bởi tôi đã tìm được niềm vui trong cảnh mới: Tôi vòng tay lên chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần: Tôi đi học…

    Phần lớn các trang viết của Thanh Tịnh đều như được dệt thành bởi lời văn nhẹ nhàng, du dương, đằm thắm và rất đỗi tinh tế. Ký ức về ngày tựu trường đã hiện lên thật non tơ trong trí tưởng của nhà văn. Ông đã ấp iu những kỷ niệm ấy suốt thời trai trẻ để giờ đây, khi đủ sức dùng ngôn ngữ diễn tả rành rọt cảm xúc của mình, mới lọc lựa chi tiết và ngôn từ để ghi lại những kỉ niệm đầu đời ấy. Ông đã hết sức thành thật khi chia sẻ: “Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết” nên tạo được tâm thế gần gũi, chân thành với bạn đọc. Chỉ có điều, khi viết truyện ngắn này, dù đã ở tuổi trưởng thành (truyện ngắn in trong tập Quê mẹ, được xuất bản năm 1941), có lẽ ông cũng không ngờ được rằng mình lại có thể sống lại những rung cảm đầu đời tinh khôi đến thế. Nói một cách khác, những cảm nhận trong trắng của tuổi thơ đã tìm được sự hô ứng với cảm xúc của lần đầu tiên nhà văn dám viết ra những hồi ức về chính những cảm nhận trong trắng ấy. Ngôn từ của truyện ngắn, vì vậy, trong trẻo và thánh thiện, vẻ đẹp của chất trữ tình như phủ bàng bạc hầu khắp tác phẩm. Cả truyện ngắn hầu như được cấu thành bởi chằng chịt những sợi tơ lòng, mà chỉ cần một xúc tiếp nhỏ, nó sẽ ngân nga trong lòng người đọc, gọi về những kỷ niệm thuở ấu thời để cùng cảm thông chia sẻ. Bởi ai cũng có một thời như thế!?

    Ấy vậy mà sự học ngày nay đã khác nhiều lắm, khác từ sự khởi đầu của nó: ngày khai trường. Chỉ cần một chút để ý, một chút lắng lại giữa dòng đời xô bồ, chúng ta sẽ thấy ngay những thay đổi như thế, và cả thái độ điềm nhiên với những thay đổi ấy nữa. Như chuyện tập khai giảng xuất hiện mấy năm nay chẳng hạn. Năm trước, tôi đã ghi lại những dòng tiếp dưới đây như là một chút suy nghĩ gợn lên trong những ngày chớm bước vào năm học mới. Gần đến 2/9, tôi tranh thủ về quê, đứa cháu con người chị gái mết cậu cứ nằng nặc rủ tôi đi tập khai giảng với nó. Dù nghe tập khai giảng thấy lạ, khó hiểu, nhưng chiều đứa cháu mới bước vào lớp một, tôi đồng ý đưa đi, cũng là để ôn lại quá vãng, cảm nhận lại những rung động ngày đầu đến lớp. Nhưng đến ngày tập thứ hai thì cu cậu oải thực sự. Hóa ra khai giảng chẳng thích như mẹ cháu nói, cu cậu phụng phịu với tôi như thế, toàn xếp hàng, tập hát, tập đứng nghiêm,… Tôi chợt giật mình, trẻ con bây giờ già dặn quá, chẳng có chút bỡ ngỡ, sợ sệt nào! Gọi cho cô bạn cũ đang là giáo viên cấp hai trường huyện rủ đi chơi, cô bạn cũng cáo lỗi bận chủ nhiệm lớp đầu cấp, học trò chưa có nề nếp nên phải hướng dẫn chúng tập khai giảng. Lại tập khai giảng, lại học trò đầu cấp không nề nếp, lại cần rèn giũa… Nghe ra tự nhiên thấy hoang mang. Sao lại phải tập khai giảng nhỉ? Chúng ta cần dạy học sinh nề nếp ngay từ ngày đầu đến trường hơn hay ngày đầu cần tạo cho chúng xúc cảm yêu mến việc học hơn? Càng ngẫm kỹ lại càng thấy cái sự tập khai giảng thật là kỳ dị, vô lối. Nó giết những xúc cảm bồng bột của đứa trẻ mới chập chững vào đời.

    Cái gì đã khiến người ta nghĩ ra việc tập khai giảng? Phải chăng là vì ý thức thấy ý nghĩa trang trọng, cần thiết của buổi khai giảng đối với việc học tập của học sinh; vai trò của nó với việc học hành suốt năm của cả một trường, nếu buổi lễ khai giảng tốt đẹp thì nó sẽ gieo vào lòng học trò ấn tượng tốt đẹp theo suốt quá trình đi học? Có thể đấy là một lý do chính đáng? Bởi buổi lễ khai giảng thực sự có tác động rất lớn đến tâm lý và tình cảm của học sinh, đặc biệt là học sinh đầu cấp (lớp 1, lớp 6, lớp 10) bởi đấy là ngày đầu tiên chúng tiếp xúc với môi trường học tập mới mẻ. Ngày khai giảng là ngày mà những tâm hồn non nớt thơ ngây kia sẽ nẩy những rung động tinh khôi với một ngôi trường hoàn toàn mới mẻ đối với chúng. Cái cảm xúc trong trắng, bồng bột, phi vụ lợi có thể sẽ theo suốt cuộc đời đứa trẻ.

    Ai cũng đồng ý là buổi lễ khai giảng có ý nghĩa. Ai cũng biết những năm gần đây học sinh phải đi học từ trước ngày khai giảng. Phải chăng vì thế mà người ta nghĩ việc tập khai giảng cũng không có gì là phi lí. Thực sự đã có tới hai lần sai lầm ở chỗ này: thứ nhất, việc học trước lễ khai giảng đã đánh mất của học trò cái lễ hội lớn nhất tôn vinh sự học; thứ hai, buộc phải tạo thành “nề nếp” trong ngày khai giảng sẽ giết chết nốt những rung động trong trắng, phi áp đặt (bởi đã áp đặt “nề nếp” thì còn lấy đâu ra khoảng không cho cảm xúc thăng hoa). Vậy là, tập khai giảng đã phá hủy hoàn toàn những xúc cảm với việc học, niềm say mê hứng thú một cách tự nhiên với việc đến trường, biến việc đến trường thành một trách nhiệm, một nghĩa vụ với những tâm hồn non nớt.

    Trở lại Hà Nội vào dịp thu về, tự nhiên thấy cảm hoài, tự nhiên thấy lòng dâng nên nỗi buồn tủi theo từng nhịp trống báo ngày tựu trường rộn rã từ mấy ngày trước lễ khai giảng. Rồi đây trẻ em Việt Nam sẽ còn ai viết được những trang văn thấm đượm như của Thanh Tịnh. Hà Nội mấy hôm nay cũng đầy sương thu và gió heo heo lạnh, nhưng sẽ có cô cậu học trò nào sau mấy lần tập tựu trường sẽ có được ấn tượng khắc sâu trong tâm khảm đến mức sau này phải thốt lên: “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường”; và rồi viết thành những dòng, kiểu như: “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đương có sự thay đổi lớn: mấy ngày nay tôi đều đi tập khai giảng…”. Tôi không được sống trong bối cảnh giáo dục bởi các trường Pháp Việt hồi Thanh Tịnh đi học nhưng đọc văn ông tôi vẫn thấy rung cảm. Tôi cũng không biết được lý do gì đã khiến một lứa các nhà văn trước cách mạng lại có ấn tượng sâu đậm đến thế về những trang văn ngày khai trường, những Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Huy Tưởng,… Hay bởi các nhà văn này từ buổi học vỡ lòng đã được chia sẻ cảm xúc tuyệt vời về ngày tựu trường của A.France, qua những trang văn mà đến tận bây giờ, hình ảnh và nhạc điệu cảm xúc của nó, vẫn không thôi gieo vào lòng người đọc những xúc cảm tinh khôi: “Tôi xin kể cho các bạn nghe những gì hàng năm, cái cảnh trời thu mây vần, những bữa ăn tối đầu tiên dưới ngọn đèn và những chiếc lá úa vàng trong những lùm cây rún rẩy nhắc tôi nhớ lại; tôi xin kể các bạn nghe những gì tôi trông thấy lúc đi qua vườn Luxemburg vào những ngày đầu tháng mười, khu vườn có vẻ đìu hiu và đẹp hơn bao giờ hết; vì đấy là thời lá rơi từng chiếc, từng chiếc trên vai trắng ngần của các pho tượng. Cái mà lúc bấy giờ tôi nhìn thấy trong khu vườn, đó là một chú bé, tay đút túi, cặp sách trên lưng, trên đường đi tới trường, nhảy nhót như một con chim sẻ. Chỉ tâm tư tôi nhìn thấy chú, vì chú bé ấy là cái bóng, cái bóng của tôi hai mươi lăm năm về trước”…

    Đọc những trang văn về ngày tựu trường như thế, lại liên tưởng đến việc giảng dạy môn ngữ văn hôm nay. Trên tất cả các diễn đàn, người ta cứ tranh cãi suốt về phương pháp giảng dạy, đòi đổi mới phương pháp, đổi mới kiểm tra đánh giá nhưng có một điều đầu tiên tối quan trọng lại không ai để ý: mục đích của việc dạy văn chương là gì? Nếu là lấy kiến thức sống và phát triển trí tuệ duy lý (IQ) thì nên thúc đẩy việc thi trắc nghiệm nhưng nếu để lấy thái độ sống và phát triển trí tuệ xúc cảm (EQ) thì việc đẩy cao thi trắc nghiệm là vô cùng vô lối. Dạy văn là dạy cho trẻ làm người, cách thế làm người, đặc biệt là xúc cảm người của trẻ. Vậy mà buồn thay… Càng nhìn rộng ra các môn khác càng thấy buồn thay… Thiếu một triết lý giáo dục đúng đắn, thiếu một sự suy nghĩ chín chắn và có trách nhiệm đối với giáo dục, người ta dễ dàng đẻ ra những việc phi lý như tập khai giảng, mà tự sâu trong bản chất, là tập quen… xúc cảm.

    Một trăm năm đã trôi qua, chắc Thanh Tịnh có giàu tưởng tượng đến mấy cũng khó có thể hình dung được sự học bây giờ. Tất nhiên là xã hội đi lên, và không hẳn mọi cạnh khía của giáo dục hiện nay đều cần phải đem ra chất vấn. Nhưng rõ ràng, sự thực dụng trong cách thức xây dựng nền giáo dục là điều cần phải chất vấn. Bởi đó là nguyên nhân không nhỏ hạn chế sự phát triển tự chủ của người học. Thanh Tịnh học chữ Nho ở nhà từ trước, 11 tuổi mới bước chân vào hệ thống giáo dục quốc gia, 10 năm sau, ở tuổi 21, tập truyện ngắn Quê mẹ của ông ra đời, có những trang văn Tôi đi học mà chương trình Ngữ văn 8 hiện nay trích giảng. Xét về mặt tâm lý cá nhân, có thể cái lứa tuổi đến trường, 11 của Thanh Tịnh và 6,7 của trẻ em hiện nay, làm cho những cảm nhận đầu đời có thể vênh lệch. Nhưng lứa tuổi trên mười của Thanh Tịnh tiếp nhận Ngày tựu trường của Anatole France với lứa tuổi trên mười tiếp nhận Tôi đi học của Thanh Tịnh của học sinh hôm nay là không mấy cách biệt. Văn chương có những sức mạnh kỳ lạ ở chính chỗ đó, nó bất tòng thuộc thời gian. Khoảng cách khiến những rung cảm chân thành và sâu sắc với việc học giờ còn lại là sự khác biệt giữa hai thời đại và giữa những triết lý giáo dục. Xã hội thay đổi có thể khiến lòng người thay đổi, nhưng tự sâu trong tiềm thức, bản chất của sự truyền dạy là nối tiếp cái truyền thống đẹp đẽ đã được thế hệ trước sinh thành. Vì vậy, tìm ra một triết lý giáo dục đúng đắn, chúng ta sẽ không chỉ lấp dần các khoảng cách mà còn giúp người học có cơ hội được vượt lên nhờ những tích lũy của thế hệ trước, mà trước hết, là trả lại cho giáo dục văn học bản chất khơi gợi những rung động thẩm mỹ và nhân sinh vốn có. Và như thế, tự nó, giáo dục văn học sẽ duy trì sức sống của văn chương, như cái cách mà Ngày tựu trường của A.France và Tôi đi học của Thanh Tịnh đã có và còn có, trong tâm hồn bạn đọc bao thế hệ.

    Đoàn Ánh Dương
    (Tháng 09-2011)
    Nguồn: Tạp chí Sông Hương

  1. No trackbacks yet.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: